Lê Duy Đoàn

 

 GIAI PHẨM XUÂN 2018

QUỐC HỌC HUẾ - TÌNH YÊU

 

 

Trần Gia Phụng

CÓ PHẢI NHÂM DIÊN DẠY DÂN VIỆT CÀY CẤY

 

1. SỬ LIỆU XƯA:

Hậu Hán Thư là sách do Phan Diệp hay Phan Việp (Fan Ye) (394-445) viết vào đời Hậu Hán bên Trung Hoa, trong đó có nhiều đoạn về lịch sử cổ Việt. Theo Hậu Hán Thư: “Tục Cửu Chân làm nghề săn bắn chứ không biết dùng ḅ để cày. Dân thường phải mua lúa Giao Chỉ mỗi lần bị thiếu thốn. (Nhâm) Diên bèn truyền đúc các thứ điền khí dạy cho họ khẩn ruộng, ruộng đất trù mật, mỗi năm một rộng thêm, trăm họ được đầy đủ. (Nguyễn Phương trích dịch-Việt Nam thời khai sinh. Huế. Pḥng nghiên cứu Sử. Viện Đại học. 1965. tr 186-187). Cửu Chân-châu thổ sông Mă, cùng với Giao Chỉ-châu thổ sông Hồng là địa bàn sinh sống của người Việt cổ.

Nhâm Diên, người huyện Uyển, thuộc Nam Dương (Trung Hoa) làm thái thú Cửu Chân, từ năm Ất Dậu (25) đến năm Kỷ Sửu (29) th́ được gọi về Trung Hoa. Ông được các bộ cổ sử của Trung Hoa ca tụng là người đă dạy cho dân Việt biết cách dùng lưỡi cày bằng kim loại (điền khí) để cày ruộng.

Dựa vào Hậu Hán Thư, các sách xưa của người Việt đều viết gần như trên. Đại Việt sử kư toàn thư của Ngô Sĩ Liên viết vào thế kỷ 15 tŕnh bày sự kiện Nhâm Diên như sau: “Diên là người Uyển. Tục người Cửu Chân chỉ làm nghề đánh cá, đi săn, không biết cày cấy. Diên mới dạy dân khai khẩn ruộng đất, hàng năm cày trồng, trăm họ no đủ” (bản dịch của NXB KHXH Hà Nội 1993, tập 1, tr 155)

Khâm định Việt sử thông giám cương mục, đầu thế kỷ 19, viết tương tự như thế (Tiền biên, quyển thứ 2)

Cho đến đầu thế kỷ 20, Trần Trọng Kim cũng nói rằng: “Bấy giờ, bên quận ấy chỉ làm nghề chài lưới và săn bắn chứ không biết cày cấy làm ruộng nương. Nhâm Diên mới dạy dân chúng cày bừa mà khai khẩn ruộng đất. Bởi vậy, chẳng bao lâu mà quận ấy có đủ thóc gạo ăn”. (Trần Trọng Kim. Việt Nam Sử lược. Sài G̣n, NXB Tân Việt, in lần thứ 7, 1964, trang 46)

Những sử liệu này đều xuất phát từ sử liệu của Trung Hoa, hay nói cụ thể là từ sách Hậu Hán Thư. Mục đích của Hậu Hán thư nhằm ngụy tạo công khai hóa của người Trung Hoa đối với người Việt, trong khi thực tế hoàn toàn trái ngược v́ một việc rất đơn giản.

Ruộng lúa ở Việt Nam chúng ta là ruộng lúa nước tức lúa gạo, trong khi ruộng lúa ở vùng châu thổ Hoàng Hà (Trung Hoa) nơi quần tụ của người Hán, là ruộng lúa khô trồng lúa ḿ, lúa mạch và kê.

Ngay cả tài liệu cổ sử Trung Hoa cũng xác định ruộng lúa Việt cổ là ruộng lúa nước.

Theo sách Giao Châu ngoại vực kư, viết khoảng giữa đời Tần (265-420)-Trung Hoa th́: “Hồi xưa, chưa có quận huyện th́ Lạc điền tùy theo thủy triều lên xuống mà cày cấy. Người cày ruộng ấy gọi là Lạc dân. Người cai quản dân gọi là Lạc Vương, người phó là Lạc Tướng đều có ấn bằng đồng và dải sắc xanh làm huy hiệu (Lê Tắc, An Nam chỉ lược (chữ Nho). Ủy ban phiên dịch sử liệu VN, Viện Đại học Huế, 1961, tr 39).

Tùy theo thủy triều lên xuống mà cày cấy là ruộng lúa nước. Trong khi đó, người Trung Hoa xưa ở vùng Hoàng Hà trồng lúa ḿ, lúa mạch trên ruộng khô làm sao giỏi kỹ thuật trồng lúa gạo ở ruộng nước hơn người Việt mà dạy người Việt?!

 

2. SỬ LIỆU NGÀY NAY:

Ngày nay, kết quả khảo cứu của các học giả Hoa Kỳ, Nga, Trung Hoa và cả Việt Nam đều xác nhận rằng trung tâm đầu tiên của nền văn minh lúa nước trên thế giới là Đông Nam Á, rồi từ đó lan truyền đi khắp thế giới. Cũng theo các tác giả trên, tâm điểm của trung tâm văn minh lúa nước ở Đông Nam Á chính là khu vực Ḥa B́nh ở Bắc Việt Nam (Trần Ngọc Thêm-Về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB TP HCM, 1997, tr 75-86). Ḥa B́nh nằm trên vùng uốn khúc của sông Đà đổ về sông Hồng, gần huyện Mê Linh (Phú Thọ, Vĩnh Phúc) thuộc quận Giao Chỉ thời Việt cổ, nơi phát tích của Hai Bà Trưng.

Trong sách Ancient China (1967) tác giả Edward H. Schafer viết rằng: “Thuật trồng lúa gạo và thuần hóa gia súc chắc chắn Trung Hoa đă tiếp thu từ các sắc dân tầm thường ở miền nam xa xôi hẻo lánh (mà họ gọi là Nam man) (Nguyên văn: The art of cultivating rice and domesticating cattle were doubtless adopted from the despised races of the remotesouth”) (E. H Schafer, Ancient China, New York Time-Life books.1967. tr 16)

Cũng theo tài liệu này, Khổng Tử (551-479 TCN) chưa ăn cơm và sống chủ yếu bằng loại bánh làm bằng kê” (Confucius have subsisted chiefly on millet cakes”. Khổng Tử cũng chưa biết uống trà (Confucius never tasted tea...) v́ gạo và trà đều xuất phát từ phương nam (sách đă dẫn, tr 16, 37, 38).

Một tác giả khác, Stephen Oppenheimer, trong sách Eden in the East (1998) nói rơ hơn: “Ngày nay chúng ta có một h́nh ảnh mới kỳ lạ. Thay v́ người Trung Hoa phát kiến việc trồng lúa, chúng ta lại thấy rằng người “Nam man” nói tiếng Nam Á từ Đông Dương đă dạy cho người Trung Hoa biết thế nào về lúa gạo”. (Nguyên văn: “We now have a new strange image, instead of the sinocentric model with chinese inventing rice cultivating, we have Austr-Asiaticspeaking “Southern Barbarians” from Indo-Chine teaching the know-how-about rice to the Chinese(Stephen Oppenheimer, Eden in the East, London, NXB Weiden- fend and Nicoson, 1998, tr 71)

Những tài liệu c̣n phát hiện rằng tại vùng Mê Linh (Vĩnh Phúc, Phú Thọ ngày nay) - quận Giao Chỉ, châu thổ Hồng Hà - người ta đă t́m thấy những bộ xương trâu đă có mặt tại đây khoảng 2000 năm trước công nguyên (TCN) và 2 lưỡi cày bằng đồng theo mô thức Đông Sơn (TK 5 TCN đến TK1 SCN) dùng cho trâu cày. (Keith Weller Taylor, The birth of Vietnam, University of California Press, 1993, tr 35)

Những tài liệu này cho thấy dân Lạc Việt đă biết làm ruộng lúa nước và đă biết sử dụng điền khí bằng đồng trước khi bị người Trung Hoa qua xâm lăng. Lúc đó, dân Lạc Việt dùng lưỡi cày bằng đồng v́ chế tác đồ đồng là nghề luyện kim nổi tiếng của dân Lạc Việt (như trống đồng). Lúc đó đồ sắt bị bà Lữ Hậu nhà Hán ra lệnh cấm xuất cảng sang phía Nam Trung Hoa từ năm 183 TCN. (Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, bản dịch tập 1, NXB Giáo dục Hà Nội. 1998, tr 92)

Như thế, rơ ràng Nhâm Diên không phải là người khai tâm dạy dỗ dân Việt dùng điền khí để cày cấy như Hậu Hán thư đă viết và các bộ sử khác chép theo. Người Việt cổ đă biết sử dụng điền khí trước khi Nhâm Diên qua cai trị Cửu Chân.

Phải chăng Nhâm Diên, thái thú Cửu Chân, đến vùng châu thổ sông Mă- nơi có trung tâm trống đồng Đông Sơn (Thanh Hóa) chứng kiến người địa phương cày cấy bằng lưỡi cày bằng đồng rồi báo cáo láo như trên để lập công với triều đ́nh Trung Hoa?!

Trước khi kết thúc câu chuyện, xin mọi người lưu ư một kinh nghiệm rất tầm thường, tầm thường đến nỗi chúng ta quên để ư.

Trong các tuồng tích cổ xưa hay truyện kiếm hiệp Trung Hoa, nói nôm na là truyện Tàu, chúng ta đă đọc hay xem, hầu như ít có hoặc không có cảnh ăn cơm. Lư do đơn giản như tŕnh bày ở trên, ngày xưa người Tàu không trồng lúa gạo, không có gạo để ăn mà chỉ có trồng lúa ḿ, lúa mạch và kê mà thôi. Về sau, người Tàu mới học được cách trồng lúa gạo từ phương Nam.

Trong truyện Thủy Hử chẳng hạn, các hảo hán Lương Sơn Bạc thường vào tửu quán, gọi vài cân thịt, vài cân rượu và thêm bánh bao chứ không ai gọi vài thố cơm (bánh bao làm bằng bột ḿ nhân thịt). Có đoạn mô tả một tửu điếm chuyên bắt cóc khách trọ lấy thịt làm nhân bánh bao.

Ví dụ đơn giản này đủ cho thấy thời xa xưa, người Tàu ở vùng Hoàng Hà chưa biết trồng lúa gạo và không dính líu ǵ đến việc trồng lúa gạo của người Việt. V́ vậy, không thể có chuyện người Tàu dạy người Việt trồng lúa gạo. Câu chuyện người Tàu dạy người Việt trồng lúa gạo là chuyện không có thật, nhằm mục đích xấu xa là làm người ta lầm tưởng người Tàu có công khai hóa dân Việt mà thôi.

Người Việt tự khám phá cách trồng lúa gạo, cung ứng thực phẩm cho chính ḿnh và người Tàu học tập canh tác rồi trồng lúa ở nước họ.

Rơ ràng là như thế.

Trần Gia Phụng
(Toronto, Canada)

 

chân trần

art2all.net