Lê Duy Đoàn

 

 GIAI PHẨM XUÂN 2018

QUỐC HỌC HUẾ - TÌNH YÊU

 

 

Nguyễn văn Bổn

NHỚ NHỮNG NĂM THÁNG QUỐC HỌC

 

                    Quăng đời đi học của tôi là những năm tháng thật khác biệt nhau, với rất nhiều h́nh ảnh kỷ niệm ngược chiều, mà bây giờ nhớ lại, tôi vẫn không phải biết gọi những năm tháng ấy bằng cái tên ǵ - nếu có thể đặt tên - cho xứng hợp. Nếu những năm tháng ở trường nam Tiểu học Hội An là những tháng ngày thơ mộng thần tiên, mà tôi là một đứa con được thương yêu và sống đầy đủ trong gia đ́nh, là một đứa bé hiếu động, hoạt bát, sớm biểu lộ năng khiếu văn chương trong học tập, th́ những năm Đệ nhất cấp ở trường Trần Quư Cáp lại là những năm tháng phát triển thể chất và tâm hồn, say mê thể thao và tham gia mọi hoạt động văn nghệ, từ ca hát, đóng kịch, cho đến làm báo; đồng thời bắt đầu biết buồn, sớm phải ưu tư khi chứng kiến sự sa sút, khánh tận của gia đ́nh. Tám năm ấy như chia ra thành hai quăng đời riêng, khác nhau đến không ngờ. Nhưng, sự khác biệt lớn nhất đă đến với tôi vào những năm tôi rời nhà ra đi, đến Huế để xin vào học ở trường Quốc Học.

Không có lấy một người quen, chưa hề đặt chân tới Huế, tôi rời gia đ́nh ở Hội An ra đi với một chiếc xe đạp và một chiếc va ly nhỏ. Mẹ tôi th́ chỉ có thể cho tôi đúng 700 đồng. Với số tiền ấy, tôi chỉ có thể trả tiền cơm hơn một tháng, nếu hoàn toàn không mua sắm, tiêu pha vào một khoản nào khác. Mẹ tôi đă rơm rớm nước mắt, nói với tôi trong buổi sáng tôi ra đi: “Má chỉ có thể cho con chừng này thôi. Con làm sao mà sống và học được ở một nơi xa lạ?”. Và tôi đă rời gia đ́nh ra đi như thế, vào lúc ba tôi không có mặt ở nhà, khi tôi chỉ mới vừa qua tuổi 16, hoàn toàn tự tin nhưng cũng không ít ngậm ngùi v́ cảnh nhà của ḿnh. Thôi, đừng nhớ tiếc những năm tháng sung sướng thuở nhỏ làm ǵ nữa. Từ khi ba tôi có vợ bé, gia đ́nh tôi sa sút, và cho tới lúc tôi ra đi, đă hoàn toàn khánh tận. Phải ở nhà thuê, cả hai chiếc ô tô, một chiếc Citroen đi chơi và một chiếc Renault chạy khách đường Hội An - Đà Nẵng đă phải bán đi; bán đi cả những vật dụng đắt tiền, những đồ gỗ quư trong nhà, mỗi ngày một món, cho tới khi chẳng c̣n ǵ để bán nữa. Tôi đă có lần thấy mẹ tôi ngồi ở chân giường, trong bóng tối chập choạng của buổi chiều tàn, khóc lặng lẽ một ḿnh. Và h́nh ảnh buồn thảm ấy, tiếng khóc nghẹn ngào ấy cứ đeo đẳng theo tôi suốt đời.

Đến bến xe An Cựu, tôi đạp xe theo một bác xích lô chở chiếc valy thiếc của tôi. Cầu Trường Tiền có hai dăy đường băng dành cho người đi bộ và đi xe đạp ở hai bên. Ngơ ngác như một chú Mán về thành, tôi đạp xe theo bác xích lô đi giữa ḷng cầu. Cảnh sát ở đầu cầu thổi c̣i inh ỏi, tôi cũng chẳng hề biết tại sao. Và tôi đă lần ṃ hỏi đường, t́m đến trường Quốc Học, tự nạp đơn xin vào lớp Đệ Tam Ban C với cái vẻ ngơ ngác như vậy. Phải chờ đến 14 ngày, tôi mới thấy tên trên bảng thông báo gọi vào học, khi ngày khai trường qua đi đă gần hai tuần lễ. Ở tạm nhà một bà cụ người Trung Hoa tại đường Chi Lăng (Gia Hội), vốn là chỗ quen biết với gia đ́nh tôi từ trước, trong những ngày chờ đợi được xét đơn xin nhập học, tôi đă đạp xe đi gơ cửa nhiều nhà, xin một chỗ dạy kèm. Ở Huế lúc bấy giờ, các gia đ́nh công chức thường hay mướn gia sư. Nhưng ai thèm đi mướn một cậu bé mới ngấp nghé vào lớp 10, lại là lớp 10 ban Văn chương, vốn hay dốt Toán. Tôi đă có nửa tháng hoài công. Vừa thất vọng, vừa lo sợ cho những ngày trước mắt, không biết làm sao để có thể có cơm ăn, chứ chưa nói sẽ học hành như thế nào.

Được vào lớp Đệ Tam C Quốc Học, việc đầu tiên của tôi là t́m làm quen với lớp trưởng. Và câu chuyện đầu tiên mà tôi nói với người lớp trưởng có vẻ lớn hơn tôi, trông chững chạc, đạo mạo ấy, là nhờ anh xem có nơi nào nhận dạy kèm, kiếm giúp cho tôi một chỗ. Thật may, Phan Văn Uân, anh lớp trưởng cũng là người không sống với cha mẹ, anh ăn uống ở nhà một bà cô, dạy con của bà, và được dành cho căn gác ở một ngôi nhà khác, mà phần dưới được cho một đôi vợ chồng trẻ thuê, và điều quan trọng là anh cũng chuyên đi dạy kèm. Chưa đầy nửa tháng sau, tôi đă có chỗ nhận cho làm gia sư, qua giới thiệu của Uân. Gia đ́nh thuê tôi ở tận xă Thủy An, từ chợ An Cựu đi dọc theo bờ Bắc sông An Cựu về đến đó ít ra cũng phải hơn ba cây số. Đường đi bùn lầy lội, tuy xa trường, nhưng đối với một cậu bé bơ vơ như tôi, có được chỗ ở, có cơm ăn đi học đă là may mắn lắm rồi, đâu có quyền lựa chọn. Gia đ́nh bác Vĩnh làm bún, và cả hai vợ chồng bác là những người nhân hậu mà tôi đă may mắn được gặp trong đời. Chỉ có mỗi một điều e ngại, cậu học tṛ của tôi đă cao ngang tầm tôi, và đă học lớp Đệ Ngũ (lớp 8), với chương tŕnh Toán đầy những bài Quỹ tích. E ngại, v́ tôi vốn là đứa dốt Toán nhất trần đời. Nhưng đă bảo là tôi không c̣n có quyền chọn lựa. Thế là từ đó, mỗi khi dạy môn Toán, giải bài Toán, tôi đều đi học trước với các bạn cùng lớp, cùng trường, học thuộc ḷng, rồi về giải lại cho cậu em học tṛ.

Có cơm ăn rồi, nhưng c̣n tiền mua sắm sách vở, và những khoản tiêu vặt khác th́ biết t́m đâu? Tôi đă nghĩ ra một cách, tuy chẳng kiếm được nhiều tiền, nhưng chắt chiu được đồng nào hay đồng ấy. Tôi lần lượt đi xin khắp bạn bè những tập vở đă dùng rồi, hoặc giấy lộn đă bỏ đi, rồi lặng lẽ đem ra chợ Đông Ba bán kư lô. Có một lần, đang đứng bán giấy vụn như vậy, một o bán đồ gia vị đă gọi tôi lại, dặn tôi hăy về dán những b́ giấy nhỏ, đem ra o sẽ mua giúp cho, hoặc o sẽ bán hộ cho tôi. Thế là tôi đă âm thầm làm cái nghề dán bao b́, đă có “khách hàng”, đă kiếm được khá nhiều tiền hơn là chỉ bán giấy vụn. Tôi tuyệt đối giấu kín các bạn cùng lớp, cả với Uân và Đăng, là hai người bạn thân tôi cũng ngậm hạt thị. Các Thầy, Cô đáng kính của tôi, một ngày nào đó nếu có sử dụng những bao giấy nhỏ đựng ớt bột, tiêu, hành, có bao giờ biết được rằng đó là những bao b́ do một đứa học tṛ nhỏ tội nghiệp của ḿnh lén lút ngồi dán trong những đêm khuya? Năm Đệ Tam C, năm học đầu tiên xa nhà của tôi, đă trôi qua như thế.

Chính trong năm học này, tôi đă bắt đầu có những bài thơ đăng trên Tiểu thuyết Tuần san, Bách Khoa, và những truyện ngắn đăng trên Phổ Thông. Về sau th́ gần như báo nào cũng có thơ tôi, kể cả những tờ khó chen chân như Tân Phong. Tôi c̣n nhớ, vào giữa tháng 5.1963, tạp chí Bách Khoa đăng liền trong hai số hai bài thơ của tôi. Ṭa soạn tạp chí gửi báo biếu và 200 đồng nhuận bút cho tôi. Đang học lớp 10, chưa tới tuổi làm căn cước, tôi phải đưa tấm bưu phiếu đến Pḥng Giám học để nhờ kư xác nhận. Thầy Văn Đ́nh Hy - người đă thương hoàn cảnh tôi mà nhận cho tôi vào Quốc Học sau khi xem xét rất kỹ học bạ của tôi - đă từ tốn hỏi “Ai mà gởi cho con có 200 đồng, làm sao đủ ăn một tháng? (Ăn cơm tháng b́nh dân vào lúc ấy ít nhất phải 400 đồng). Tôi thưa là tiền của báo Bách Khoa gửi. Thầy hỏi lại, vẻ không tin: “Mày làm ǵ mà Bách Khoa gởi tiền?” - “Dạ con được đăng thơ trên Bách Khoa”. Thầy tỏ ra ngạc nhiên, hỏi lại cặn kẽ bút danh của tôi, số báo tôi có thơ đăng, rồi xoa đầu tôi âu yếm: “Khá lắm! Cố học nghe con!”. Và cũng từ đó, mặc dù nổi tiếng nghiêm khắc, thầy Văn Đ́nh Hy đặc biệt thương mến tôi. Bây giờ nhớ lại, tôi vẫn c̣n như thấy rơ h́nh bóng của thầy, và trong ḷng tôi vẫn dạt dào một t́nh cảm biết ơn vô hạn. Lúc ấy, hẳn Thầy cũng không thể ngờ rằng những đồng bạc nhỏ bé ấy đă cứu vớt tôi, đă là chiếc cầu bắc cho tôi vào đời, giúp tôi tự tin hơn, và thấy rằng cuộc đời dẫu có cay nghiệt bao nhiêu cũng thật là đáng sống.

Lên lớp Đệ Nhị, tôi không thể tiếp tục ở nhà bác Vĩnh được nữa. Tuy hai bác vẫn thương tôi, sẵn sàng tiếp nhận tôi, nhưng tôi không dám ở lại nữa, v́ tôi đâu có đủ khả năng để dạy Toán cho học tṛ của ḿnh. Lại Phan Văn Uân giúp tôi có chỗ dạy kèm trong một gia đ́nh ở Vỹ Dạ. Chính khi sống ở Thủy An, tôi đă trở nên thân thiết với Trương Đ́nh Đăng, bạn học cùng lớp, có hoàn cảnh gia đ́nh khá giống tôi, cũng dạy kèm trong một gia đ́nh gần nơi tôi trọ. Uân, Đăng và tôi trở thành ba người bạn thân, t́nh bạn không đổi dời từ những năm tháng thơ trẻ ấy cho tới tận bây giờ. Trong lớp, tôi c̣n có một người bạn khá thân, nhất là những năm về sau, tuy hồi ấy th́ anh thuộc “tầng lớp trên”, nghĩa là sống sung túc hơn một cậu học tṛ xa quê, nghèo khó như tôi, đó là Phan Văn Chạy. Trong lớp, tôi không bao giờ nhường cho ai làm sơ-mi môn Văn, nhưng luôn luôn chỉ đứng thứ ba khi tổng kết điểm cuối năm, sau Chạy và Uân. Cả hai vừa thông minh lại vừa học chăm và giỏi đều các môn, kể cả những môn phụ đối với học sinh Ban C, như Toán, Lư, Hóa, Vạn vật.

Ông chủ nhà tôi ở dạy kèm tại Vỹ Dạ là một người hiền lành, chỉ biết chơi chim, nhưng bà chủ nhà th́ vô cùng cay nghiệt. Những buổi trưa, tôi được ngồi ăn với cha con chủ nhà; trong đó, có hai cô gái nhỏ học tṛ của tôi, đều đang ở bậc tiểu học. Nhưng đến bữa tối, khi bà chủ nhà đi bán ở chợ Đông Ba về, th́ tôi phải ăn cùng với những người giúp việc trong nhà, ở dưới bếp, và ngồi ăn trên nền nhà bếp, chứ chẳng có ghế bàn ǵ để mà ngồi. Được nửa năm học, nghĩa là sau khi tôi về quê ăn Tết Nguyên đán cùng gia đ́nh ở Hội An trở ra Huế, một buổi tối, không hiểu tức giận chuyện ǵ, bà chủ la mắng mọi người, và tôi cũng không thoát. Bị xúc phạm quá đáng, tôi lập tức sắp sách vở vào va ly, đặt lên xe đạp ra đi. Biết đi đâu bây giờ? Cuối cùng, sau một hồi đạp xe ḷng ṿng chán nản, tôi đến căn gác gỗ của Uân ở 105 Chi Lăng. Tôi xin ở tạm nơi đó với Uân, khi trong túi c̣n đúng 71 đồng. Ở Huế lúc bấy giờ có “Quán cơm xă hội”, nằm ngay trên phố Trần Hưng Đạo, phía trong bến xe Lam, sát ngay cửa chính vào chợ Đông Ba. Ăn ở đây chỉ toàn là các bác tài xe lam, các bác đạp xích lô và những người làm nghề khuân vác. Trong cung cách của người Huế, SVHS chẳng ai lại đi ăn ở đấy. Nhưng tôi th́ đâu có quyền chọn lựa. Mỗi bữa ăn có ba món, tuy chẳng ngon lành ǵ, nhưng được cái chỉ phải trả có 10 đồng. Dù đă phải nhịn bữa sáng, tôi cũng chỉ ăn được đúng bảy bữa, nghĩa là kéo dài được ba ngày rưỡi. Sang ngày thứ tư, buổi trưa đi học về, trong túi chỉ c̣n đúng 1 đồng bạc. Uân lại nghỉ học, h́nh như đi chùa với bà cô. Đứng ngó mông trước cửa nhà, cuối cùng tôi băng qua đường, ghé vào hàng quà vặt của một bà cụ hom hem, mua hai trái chuối, giá một đồng; đồng bạc cuối cùng tôi có. Ăn xong, tôi mở ṿi nước máy, uống liền một lúc hai ly đầy, trong cái lạnh se da của tháng Giêng ở Huế. Trong trường hợp này th́ đành làm đầy cái bụng bằng nước thay cơm. Buổi chiều tan học ra, trời rét đậm. Bụng đói cồn cào, mà khổ nỗi càng đói th́ càng thêm lạnh. Tôi đạp xe chầm chậm trở về căn gác gỗ của Uân. Tương lai mù mịt. Chỗ ở tạm bợ, cơm ăn không có, làm sao kéo dài việc học?

Ngồi suy nghĩ, tôi nhớ đến cô Nguyễn Thị Từ Nguyên, là cô giáo của tôi ở trường Trần Quư Cáp, khi tôi học Đệ Ngũ, nay đă đổi về dạy ở Đồng Khánh. Nhà cô ở đường Hồ Xuân Hương, cách chỗ tôi tạm trú thân không xa. Đến cô, tôi kể thật hoàn cảnh, và xin mượn cô 200 đồng, hứa một tháng sau sẽ hoàn trả lại. Cô Từ Nguyên đẹp người, đôi mắt sáng, giọng nói thanh và nhanh. Cô dúi vào túi áo tôi 200 đồng, đặt tay lên vai tôi, và dịu dàng bảo: “Bao giờ em trả cũng được, mà không trả cũng được, đừng bận tâm”. Những tấm ḷng nhận hậu ấy làm sao tôi quên được, và tôi cũng không bao giờ có thể đền đáp được. Cho đến khi tốt nghiệp Ban Việt Hán, Trường Đại học Sư Phạm Huế, tôi đă chịu ơn rất nhiều người nhân hậu ở Huế, những gia đ́nh cưu mang, giúp đỡ tôi trong những năm tôi c̣n là cậu học tṛ nghèo khó. Huế đă trở thành một phần đời, một phần tâm hồn tôi, đă nuôi tôi khôn lớn, đă giúp tôi trưởng thành về mặt t́nh cảm và tinh thần, đă dạy tôi biết đứng thẳng để làm người, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Và cùng với Hội An, Huế là nơi đă làm nên tâm hồn tôi, đời thơ tôi.

Và trái đất quả thật nhỏ bé, hơn 30 năm sau, t́nh cờ đọc được một tờ báo Mỹ, có bài viết về một nữ Tiến sĩ Luật, người Việt Nam đầu tiên được bổ nhiệm chức Thẩm phán của Ṭa án thành phố Houston, bang Texas, tôi ngỡ ngàng khi nhận biết Dương Như Nguyện, cô TS Luật ấy, là con gái đầu của Thầy Dương Đức Nhự và cô Nguyễn Thị Từ Nguyên. Tôi đă dịch bài báo ấy, viết lại, với những hiểu biết của tôi về gia đ́nh Thầy-Cô, và đăng bài ở báo Phụ Nữ TP.HCM. Cách xa nửa ṿng trái đất, lòng tôi vẫn bồi hồi những hoài niệm về một cô giáo cũ có tấm ḷng nhân hậu, đă rộng răi giúp đỡ tôi trong bước khốn cùng. (Và cho tới nay, vào thời điểm tháng 10.2017 này, qua liên lạc trên Facebook, với W.N. Dương (tức Dương Như Nguyện), tôi biết rằng cô Từ Nguyên nhân hậu của tôi hiện đang nằm bất động, gần như không c̣n nhớ ǵ, ḷng tôi thật xót xa. Xa xôi qua, không thể viếng thăm Thầy Cô, tôi chỉ c̣n biết cầu nguyện cho cô mau b́nh phục để em Như Nguyện bớt phần vất vả).

Nửa tháng sau khi được cô Từ Nguyên cho mượn tiền, tôi t́m được chỗ dạy mới. Lần này, do những kinh nghiệm đắng cay, tôi không nhận ở trong nhà, mà chỉ xin nhận tiền. Và sau tuần lễ đầu tiên dạy ba cô gái nhỏ, vừa học tiểu học vừa học lớp 6 và lớp 7, tôi thưa với chủ nhà xin nhận tiền trước vào mỗi đầu tháng. Quư hóa thay, cho đến tận bây giờ, đă ở vào tuổi 70, tôi vẫn c̣n giữ được mối liên lạc và t́nh thân với rất nhiều người con của ông bà chủ nhà hàng ăn uống Lạc Thành, nơi tôi đă được nhận làm gia sư đến ba năm. Cả hai ông bà là những người thực sự nhân hậu mà tôi hết ḷng kính trọng, biết ơn. Và cả những anh em của ba cô học tṛ nhỏ của tôi, mà gần như tất cả hiện nay đều sống ở nước ngoài, nhưng vẫn giữ mối liên hệ và thân t́nh với tôi.

Tôi đă trả được cô Từ Nguyên 200 đồng cô đă rộng răi cho mượn. Tôi đă học xong lớp Đệ Nhị, đă đỗ tú Tài I trong một hoàn cảnh ngặt nghèo như thế, nhưng điều an ủi là cuối năm học tôi đă được nhận đến hai phần thưởng. Về học lực, là phần thưởng hạng Nhất (nghĩa là vẫn sau Phan Văn Chạy - phần thưởng Danh dự, và Phan Văn Uân - Ưu hạng). Phần thưởng thứ hai, đối với tôi, rất đáng tự hào, là Giải nhất Thi ca Quốc Học. Trường Quốc Học những năm ấy vẫn có lệ tổ chức cuộc thi văn chương, gồm các thể loại: truyện ngắn, tạp bút, thơ, biên thảo. Cuộc thi văn chương năm học 1963- 1964, tất cả các thể loại chỉ có giải Khuyến khích, riêng bộ môn thơ, tôi đạt giải Nhất mà lại không có giải Nh́. Điều thú vị hơn nữa là năm học ấy, thầy Dương Thiệu Tống làm Hiệu trưởng, lần đầu tiên hai trường Quốc Học và Đồng Khánh tổ chức phát phần thưởng chung tại Nhà hát lớn thành phố Huế. Niềm vui và sự tự hào tưởng chẳng c̣n ǵ hơn được nữa, với một chàng trai bước vào tuổi 18, nhất là được mặc đồng phục trắng, lên nhận phần thưởng trước mắt bao người đẹp Đồng Khánh, dù có thể những người đẹp ấy chẳng buồn để mắt đến ḿnh.

Tôi đỗ Tú tài II năm 1965, rời Trường Quốc Học, và đúng 10 năm sau, tôi có vinh dự được trở về trường trong cương vị của một người điều hành trường năm 1975-1976.

Những năm tháng học ở bậc Trung học Đệ nhị cấp của tôi ở Trường Quốc Học đă là những năm tháng nỗ lực hết ḿnh để không chỉ học giỏi, thi đỗ, mà c̣n để kiếm miếng cơm sinh sống và tự lập thân. Và tôi đă thực sự trưởng thành trong những năm tháng gay go ấy, đă bước vào sự nghiệp văn chương, có thơ đăng trên hầu hết các tờ báo, tạp chí xuất bản ở Sài G̣n, đă có thể sống được một phần nhờ tiền nhuận bút (khá cao so với thời giá lúc bấy giờ!).

Ba năm ở Quốc Học là ba năm giúp tôi trở thành một thanh niên đầy nhiệt huyết, tự tin và sống thật sự lư tưởng, lao vào con đường văn chương và lao cả vào những vấn đề lớn của đất nước.
Bây giờ nhớ lại, nhiều khi tôi vẫn phải bần thần tự hỏi, làm sao tôi có thể vượt qua được những năm tháng ấy; làm sao có thể đi qua cuộc chiến tranh với bao tai ương chồng chất; làm sao có thể vẫn giữ được tấm ḷng đôn hậu trước những đảo điên của cuộc thế? Nhưng trước sau tôi vẫn nghĩ rằng, thế hệ nào cũng có những khó khăn của ḿnh, cũng phải phấn đấu vượt qua những trở ngại của cuộc sống và của chính bản thân. Và nếu có ḷng tin, có nghị lực, th́ không bao giờ ta sợ vấp ngă, mà nếu có vấp ngă chăng nữa th́ ta vẫn có thể lại đứng dậy, để tiếp tục bước đi trên con đường phải đi của đời ḿnh.

Tôi tin là thế hệ trẻ bây giờ có sức cạnh tranh c̣n mạnh hơn cả thế hệ chúng tôi, v́ xă hội ngày một đ̣i hỏi sự cạnh tranh khốc liệt hơn. Và với những điều kiện thuận lợi hơn, với sự trợ giúp của kỹ thuật tiến bộ vượt bậc hơn, tôi nghĩ, tuổi trẻ hôm nay sẽ bay xa hơn trên đường bay vào thế giới kiến thức, sẽ thành công hơn trong cuộc sống kỹ thuật số và thế giới phẳng, dẫu rằng cuộc đời không lúc nào không có chông gai, nhưng cũng không bao giờ không đáng yêu, đáng sống.

 

 

Nguyễn văn Bổn
 

Sinh năm 1946, quê quán Đại Lộc, Quảng Nam

Học Quốc Học: 1962-1965
Điều hành công việc của trường Quốc Học: 1975-1976
Hiện là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Đă xuất bản trên 20 đầu sách sáng tác và biên khảo.

Có thơ trong hơn 60 thi tuyển trong nước và ở nước ngoài.
 

 

 

 

chân trần

art2all.net