Lê Duy Đoàn

 

 GIAI PHẨM XUÂN 2018

QUỐC HỌC HUẾ - TÌNH YÊU

 

 

Nguyễn Tường Bách

NHỮNG NGƯỜI ĐI BIỂN

 

                    Khách đến Lisboa, thủ đô Bồ Đào Nha, trong một ngày cuối hè. Lisboa nằm trên cửa sông Tejo, nh́n ra Đại Tây Dương. Khách bỗng nhớ Sài G̣n vô hạn. Sài G̣n cũng là một thành phố lớn, nằm trên cửa sông nh́n ra biển. Từ một thành phố cực Tây của phương Tây, khách hướng về một miền cực Đông của phương Đông, nhớ lại tiếng mẹ đẻ của ḿnh và thấy ḷng xao xuyến.

Phía Đông kia của địa cầu có hai thành phố lớn cũng nằm trên cửa biển mà khách đă biết, đó là Thượng Hải và Sài G̣n. Những thành phố cảng, dù là Thượng Hải, Sài G̣n hay Lisboa, có lịch sử và số phận khác nhau, chúng phản ánh rơ nét nền văn hóa của những dân tộc sống tại đó. Hoạt động của các thành phố cảng thường cho biết quan niệm của các dân tộc đó đối với biển cả, cho thấy h́nh dung của họ về những ǵ nằm bên kia đại dương. Việt Nam cũng như Trung Quốc thuộc về truyền thống của một nền kinh tế nông canh mà đặc trưng từ xưa của nó là tự cung tự cấp. Con người trong xă hội đó thường quanh quẩn trong đất liền, trong xóm làng, đối với họ rừng và biển đều tượng trưng cho sự hiểm nguy. Đối với người Trung Quốc, sông và hồ là biểu tượng của thế gian, “tái xuất giang hồ” là cách nói của ẩn sĩ khi trở lại với xă hội. Trong một nền kinh tế nông canh, biển chỉ là nơi đánh bắt tôm cá ở vùng ven, cảng biển là nơi “khách thương” bên ngoài đến buôn bán. Trong số các khách thương đó có một giống người đặc biệt, đó là người Bồ Đào Nha.

Bồ Đào Nha là dân tộc của những người đi biển. Hơn thế nữa, từ xưa họ là những người chịu bỏ xứ đi tha hương. Lisboa là cảng biển thiên nhiên duy nhất của bán đảo Iberia, từ trước công nguyên đă là một trung tâm chính trị và kinh tế. Lisboa nằm ngay trên cửa biển, ḥa nước ngọt của sông Tejo và nước mặn của Đại Tây Dương, mênh mông một màu nước, khơi gợi ḷng viễn du của một dân tộc sẵn sàng lên đường. Thực vậy, kể từ thế kỷ thứ 15, khi tài đi biển của người Bồ Đào Nha lên đến đỉnh cao, quốc gia này bành trướng thành cường quốc số một ở châu Âu, chiếm lĩnh nhiều thuộc địa ở Brazil, châu Phi, Ả-rập, Ấn Độ và Trung Quốc. Khuôn mặt lịch sử trong thời kỳ đó là Henrique, nhà hàng hải (1394-1460). Là hoàng tử con vua, nhưng Henrique sớm xông pha trên mọi cuộc phiêu lưu và chinh phục trên biển, ông chính là người đặt nền móng cho sự thịnh vượng của đế quốc Bồ Đào Nha. Dưới thời Henrique, nhiều công tŕnh khoa học về ngành hàng hải được phát hiện, như la bàn đi biển, phép tính tọa độ trên biển, phép vẽ hải tŕnh cũng như kỹ thuật đóng tàu. Sau khi Henrique mất khoảng 40 năm, một người Bồ Đào Nha khác mang tên là Vasco Da Gama (1469-1524), phát huy công tŕnh nghiên cứu của Henrique, lên đường biển đi Ấn Độ. Năm 1500 Vasco Da Gama lại đi Ấn Độ lần thứ hai, lần này phái đoàn phát hiện thêm xứ Brazil. Chỉ vài năm sau sức mạnh của Bồ Đào Nha lên tới tột đỉnh, đồng thời chiến tranh bắt đầu xảy ra với các nước Á-rập.

Năm 1511 thuyền nhân Bồ Đào Nha bắt đầu nhắm đến Trung Quốc và Nhật Bản. Họ ṿng từ miền Nam Ấn Độ, đi đường biển dọc theo miền Trung Việt Nam để lên đảo Macau. Hẳn họ đă dừng chân tại Hội An để buôn bán và tiếp tế lương thực, nên năm 1524 họ dựng một tấm bia đá ở Cù lao Chàm. Song song, các nhà truyền giáo lần lượt đến Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam. Trong những năm cuối của thế kỷ thứ 16 các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha của hai ḍng thánh Franciso và Augustino đến Việt Nam, nhưng cuối cùng bỏ cuộc.

Đầu thế kỷ thứ 17, các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha lại đến Việt Nam một lần nữa và lần này họ thành công. Ḍng Tên chính thức được thành lập ở Đàng Trong năm 1615, Đàng Ngoài năm 1627. Trong giới giáo sĩ Ḍng Tên người Bồ có một nhân vật xuất sắc, đóng một vai tṛ lịch sử trong nền văn hóa Việt Nam, đó là Francisco de Pina. Pina sinh năm 1585, đến Macau năm 1613, đặc biệt rất giỏi tiếng Nhật. Năm 1617 ông đến Đàng Trong truyền giáo và bắt đầu dịch một số văn bản của Ki-tô giáo ra tiếng Nôm, một thứ chữ Hán được bản địa hóa. Thế nhưng Pina nhận thấy các nhà truyền giáo đồng nghiệp có một khó khăn trầm trọng, đó là họ không sao học được chữ Nôm. Chàng linh mục trẻ tuổi Pina thấy chữ Nôm không thể là phương tiện giao lưu với người bản xứ, ông nghĩ ra một cách đơn giản. Ông thử lắng nghe người Việt phát âm ra sao rồi dùng mẫu tự la-tinh để diễn tả âm tiết theo cách mà tiếng Bồ Đào Nha thường làm. Đó là thời điểm khai sinh của chữ quốc ngữ của chúng ta ngày nay. Theo lời xác nhận của chính Pina, kể từ năm 1622, ông đă xây dựng một hệ thống chuyển mẫu tự la-tinh cho hợp với thanh điệu và lối phát âm của tiếng nói Việt Nam. Pina cũng soạn cả một tập văn phạm thô sơ cho loại chữ viết mới mẻ này. Có lẽ trên thế giới không nơi nào có một thứ chữ viết được h́nh thành trong điều kiện như thế.

Năm 1624 Francisco de Pina mở trường dạy tiếng Việt cho các nhà truyền giáo khác. Trong số người đến học với ông có hai vị quan trọng, một người đă lớn tuổi là António de Fontes (1569-?), sinh tại Lisboa. Vị kia chính là Alexandre de Rhodes (1591-1660), sinh tại Avignon, Pháp. Hai vị này lănh hai trọng trách, de Fontes là cột trụ cho giáo xứ truyền giáo ở Đàng Trong, c̣n de Rhodes sẽ ra Đàng Ngoài vào năm 1626, lúc đó ở trong thời kỳ của chúa Trịnh Tráng. Một ngày nọ trong tháng 12 năm 1625, một chiếc tàu của Bồ Đào Nha bỏ neo ở vịnh Đà Nẵng, Pina lên tàu để mang hàng hóa vào bờ. Khi đến bờ chẳng may thuyền ch́m, Pina chết tại đó, ông chỉ sống được 40 tuổi.

Sau cái chết bi thảm của Pina, các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha vẫn tiếp tục xây dựng chữ quốc ngữ mà hai nhân vật có công nhất chính là hai người Bồ, Gaspar do Amaral (1594-1646) và Antonio Barbosa (1594-1647). C̣n de Rhodes th́ bị chúa Trịnh Tráng trục xuất năm 1630, phải đi Macau. Mười năm sau, năm 1640 de Rhodes trở lại Đàng Trong và đến 1645 bị chúa Nguyễn vĩnh viễn trục xuất khỏi Việt Nam. De Rhodes trở về La Mă và năm 1651 ông cho xuất bản tập Từ điển Việt-Bồ Đào Nha-La-tinh (Dictionarium annamiticum seu tunquinense lusitanum et latinum).

Trong các đời sau, nhiều người tôn Alexandre de Rhodes là người sáng tạo chữ quốc ngữ, nhưng thực ra đó là công của các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha, mà người đầu tiên phải là Francisco de Pina. Một t́nh cờ của lịch sử đă đưa các vị giáo sĩ Bồ Đào Nha phát minh ra một loại chữ viết cho cả một dân tộc xa lạ, trong đó họ buộc phải dùng mẫu tự và âm tiết của ngôn ngữ ḿnh để diễn tả một tiếng nói khác, vốn mang đầy thanh âm trầm bổng như tiếng chim. Mục đích ban đầu của chữ quốc ngữ là để cho các nhà truyền giáo nói được tiếng Việt và giao tiếp với cộng đồng tôn giáo ḿnh bằng chữ viết. Về sau khi các nhà cai trị người Pháp đến Việt Nam, họ cũng không kham nổi chữ Hán lẫn chữ Nôm. Giải pháp thuận tiện của người Pháp là buộc mọi người Việt Nam phải sử dụng chữ quốc ngữ và có lẽ đó cũng là lư do tại sao vai tṛ của Alexandre de Rhodes được nêu bật. Từ 1930 chữ quốc ngữ trở thành chữ viết chính thức của người Việt. Ngày nay không ai có thể tưởng tượng điều ǵ sẽ xảy ra nếu chúng ta không có chữ quốc ngữ.

Trong thời kỳ định h́nh chữ quốc ngữ tại Việt Nam th́ tại bên kia đại dương, đế quốc Bồ Đào Nha đă bắt đầu tàn tạ. Khoảng năm 1580 triều đại nước này tan ră, Bồ Đào Nha bị Tây Ban Nha chiếm đóng khoảng 60 năm. Sau đó các cuộc biến động và nội chiến làm Bồ Đào Nha kiệt quệ và bắt đầu lệ thuộc vào Anh, mất dần các thuộc địa. Tính ra, đế quốc Bồ Đào Nha chỉ tồn tại được khoảng gần hai trăm năm. Năm 1755 một cuộc động đất khủng khiếp tan tành thành phố Lisboa. Trong thời kỳ Phục hưng với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tại châu Âu, Bồ Đào Nha hoàn toàn bị bỏ rơi. Kể từ năm 1974, sau cuộc cách mạng hoa cẩm chướng, Bồ Đào Nha theo một chế độ đại nghị cộng ḥa và ngày nay chỉ là một nước nhỏ yếu của cộng đồng châu Âu.

Mặc dù nước nhỏ nhưng ngày nay Bồ Đào Nha lại là nước nhập cư cho nhiều sắc dân, nhất là cho người Brazil xưa nay vẫn nói tiếng Bồ. Đi giữa phố Bồ Đào Nha ta không hề thấy lạc lơng v́ khắp nơi đều có nhiều màu da và tiếng nói khác nhau. Khách đi dạo trên bến tàu bao la của Lisboa để nhớ một thời vương giả của nước này trong năm trăm năm về trước. Lisboa một thời chính là điểm xuất phát của hầu hết mọi chuyến hải tŕnh tại châu Âu. Nơi đây từng xuất phát biết bao cuộc thám hiểm, viễn chinh, truyền giáo của vô số con người khác nhau. Ngay cả Alexandre de Rhodes cũng từ đây lên thuyền để đi về phương Đông. Quảng trường mênh mông trên bến cảng dường như vẫn c̣n âm vang tiếng ồn ào của thuyền nhân trước khi lên những chiếc tàu buồm bằng gỗ. Nối với quảng trường là khu vực Baixa, gồm những con đường vuông góc bàn cờ y như Saigon, những ngơ ngách nhỏ hẹp đầy đặc trưng của một thành phố cảng.

Kiến trúc mà ta thấy ngày nay tại Lisboa là công tŕnh xây dựng sau trận động đất năm 1755, nhưng toàn thể địa h́nh và thành quách cung điện c̣n sót lại từ xưa cho thấy thủ đô tráng lệ của một thời vàng son Bồ Đào Nha. Mộng ước chinh phục thế giới của họ dĩ nhiên xuất phát từ quyền lợi ích kỷ của dân tộc ḿnh, nhưng những t́nh cờ của lịch sử làm họ để lại những dấu ấn bất ngờ tại một nước ở phương Đông xa xôi mà ngày nay chính người Việt cũng không mấy ai biết đến. Mối liên hệ Bồ Đào Nha - Việt Nam chỉ nằm bên lề của lịch sử hai nước nhưng cái c̣n lại là một thứ chữ viết tuy giản đơn v́ lịch sử đặc biệt của nó nhưng ngày nay không c̣n ǵ thay thế được nữa. Thứ chữ viết đơn âm và tiếng nói đa thanh đó đă ḥa với nhau làm một ngôn ngữ duy nhất.


Nhưng cũng c̣n nhiều điều làm khách nhớ quê. Trong những ngơ ngách nhỏ hẹp của Lisboa có vô số hàng quán. Trong một quán ăn nào đó, ai gặp may sẽ nghe được một khúc nhạc Fado của người Bồ Đào Nha. Fado, tiếng Bồ có nghĩa là “số phận”, thường rất buồn thảm, diễn tả một nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi, điều mà họ gọi là saudade. Đó là tâm t́nh và khúc nhạc của người đi biển, kết hợp với âm điệu của dân nô lệ châu Phi của thuở xa xưa.

Ó gente da minha terra/ Hỡi các người của nước ta,
Agora é que eu percebi/ Giờ đây ta mới hiểu,

Esta tristeza que trago/ Nỗi buồn ta đang mang,

Foi de vós que a recebi/ Ta đă nhận lănh từ người

 

Đằng sau những chiến công vang dội của đế quốc Bồ Đào Nha thuở đó là nỗi buồn vô tận của người đi biển. “Số phận” của họ là xa quê hương và nỗi hiểm nguy phải bỏ xác tại xứ người. Khách biết rơ, tiếng ồn ào ngày xưa của thuyền nhân trên bến cảng không phải chỉ là tiếng cười hănh diện của người đi chinh phục mà lẫn vào đó là tiếng khóc thầm của vô số con người không tên.

26.11.07
Nguyễn Tường Bách
Cựu học sinh Quốc Học 1962-1965, Cộng Ḥa Liên Bang Đức.

 

 

 

chân trần

art2all.net