ĐỖ TƯ NGHĨA

 

HÀNH TR̀NH CỦA LINH HỒN

 

 

 CHƯƠNG VIII

NHỮNG VỊ HƯỚNG ĐẠO CỦA CHÚNG TA
 

          Tôi chưa bao giờ làm việc với một thân chủ trong phiên thôi miên, mà họ không có một vị hướng đạo riêng. Trong phiên thôi miên, th́ vài vị hướng đạo dễ nhận ra hơn những vị [hướng đạo] khác. Tôi có thói quen hỏi những thân chủ của ḿnh, rằng họ có thấy hay cảm nhận sự hiện diện của một thực thể vô h́nh nào trong pḥng hay không. Nếu họ có thấy, hay cảm thấy, th́ thành phần thứ ba này thường là một vị hướng đạo. Thường khi, một thân chủ sẽ cảm nhận sự hiện diện của một nhân vật vô h́nh, trước khi h́nh dung ra một khuôn mặt hay nghe một giọng nói.

Đương nhiên, những người hành thiền miên mật, th́ quen thuộc nhiều hơn với những “hiện h́nh” [vision] này hơn một người không bao giờ “kêu gọi” vị hướng đạo của ḿnh. Việc nhận ra những vị thầy tâm linh này cho phép ta tiếp xúc với một sức mạnh ấm áp, đầy yêu thương và sáng tạo. Thông qua những vị hướng đạo của ḿnh, chúng ta nhận thức sâu sắc hơn về sự liên tục của sự sống và cái “căn cước” [identity] của ta như là một linh hồn. Những vị hướng đạo là những nhân vật mang hồng ân đến cho hiện hữu của chúng ta, bởi v́ họ là một phần trong sự thành tựu số phận chúng ta.

Những vị hướng đạo là những thực thể phức tạp, nhất là khi họ ở đẳng cấp “tôn sư” [master guides]. Ở chừng mực nào đó, th́ tùy mức độ phát triển của linh hồn, mà nó sẽ có những vị hướng đạo tương ứng. Thực vậy, việc vị hướng đạo chỉ có một hay nhiều “học viên,” dưới sự hướng dẫn của ḿnh, tùy thuộc nhiều vào đẳng cấp của vị ấy.

Những vị hướng đạo có mức năng lực “cao cấp” [senior] hay cao hơn thế, thường làm việc với toàn bộ một nhóm linh hồn trong thế giới linh hồn và ở Cơi Trần. Những vị hướng đạo này có những thực thể khác trợ lư cho họ. Từ những ǵ mà tôi có thể thấy, th́ mọi nhóm linh hồn đều có một hay nhiều “giáo viên” [teacher] khá mới, chưa có nhiều kinh nghiệm giảng dạy. Do vậy, vài linh hồn có thể có nhiều hơn một vị hướng đạo giúp đỡ họ.

Những thân chủ của tôi thường gán cho những vị hướng đạo của họ những cái tên. Cái tên đó có thể là b́nh thường hay bốc đồng, ngộ nghĩnh, hay kỳ quặc. Thường khi, những cái tên này có thể được truy nguyên về một vị thầy đặc biệt trong kiếp quá khứ, đă từng chăm sóc một học viên. Vài thân chủ không thể phát âm tên của người hướng dẫn họ, bởi v́ cái âm thanh đó không thể lặp lại, ngay cả khi họ thấy nó rơ ràng trong khi đang bị thôi miên. Tôi bảo những người này rằng, sẽ quan trọng hơn, nếu họ hiểu mục đích tại sao những vị hướng đạo nào đó được phân công phụ trách họ, hơn là biết tên các vị. Một thân chủ có thể đơn giản dùng một từ chung chung để chỉ vị hướng đạo của họ, chẳng hạn như: người chỉ đạo, cố vấn, người giáo huấn, hay chỉ là “ bạn tôi.”

Chúng ta phải cẩn thận về cách họ thuyết minh chữ “bạn.” Thường thường, khi một người ở trong cơn thôi miên nói về một người bạn tâm linh, họ thường nói đến một “bạn linh hồn” [soul mate] hay “bạn cùng nhóm” hơn là một vị hướng đạo. Những thực thể là bạn chúng ta, hiện hữu trên những cấp độ không cao hơn hay thấp hơn chúng ta. Những người bạn này có thể mang đến nhiều sự động viên từ thế giới linh hồn, trong khi chúng ta đang sống ở Cơi Trần; nhưng họ cũng có thể ở với chúng ta như là những “bạn đường” có cơ thể vật lư trong khi chúng ta bước đi trên những con đường của cuộc sống. (93)

Một trong những khía cạnh quan trọng nhất của công việc trị liệu của tôi với những thân chủ, là trợ giúp họ, trên một cấp độ hữu thức, (94) nhận ra vai tṛ của những vị hướng đạo của họ trong đời. Những vị thầy này giúp tất cả chúng ta mở mang trí tuệ, với những kỹ thuật giáo huấn thiện xảo của họ. Những ư kiến mà chúng ta khẳng định là của chính ta, có thể được phát sinh từ một vị hướng đạo. Những vị hướng đạo cũng an ủi ta trong những giai đoạn thử thách trong đời ta, nhất là khi ta là những đứa trẻ cần sự an ủi. Tôi nhớ một nhận xét rất dễ thương của một thân chủ, sau khi tôi hỏi, cô bắt đầu gặp vị hướng đạo của cô lúc nào trong kiếp này. “Ồ, khi tôi đang mơ mộng” [daydreaming], cô nói, “Tôi nhớ rằng, vị hướng đạo của tôi xuất hiện vào ngày đầu tiên tôi đến trường, khi tôi thực sự sợ hăi. Cô ngồi cạnh bên tôi, để cho tôi đỡ lẻ loi, và rồi, chỉ cho tôi đường tới nhà vệ sinh khi tôi quá sợ, không dám hỏi giáo viên.”

Khái niệm về những hữu thể tâm linh được “cá nhân hóa” [personalised], khái niệm đó đă có từ thời cổ đại – từ những nguồn gốc sớm sủa nhất của chúng ta như là những hữu thể biết suy nghĩ. Những nghiên cứu nhân chủng học tại hiện trường của những người tiền sử gợi ư rằng, những biểu tượng “vật tổ’ [totemic] của họ tượng trưng cho sự che chở cá nhân. Về sau, cách đây khoảng 5000 năm, khi những thành quốc nổi lên, th́ những vị thần chính thức trở nên đồng nhất hóa với những quốc giáo. Những vị thần này càng xa xôi hơn và thậm chí, làm phát sinh sợ hăi. Như thế, trong cuộc sống hằng ngày của con người, th́ những vị thần cá nhân [personal] và gia đ́nh có tầm quan trọng lớn, v́ họ gần gũi với chúng ta hơn. Một vị thần cá nhân đóng vai tṛ như một thiên thần bảo hộ cho mỗi người hay gia đ́nh, và trong cơn khủng hoảng, con người có thể cầu xin vị ấy phù hộ, độ tŕ. Truyền thống này đă được truyền xuống tới những nền văn hóa của chúng ta ngày nay.

Chúng ta có 2 thí dụ ở hai đối cực của Hoa Kỳ. Aumakua là vị thần cá nhân của người Hawaii. Những người Polynesia tin rằng, tổ tiên ta có thể “đóng vai” một vị thần cá nhân (chẳng hạn, với h́nh dáng con người, động vật, hay cá) đối với những thành viên c̣n sống của gia đ́nh. Trong những giấc mơ và những “linh ảnh” [visions], Aumakua có thể trợ giúp hay trách mắng một cá nhân. Tại Đông Bắc Mỹ, những người Iriquois tin vào sức mạnh tâm linh nội tại của chính mỗi con người, gọi là Orenda, vốn được kết nối với một linh hồn [cá nhân] Orenda cao hơn. Vị thần bảo hộ này có thể chống cự lại những sức mạnh gây tổn hại và tai họa nhắm đến một cá nhân. Khái niệm về “những kẻ canh giữ linh hồn” [soul watchers], hoạt động như là vị hướng đạo, là một phần trong hệ thống niềm tin của nhiều nền văn hóa Bản Địa Mỹ. Những bộ lạc Zuni của miền Tây Nam có những truyền thống truyền khẩu trong huyền thoại của họ về những hữu thể giống như thần linh, với những kinh nghiệm cá nhân. Những vị này được gọi là “những kẻ tạo dựng và nắm giữ những lối đi cuộc đời,” và được xem là “những quản gia” [caretakers] của những linh hồn. Có những nền văn hóa khác khắp thế giới mà cũng tin rằng, có một ai đó, không phải Thượng đế, đang theo dơi họ, để đích thân can thiệp, bênh vực họ. Tôi tin rằng, loài người luôn luôn cần những nhân vật có nhân-trạng ở dưới một Thượng đế tối cao, để mô tả những sức mạnh tâm linh xung quanh họ. Khi người ta cầu nguyện hay thiền định, họ muốn vươn ra tới một thực thể mà họ quen biết, truyền cho họ cảm hứng. Sẽ dễ dàng hơn, khi cầu xin sự trợ giúp từ một nhân vật mà có thể nhận diện một cách rơ ràng trong tâm trí con người. Đối với nhiều người, th́ việc thiếu h́nh tượng [cụ thể] về một vị Thượng đế tối cao, khiến cho họ khó ḷng nối kết trực tiếp với Ngài. Bất kể những chọn lựa tôn giáo và những cấp độ khác nhau về đức tin, người ta cũng cảm thấy rằng, nếu có một vị Thướng đế tối cao, th́ vị này quá bận rộn để bận tâm về những vấn đề cá nhân của họ. Người ta cũng phát biểu rằng, họ không “đủ tư cách” để liên hệ trực tiếp với Thượng đế. Do vậy, những tôn giáo lớn của thế giới đă dùng những ngôn sứ, vốn đă một lần sống ở Cơi Trần, như là những kẻ trung gian giữa chúng ta và Thượng đế.

Có thể, bởi v́ một vài trong số những vị ngôn sứ này đă được nâng lên thành những “vị thần,” nên họ đă không c̣n gần gũi với con người nữa. Tôi nói điều này mà không làm giảm sút tầm ảnh hưởng tâm linh trọng yếu của những ngôn sứ đối với những người tin theo họ. Hàng triệu người được hưởng lợi từ những lời dạy của những linh hồn hùng mạnh này, vốn đă đầu thai ở Cơi Trần như là những ngôn sứ mang nhục thân con người, trong quá khứ của chúng ta. Và thế nhưng, người ta biết trong trái tim họ – như họ vẫn luôn biểu lộ – rằng một ai đó, một thực thể cá nhân, vốn có tính cá thể đối với họ, th́ luôn ở đó, đợi chờ lời kêu gọi của họ.

Tôi chủ trương rằng, với những người có đức tin tôn giáo mạnh mẽ, th́ những vị hướng đạo xuất hiện ra như là những nhân vật [figures] của đức tin họ. (95) Trên truyền h́nh quốc gia, có một trường hợp như sau: một đứa trẻ thuộc một gia đ́nh Ki tô giáo mộ đạo trải qua một kinh nghiệm cận tử, và nói rằng, em thấy chúa Jesus. Khi được yêu cầu vẽ lại bằng bút ch́ màu những ǵ mà em thấy, th́ cô bé vẽ một người đàn ông không h́nh thù, màu thiên thanh, đang đứng bên trong một vầng hào quang.

Những thân chủ của tôi đă cho tôi thấy, họ nương tựa bao nhiêu và hưởng lợi bao nhiêu từ những vị hướng đạo của họ, suốt cuộc đời. Tôi đă đi tới chỗ tin rằng, chính các vị đó, chứ không phải Thượng đế, (96) mới là những người có trách nhiệm trực tiếp về chúng ta. Những vị thầy thông thái này lưu lại với chúng ta qua suốt hàng ngàn năm Cơi Trần, để trợ giúp trong những thử thách của chúng ta, trước, trong, và sau vô số kiếp sống. (97)

Tôi nhận thấy rằng – không giống như những người đang bước đi trong một trạng thái hữu thức – những chủ thể trong cơn thôi miên không trách cứ Thượng đế về những bất hạnh của họ trong đời. Thường thường, khi chúng ta ở dạng thức linh hồn, th́ vị hướng đạo của chúng ta chính là người làm giảm nhẹ cường độ của bất cứ sự bất toại nguyện nào. Tôi thường được hỏi, có phải những vị thầy-hướng đạo được chọn kỹ cho chúng ta, hay họ chỉ được “nhặt lên” một cách ngẫu nhiên. Đây là một câu hỏi khó trả lời. Dường như, trong thế giới linh hồn, những vị hướng đạo thực sự được phân bổ một cách có trật tự. Tôi đă đi tới chỗ tin rằng, những phương pháp giảng dạy cá nhân của họ, và những kỹ thuật quản lư của họ, hỗ trợ và phối hợp một cách đẹp đẽ với “linh hồn căn nguyên ” [soul identity] vĩnh cửu của chúng ta.

Chẳng hạn, tôi đă nghe nói về những vị hướng đạo “trẻ hơn” – mà đă trải qua những kiếp quá khứ của họ, khắc phục những nét tính cách tiêu cực, khó vượt qua – được phân công phụ trách những linh hồn với mẫu hành vi tương tự. Có vẻ như, những vị hướng đạo đồng cảm này được đánh giá dựa trên việc họ làm những nhiệm vụ của họ tốt ra sao, để tạo ra sự thay đổi tích cực.

Mọi vị hướng đạo đều có ḷng từ bi đối với “học tṛ” của họ, nhưng phương pháp th́ khác nhau. Tôi thấy vài vị hướng đạo thường trực tiếp giúp học tṛ của họ ở Cơi Trần, trong khi những người khác yêu cầu học tṛ của họ vận dụng những bài học, nhưng ít biểu lộ sự khích lệ công khai. Mức độ phát triển của linh hồn, dĩ nhiên, là một yếu tố. Chắc chắn là, những sinh viên tốt nghiệp có ít sự trợ giúp hơn những sinh viên năm thứ nhất. Ngoài mức phát triển, th́ tôi thấy, cường độ của ước muốn cá nhân cũng có ảnh hưởng đến tần số xuất hiện và h́nh thức của sự trợ giúp, mà người ta nhận được từ vị hướng đạo của ḿnh trong một kiếp sống.

Về giới tính của vị hướng đạo, th́ tôi thấy rằng, không nhất thiết vị ấy phải cùng giới tính hay khác giới tính với linh hồn mà họ phụ trách. Trên đại thể, th́ linh hồn chấp nhận cái giới tính của vị hướng đạo của ḿnh, xem đó là điều hoàn toàn tự nhiên. Có thể biện luận rằng, sở dĩ như vậy, là bởi v́, qua những kỷ nguyên của thời gian tương đối [cơi trần], linh hồn đă từng là đàn ông và đàn bà, nên nó đă quen với tất cả mọi giới tính. Về giới tính của vị hướng đạo, th́ những thân chủ không cho rằng, giới tính này th́ hữu hiệu hơn giới tinh kia. Vài vị hướng đạo hiện ra lúc th́ đàn ông, lúc th́ đàn bà – để mang đến sự hỗ trợ cho những linh hồn nào thực sự “ái nam ái nữ” (98) [androgynous]. Một thân chủ bảo tôi, “Vị hướng đạo của tôi đôi khi là Alexis hay Alex, đi vào đi ra cả hai giới tính, tùy thuộc vào việc tôi cần lời khuyên liên quan đến nữ giới hay nam giới.”

Từ những ǵ tôi có thể xác định, th́ thủ tục tuyển chọn “giáo viên” được thực hiện cẩn thận trong thế giới linh hồn. Mọi hữu thể người có ít nhất một vị hướng đạo, ở tŕnh độ “cao cấp,” hay cao hơn – vị này được phân công phụ trách linh hồn từ khi nó được “tạo dựng” lần đầu tiên. Về sau trong đời, nhiều người trong chúng ta tiếp nhận thêm một vị hướng đạo thứ yếu [secondary], ít kinh nghiệm hơn, như Karla trong chương vừa rồi. V́ thiếu một từ tốt hơn, tôi đă tạm gọi những “giáo sinh” này là “những vị hướng đạo sơ cấp.” [junior guides].

Những linh hồn đang mơ ước trở thành vị hướng đạo “sơ cấp,” có thể dự kiến bắt đầu việc giảng dạy của họ ở gần cuối cấp độ III, khi họ tiến về những giai đoạn “cao trung” [upper intermediate] của sự phát triển.

Thực ra, chúng ta bắt đầu việc giảng dạy của ḿnh như là vị hướng đạo “trợ lư,” lâu trước khi đạt tới mức IV. Trong những giai đoạn thấp hơn của sự phát triển, chúng ta có thể giúp đỡ những người khác trong đời [ở Cơi Trần] (99) như là những người bạn, và trong thế giới linh hồn, trợ giúp những bạn cùng nhóm của chúng ta với lời khuyên nhủ. Những nhiệm vụ giảng dạy của vị hướng đạo “sơ cấp” hay “cao cấp,” dường như phản ánh ư chí của vị hướng đạo ở đẳng cấp “tôn sư” [master guide] – vị này tạo ra một loại “ban chỉ đạo,” tương tự như một “ban quản trị,” để đôn đốc những vị hướng đạo trẻ hơn của thế giới linh hồn. Chúng ta sẽ thấy những thí dụ về quá tŕnh phát triển của vị hướng đạo, trong chương 10 và 11, mà sẽ thảo luận những ca về những linh hồn tiến hóa hơn.
Có phải mọi vị hướng đạo đều có khả năng giảng dạy ngang nhau, và điều này có ảnh hưởng đến kích cỡ của cái nhóm mà chúng ta được xếp vào, trong thế giới linh hồn? Đoạn sau đây, được lấy từ hồ sơ của một linh hồn giàu kinh nghiệm, thảo luận câu hỏi này với tôi.


CA 17:

* TS N: Tôi ṭ ṃ muốn biết những nhiệm vụ của người “giáo viên” trong thế giới linh hồn, có liên hệ đến những khả năng của họ trong việc giúp những linh hồn chưa phát triển. Khi những linh hồn trở thành những vị hướng đạo, th́ họ được phân công phụ trách khá nhiều linh hồn?

+CT: Chỉ những người giàu kinh nghiệm giảng dạy hơn.

* TS N: Tôi tưởng tượng rằng, việc phụ trách những nhóm linh hồn đông đúc, có thể trở thành một trách nhiệm khá nặng nề cho một vị hướng đạo “cao cấp”– thậm chí với một trợ lư.

+ CT: Họ có thể xử lư nó. Kích cỡ [của nhóm] không thành vấn đề.

* TS N: Tại sao không?

+ CT: Một khi bạn có năng lực và thành công trên cương vị giáo viên, th́ số lượng linh hồn được giao cho bạn phụ trách, là không quan trọng. Vài nhóm có nhiều linh hồn và những nhóm khác, không nhiều.

* TS N: Như vậy, nếu bạn là một “linh hồn cao cấp” [senior] có hào quang màu thiên thanh nhạt, th́ kích cỡ lớp học không thành vấn đề, bởi v́ bạn có khả năng xử lư những số lượng lớn linh hồn?

+ CT: Tôi không nói chính xác như thế. Nhiều cái tùy thuộc vào những loại linh hồn trong một nhóm và kinh nghiệm của những vị hướng đạo. Trong những cụm lớn hơn, họ cũng có sự trợ giúp nữa, ông biết đó.

* TS N: Ai được trợ giúp?

+ CT: Những vị hướng đạo mà ông đang gọi là “cao cấp” [seniors].

* TS N: Vậy, ai trợ giúp họ?

+ CT: Những giám thị [overseers]. Các vị này là những kẻ chuyên nghiệp thực thụ.

* TS N: Tôi nghe nói rằng, các vị này được gọi là các “bậc tôn sư.” [master teachers]

+ CT: Mô tả họ như thế, không tệ lắm.

* TS N: Họ phát ra màu năng lượng ǵ?

+ CT: Nó màu … tim tím [purplish].

CHÚ THÍCH: Như được chỉ rơ trong đồ họa III, trong chương vừa rồi, những biên độ [ranges] thấp hơn của cấp độ V, phát ra một năng lượng màu thiên thanh. Với sự phát triển đi lên, hào quang này trở nên đậm đặc hơn, trước hết, sang màu thiên thanh sẫm của lúc nửa đêm, và sau cùng, sang màu tím đậm, tượng trưng cho sự hoàn thiện của một vị tôn sư đă đạt tới cấp độ VI.

* TS N: Dường như những vị hướng đạo có những phương pháp giảng dạy khác nhau. Vậy, tất cả họ có cái ǵ chung?

+ CT: Họ sẽ không là vị thầy, nếu họ không yêu nghề và ước mơ giúp chúng ta gia nhập vào hàng ngũ của họ.

* TS N: Hăy định nghĩa cho tôi, tại sao những linh hồn được tuyển chọn làm vị hướng đạo. Hăy đưa ra một vị hướng đạo tiêu biểu và nói cho tôi biết, những linh hồn tiến hóa cao có những phẩm chất ǵ.

+ CT: Họ phải từ bi, mà không quá dễ dăi với bạn. Họ không phán xét. Bạn không phải làm theo cách của họ. Họ không câu thúc bạn bằng cách áp đặt những giá trị của họ lên bạn.

* TS N: Được rồi, đó là những điều mà những vị hướng đạo không làm. Nếu họ không chỉ đạo những linh hồn một cách quá chặt chẽ, th́ đâu là những cái quan trọng mà họ làm, như anh thấy?

+ CT: Uh…họ tạo ra khí thế trong những khu vực của họ, và truyền dần ḷng tự tin – tất cả chúng tôi biết rằng, họ đă kinh qua nhiều trải nghiệm. Chúng tôi chấp nhận con người của chính ḿnh như là những cá nhân, với cái quyền được phạm những sai lầm.

* TS N: Tôi phải nói, tôi đă phát hiện ra, những linh hồn rất trung thành với vị hướng đạo của họ.

+ CT: Bởi v́ họ không bỏ rơi bạn.

* TS N: Theo anh, th́ thuộc tính quan trọng nhất của bất cứ vị hướng đạo nào là ǵ?

+ CT: [không do dự] Khả năng động viên bạn và truyền cho bạn ḷng can đảm.

Ca kế tiếp của tôi sẽ cung cấp một thí dụ về những hành động của một vị hướng đạo “vẫn-c̣n-đầu-thai” (100) [still-incarnating]. Vị hướng đạo này được gọi là Owa, và ông ta đại diện cho những phẩm chất của một vị thầy tận tụy, mà chủ thể ca vừa rồi đă nói đến. Rơ ràng là, những nhiệm vụ của ông với tư cách là vị hướng đạo, bao gồm việc chăm sóc “đệ tử” của ḿnh một cách trực tiếp trong ca 18, và phương pháp của ông rơ ràng là đă không thay đổi.

Thân chủ tôi sửng sốt khi cô nhận ra sự đầu thai gần đây nhất của vị hướng đạo của cô. Owa xuất hiện lần đầu tiên trong quá khứ của thân chủ tôi, vào khoảng năm 50 t. CN. Ông ta được mô tả như là một cụ già sống trong một ngôi làng Judea, bị xâm chiếm bởi những người lính La Mă. Ca 18 lúc bấy giờ là một cô gái trẻ, bị mồ côi bởi một trận càn của người La Mă chống lại những kẻ bất phục tùng địa phương. Trong cảnh mở màn của kiếp quá khứ này, cô nói rằng, cô đang làm việc trong một quán rượu như là một nô lệ thật sự. Là một kẻ tôi tớ, cô thường trực bị chủ đánh đập và thỉnh thoảng bị hăm hiếp bởi những khách hàng La Mă. Cô chết ở tuổi 26, v́ làm việc quá sức, bị ngược đăi và tuyệt vọng. Từ tâm trí tiềm thức của cô, vị thân chủ này nói về một cụ già trong làng cô: “Tôi làm việc ngày đêm và cảm thấy tê dại v́ đau đớn và tủi nhục. Cụ là người duy nhất tử tế với tôi – dạy tôi tin vào chính ḿnh – có đức tin vào một cái ǵ cao hơn và đẹp hơn những người tàn nhẫn xung quanh tôi.”

Về sau, trong trạng thái siêu thức, thân chủ này mô tả chi tiết những phần của những kiếp sống khó khăn khác, mà trong đó, Owa hiện ra như là một người bạn tâm phúc, và một lần, như là một người anh. Trong t́nh trạng [siêu thức] này, cô thấy tất cả những người này đều cùng là một thực thể, và có thể gọi tên linh hồn này như là Owa, vị hướng đạo của cô. Có nhiều kiếp sống Owa không xuất hiện, và đôi khi sự tiếp xúc vật lư của ông chỉ thoáng qua, khi ông đến để giúp cô. Đột nhiên tôi hỏi, bây giờ, Owa có thể đang ở trong đời cô không? Sau một lúc do dự, thân chủ tối bắt đầu run rẩy không kiểm soát được. Nước mắt ứa ra và cô khóc to khi thấy cái “h́nh ảnh” [vision] trong tâm trí cô.

CA 18:

+ CT: Ồ, lạy Chúa – tôi biết mà ! Tôi biết có một cái ǵ đó khác biệt ở đứa bé.

* TS N: Là ai vậy?

+ CT: Con trai tôi! Owa là con trai Brandon của tôi.

* TS N: Con trai cô thực sự là Owa?

+ CT: Vâng, vâng! [cười và khóc cùng một lúc] Tôi biết điều đó! Tôi biết ngay từ ngày tôi sinh nó ra – một cái ǵ đó quen thuộc một cách tuyệt vời và đặc biệt với tôi – đó không chỉ là một hài nhi yếu đuối …ồ

* TS N: Cô biết ǵ vào cái ngày đứa bé ra đời?

+ CT: Tôi không thực sự biết – tôi cảm thấy bên trong, một cái ǵ đó khác thường, chứ không chỉ là sự phấn chấn mà một người mẹ cảm thấy khi sinh đứa con đầu ḷng. Tôi cảm thấy đứa bé đến đây để giúp đỡ tôi – ông không thấy sao? Ồ, thật quá tuyệt vời – đúng vậy – chính là ông ấy!

* TS N: [tôi làm cho thân chủ tôi trầm tĩnh lại trước khi tiếp tục, bởi v́ sự ngọ nguậy kích động của cô sắp đưa cô sang phía bên kia cái ghế dựa] Tại sao cô nghĩ rằng Owa tái sinh làm Brandon, con trai của cô?

+ CT: [bây giờ đă b́nh tĩnh hơn, nhưng vẫn khóc thút thít] Để đưa tôi qua khỏi giai đoạn tồi tệ này…với những con người khắc nghiệt, họ không chấp nhận tôi. Ông ấy hẳn đă biết rằng, tôi đă ở trong một giai đoạn rắc rối dài, và quyết định đến với tôi như là con trai tôi. Chúng tôi đă không trao đổi chuyện này với nhau trước khi tôi ra đời…Thật là một ngạc nhiên tuyệt vời…

CHÚ THÍCH: Vào thời điểm của phiên thôi miên này, thân chủ tôi đang ra sức để giành uy tín trong một thương vụ có tính cạnh tranh cao. Cô đang gặp những rắc rối về hôn nhân tại nhà, một phần, do cô là người lao động chính của gia đ́nh. Kể từ đó, tôi biết rằng cô đă ly hôn.

* TS N: Cô có cảm nhận một cái ǵ đó khác thường nơi đứa bé sơ sinh, sau khi cô đưa nó về nhà?

+ CT: Vâng, điều đó đă bắt đầu tại bệnh viện, và cảm nhận này chưa bao giờ rời bỏ tôi. Khi tôi nh́n vào đôi mắt nó, th́ nó… xoa dịu tôi. Đôi khi, tôi về nhà, mệt nhoài, quá mệt và kiệt sức, đến nỗi tôi cáu kỉnh với nó khi người giữ trẻ ra về. Nhưng nó kiên nhẫn với tôi. Thậm chí, tôi không cần phải ẵm nó lên. Cách nó nh́n tôi th́…rất khôn ngoan. Cho đến nay, tôi không hoàn toàn hiểu điều này có nghĩa ǵ. Nhưng bây giờ, tôi biết! Ồ, thật là một phúc lành. Trước đây, thậm chí, tôi không chắc, liệu tôi có nên sinh con hay không – nhưng bây giờ, th́ tôi hiểu mọi sự.

* TS N: Cô hiểu cái ǵ?

+ CT: [bằng giọng cương quyết] Trong khi tôi thăng tiến trong nghề nghiệp của ḿnh, th́ người ta đang trở nên…khắc nghiệt hơn…không chấp nhận những ǵ tôi biết và có thể làm. Chồng tôi và tôi đang lục đục. Anh ấy chỉ trích tôi về việc tôi quá cố sức…muốn thành đạt. Owa-Brandon ở đây – để giúp tôi có đủ nghị lực khắc phục khó khăn.

* TS N: Và cô có nghĩ, thật tốt là chúng ta đă phát hiện rằng, vị hướng đạo của cô đang tái sinh làm Brandon trong kiếp này?

+ CT: Vâng, nếu Owa không muốn tôi biết rằng ông ấy đă quyết định trở lại Cơi Trần, th́ có lẽ tôi đă không đến gặp ông – ư tưởng đó đă không xuất hiện trong tâm trí tôi.

Ca khác thường này tiêu biểu cho cảm xúc choáng váng mà một thân chủ cảm thấy, khi được tiếp xúc với vị hướng đạo của ḿnh, ngay ở Cơi Trần. Hăy chú ư : vai tṛ mà Owa chọn, không xâm phạm đến cái vai tṛ tiêu biểu nhất thường được nắm giữ bởi một “bạn linh hồn.” Ông ấy không tái sinh để làm chồng cô, và không bao giờ, trong bất cứ kiếp quá khứ nào của cô. Chắc chắn là, bạn linh hồn có thể giữ những vai tṛ khác, trừ ra vai tṛ của người phối ngẫu. Nhưng một vị hướng đạo “vẫn-c̣n-đầu-thai” [incarnating] không giữ một vai tṛ mà có thể “vượt quá giới hạn” giữa 2 bạn linh hồn đang cùng nhau làm việc trong đời họ.

Bạn linh hồn của vị thân chủ này, t́nh cờ, là một bồ cũ [old flame] từ trường trung học. Dựa trên mọi thông tin mà tôi đă có thể thu thập, th́ Owa có vẻ như đă di chuyển sang cấp độ của một vị hướng đạo “sơ cấp” trong 2000 năm qua. Có thể, ông ta sẽ “tốt nghiệp” ở mức [hào quang] thiên thanh của một vị hướng đạo “cao cấp” trước khi vị thân chủ này đủ tiêu chuẩn để tiến lên từ hào quang màu trắng sang màu vàng. Bất luận việc này (101) phải mất bao nhiêu thế kỷ, th́ Owa sẽ vẫn là vị hướng đạo của cô, cho dẫu có thể ông ta không bao giờ đầu thai trở lại với cô trong một kiếp sống nào đó.

Có bao giờ chúng ta bắt kịp những vị hướng đạo của ḿnh trong sự phát triển không? Sau cùng, có lẽ chúng ta sẽ bắt kịp họ; nhưng tôi có thể nói rằng, tôi chưa từng thấy bất cứ bằng chứng nào về điều này trong những ca của ḿnh. Những linh hồn nào [mà] phát triển tương đối nhanh, th́ đó là những linh hồn tài ba, song những vị hướng đạo trợ giúp họ, cũng vậy.

Không phải là bất thường khi thấy hai vị hướng đạo tạo thành một cặp, làm việc với những người ở Cơi Trần, mỗi vị có những phương pháp giảng dạy riêng của ḿnh. Trong những ca này, có một ca nổi bật hơn, mặc dù vị hướng đạo cao cấp giàu kinh nghiệm hơn có thể thực sự khó nhận diện hơn, trong những sinh hoạt thường nhật của những linh hồn do họ phụ trách. Tại sao hai vị hướng đạo được phân công phụ trách một linh hồn? Có hai lư do: a/ một trong hai vị, là vị hướng đạo sơ cấp, trợ lư cho một vị hướng đạo cao cấp, b/ Hai vị hướng đạo này đă kết giao với nhau quá lâu năm – với tư cách là một vị hướng đạo “cao cấp” [senior] với một “bậc tôn sư” [master] – đến nỗi, họ đă phát triển một mối quan hệ thường hằng. Vị hướng đạo cao cấp có thể đă có cụm linh hồn riêng của ḿnh – cụm đó vẫn đang được giám sát bởi một vị tôn sư [master] trông coi một số nhóm linh hồn.

Những vị hướng đạo không can thiệp vào công việc của nhau, trong hay ngoài thế giới linh hồn. Tôi có một người bạn thân, mà những vị hướng đạo của anh ấy cho thấy, hai vị thầy làm việc với nhau, bổ sung cho nhau ra sao. Trong ca này, tôi đă quan sát thấy cái cách mà hai vị hướng đạo của người bạn này tương tác trong những hoàn cảnh khác nhau trong đời. Vị hướng đạo sơ cấp của bạn tôi xuất hiện dưới h́nh thức một nữ y sĩ Bản địa Mỹ, nhân ái, gọi là Quan. Ăn vận đơn giản trong y phục bằng da nai bó sát, mái tóc dài chải ra đằng sau, khuôn mặt mịn màng của cô tắm trong làn ánh sáng rực rỡ trong những “hiện h́nh” của cô.

Khi được kêu gọi, Quan cung cấp sự minh mẫn và sự hiểu biết về những biến cố và những cá nhân có liên hệ với những biến cố nào đó, vốn gây rắc rối cho bạn tôi. Ước muốn của Quan – làm nhẹ gánh nặng của cuộc sống hơi khó khăn mà bạn tôi đă chọn – th́ được tiết chế bởi một nhân vật nam ưa thách thức, gọi là Giles. Giles rơ ràng là vị hướng đạo cao cấp, có thể gần đạt tới đẳng cấp “tôn sư” [master] trong thế giới linh hồn. Trên cương vị này, ông không xuất hiện thường xuyên như Quan. Khi Giles thực sự đi vào trong “ư thức cao hơn” của bạn tôi, th́ ông ta đến hết sức đột ngột. Đây là một thí dụ tiêu biểu cho thấy một vị hướng đạo cao cấp hoạt động một cách khác biệt ra sao với một vị hướng đạo sơ cấp.


CA 19:

* TS N: Khi bạn suy tư sâu về một vấn đề nghiêm trọng, th́ Giles đến với bạn như thế nào?

+ CT: [cười] Không như Quan – tôi có thể nói với ông như thế. Thường khi, ban đầu, ông ấy thích…tự che giấu một chút…đằng sau một cái bóng…bằng hơi nước màu thiên thanh. Tôi nghe ông ấy cười khúc khích trước khi tôi thấy ông ấy.

* TS N: Bạn muốn nói, ban đầu, ông ta xuất hiện dưới h́nh thức năng lượng thiên thanh?

+ CT: Vâng…để tự che giấu ḿnh một chút – ông ấy thích “bí mật,” nhưng nó không kéo dài lâu.

* TS N: Tại sao vậy?

+ CT: Tôi không biết – để chắc rằng, tôi thực sự cần ông ấy, tôi đoán thế.

* TS N: Vâng, khi ông ta xuất hiện, Giles nom ra sao với bạn?

+ CT: Một vị thần Ái Nhĩ Lan.

* TS N: Ồ, vậy, ông ta là một người đàn ông nhỏ bé?

+ CT: [lại cười] Một vị thần tinh nghịch – mái tóc rối qua khuôn mặt nhăn nheo – ông ấy nom nhếch nhác và di chuyển liên tục khắp mọi hướng.

* TS N: Tại sao ông ta làm thế?

+ CT: Giles là một nhân vật tinh quái – nôn nóng, nữa – ông ấy chau mày nhiều lần trong khi ông ấy đi đi lại lại đằng trước tôi, hai cánh tay nắm chặt ra phía sau.

* TS N: Và bạn giải thích hành vi này như thế nào?

+ CT: Giles th́ không đĩnh đạc như vài vị hướng đạo… nhưng ông ấy rất thông minh…tinh quái [crafty].

* TS N: Bạn có thể nói rơ hơn, cách hành xử này có quan hệ với bạn ra sao?

+ CT : [căng thẳng] Giles đă khiến cho tôi nh́n những kiếp sống của ḿnh như là một ván cờ, mà Cơi Trần là bàn cờ. Những nước cờ nào đó mang lại những kết quả nào đó, và không có giải pháp nào dễ dàng cả. Tôi đặt kế hoạch, và rồi, mọi sự “hỏng bét” suốt ván cờ trong đời tôi. Đôi khi tôi nghĩ, ông ấy đặt những cái bẫy trên bàn cờ để tôi t́m cách thoát ra.

* TS N: Cái kỹ thuật này của Giles có giúp bạn thành công? Ông ta có trợ giúp trong việc giải quyết vấn đề của bạn trong ván cờ đời không?

+ CT: [ngừng một lát] Nhiều, về sau…ở đây [trong thế giới linh hồn]… nhưng, ông ấy bắt tôi làm việc quá vất vả ở Cơi Trần.

* TS N: Bạn có thể loại bỏ ông ta và chỉ làm việc với Quan?

+ CT: [mỉm cười một cách tiếc rẻ] Ở đây, không có chuyện đó. Vả lại, ông ấy rất thông minh.

* TS N: Như thế, chúng ta không phải chọn vị hướng đạo của ḿnh?

+ CT: Tuyệt đối không. Họ chọn chúng ta.

* TS N: Bạn có 2 vị hướng đạo, họ tiếp cận những vấn đề của bạn quá khác nhau trong cách mà họ giúp đỡ bạn. Bạn có biết tại sao không ?

+ CT: Không, tôi không biết, nhưng tôi tự cho rằng ḿnh rất may mắn. Quan rất…dịu dàng…và cô ấy luôn luôn hỗ trợ tôi.

CHÚ THÍCH: Những “nhập thể” [embodiments] của những người Mỹ Bản Địa mà đă một lần sống tại Bắc Mỹ, trở thành những vị hướng đạo tâm linh hùng mạnh cho những ai [trong chúng ta] theo họ để sống trên vùng đất này. Một số lượng lớn những người Mỹ tường thuật rằng, họ có những vị hướng đạo như thế. Điều ấy tăng cường niềm tin của tôi rằng, những linh hồn bị lôi cuốn tới những khung cảnh địa lư mà chúng đă biết trong những lần đầu thai trước kia.

* TS N: Bạn thích cái ǵ nhất trong những phương pháp giảng dạy của Giles?

+ CT: [trầm tư] Ồ, cái cách mà ông ấy trêu ghẹo tôi – hầu như giễu cợt, để tôi “chơi” tốt hơn trong tṛ chơi, và ngừng tự thương xót ḿnh. Khi những sự việc trở nên đặc biệt khó khăn, th́ ông ấy nói khích tôi để tôi không bỏ cuộc...động viên tôi sử dụng mọi khả năng của ḿnh. Không có ǵ “dịu dàng” [soft] nơi Giles.

* TS N: Và bạn cảm nhận cái sự “kềm cặp” [coaching] này ở Cơi Trần, ngay cả khi bạn và tôi không đang làm việc cùng nhau?

+ CT: Vâng, khi tôi hành thiền và đi vào trong chính ḿnh…hay trong những giấc mơ của tôi.

* TS N: Và Giles đến khi bạn cần ông ta?

+ CT: [sau chút do dự] Không…mặc dù có vẻ như tôi vẫn ở cùng ông ấy măi măi. Quan đến với tôi nhiều hơn. Tôi không thể “tóm lấy” Giles trong bất cứ t́nh huống nào mà tôi muốn, trừ phi những ǵ tôi đang xúc tiến, là thực sự nghiêm trọng. Ông ấy rất khó nắm bắt.

* TS N: Hăy tóm tắt những cảm nhận của bạn về Quan và Giles cho tôi.

+ CT: Tôi yêu thương Quan, xem cô ấy là một người mẹ, nhưng tôi đă không ở nơi tôi đang ở, nếu không có kỷ luật của Giles. Cả hai đều khéo léo, bởi v́ họ để cho tôi hưởng lợi từ những sai lầm của ḿnh.

Cả hai vị hướng đạo này hợp tác với nhau, đó là “thủ tục chuẩn” cho những ai có 2 vị hướng đạo. Trong ca này, Giles thích dạy những bài học về nghiệp báo [karma] bằng phương pháp của Socrates. (102) Không cung cấp những đầu mối trước, ông ta đoan chắc rằng, việc giải quyết những vấn đề quan trọng, th́ không bao giờ dễ dàng cho bạn tôi. Quan, trái lại, cung cấp niềm an ủi và sự động viên dịu dàng.

Khi bạn tôi đến với tôi cho một phiên thôi miên, th́ tôi nhận biết rằng, Quan vẫn lưu lại trong hậu trường khi Giles xuất hiện và năng động. Giles là một vị hướng đạo ân cần – mọi vị hướng đạo đều ân cần – nhưng ở Giles, không có một dấu vết nào của sự nuông chiều. Nghịch cảnh được phép xảy ra, đến những giới hạn tuyệt đối – nơi mà mà bạn tôi không c̣n đủ sức đương đầu – trước khi những giải pháp đột nhiên mở ra. Thành thật mà nói, tôi thấy Giles là một “quản đốc” [taskmaster] độc ác. Quan điểm này không thực sự được chia sẻ bởi bạn tôi, vốn biết ơn về những thách thức được cung cấp bởi vị thầy phức tạp này. Một vị hướng đạo trung b́nh th́ như thế nào? Theo kinh nghiệm của tôi, th́ không có hai vị hướng đạo giống hệt nhau. Những thực thể “cao cấp,” tận tụy này cho tôi ấn tượng rằng, họ có những thái độ “đong đưa” đối với tôi, từ phiên thôi miên này sang phiên kế tiếp, và thậm chí, bên trong cùng một phiên với một thân chủ. Họ có thể hợp tác hay ngăn trở, khoan dung hay thiếu nhiệt t́nh, né tránh hay cởi mở, hay hoàn toàn không quan tâm về bất cứ cái ǵ mà tôi làm với một thân chủ. Tôi hết sức kính trọng những vị hướng đạo, bởi v́ những nhân vật hùng mạnh này đóng một vai tṛ quá quan trọng trong số phận chúng ta, nhưng tôi phải thừa nhận rằng, họ có thể làm hỏng những điều-nghiên của tôi. Tôi thấy họ bí ẩn, bởi v́ không thể đoán trước là họ sẽ phản ứng ra sao, khi tôi đang đóng vai một “điều giải viên” [facilitator].

Đầu thế kỷ này, những “con đồng” làm việc với những người trong cơn thôi miên thường gọi bất cứ thực thể vô h́nh nào trong pḥng là một “kiểm soát viên,” bởi v́ vị ấy chỉ đạo những truyền thông [tâm linh] diễn ra trong phiên thôi miên đó. Người ta nhận ra rằng, một “kiểm soát viên” [bất luận vị ấy có phải là một vị hướng đạo hay không] có những “mẫu” năng lượng vốn ḥa điệu về cảm xúc, trí thức, và tâm linh với thân chủ. Tầm quan trọng của mẫu năng lượng hài ḥa, giữa điều giải viên và những thực thể này cũng được biết đến. Nếu một “kiểm soát viên” đang ngăn chặn những điều tra của tôi với một thân chủ, th́ tôi t́m kiếm lư do tại sao điều này đang xảy ra. Trong phiên thôi miên, th́ nếu gặp vài vị hướng đạo ưa ngăn chặn, tôi phải “chiến đấu” cho mọi mảnh thông tin, trong khi những người khác cho tôi nhiều tự do hơn. Tôi không bao giờ quên rằng, những vị hướng đạo có mọi quyền để ngăn chặn, không cho tôi tiếp cận những vấn đề với những linh hồn ở dưới sự chăm sóc của họ. Dù sao đi nữa, th́ những người của họ chỉ là thân chủ của tôi trong một thời gian ngắn thôi.

Thành thật mà nói, tôi thà không có sự tiếp xúc nào với vị hướng đạo của một thân chủ, c̣n hơn là làm việc với một vị hướng đạo “khó tính”: vị này có thể giúp tôi ở một thời điểm và rồi, ngăn chặn hồi ức của thân chủ, trong phần kế tiếp của một phiên thôi miên.

Tôi tin rằng, khi một vị hướng đạo ngăn chặn thông tin, th́ vị ấy có một động cơ sâu xa, chứ không chỉ đơn thuần chống lại cái chiều hướng tâm lư học trước mắt, mà một phiên trị liệu đang đi theo. Tôi đang thường trực t́m kiếm những dữ liệu mới về thế giới linh hồn. Một vị hướng đạo vốn cho phép một thân chủ tự do nhớ lại những kiếp quá khứ, có thể do dự trước những câu hỏi quá sâu rộng của tôi về cuộc sống trên những hành tinh khác, về cấu trúc của thế giới linh hồn, hay về chính Cuộc Sáng Thế. (103) Đây là lư do tại sao mà tôi chỉ có thể sưu tập những bí mật tâm linh này từng chút một, từ một khối lượng lớn thông tin cung cấp bởi thân chủ – sự ngăn chặn phản ánh sự thận trọng của nhiều vị hướng đạo. Tôi cũng cảm thấy rằng, tôi đang tiếp nhận sự trợ giúp từ chính vị hướng đạo tâm linh của chính tôi trong những truyền thông với những thân chủ và những vị hướng đạo của họ.

Thỉnh thoảng, một thân chủ sẽ diễn đạt sự bất măn với vị hướng đạo của chính ḿnh. Điều này, thường chỉ là tạm thời. Ở bất cứ thời gian nào, người ta có thể tin rằng, vị hướng đạo của họ quá “khó tính” và không làm việc cho những quyền lợi tốt nhất của họ, hay không chú ư tới họ một cách thích đáng. Một lần, một thân chủ của tôi bảo tôi rằng, anh ta đă cố gắng một thời gian dài để có một vị hướng đạo khác. Anh ta nói: “Vị hướng đạo của tôi đang ngăn trở tôi, cô ấy không tận t́nh với tôi như tôi mong muốn.” Người đàn ông này bảo tôi rằng, ước muốn thay đổi vị hướng đạo của anh ta không được tôn trọng. Tôi quan sát thấy rằng, anh ta trải qua thời gian đáng kể một ḿnh, không có nhiều tương tác nhóm sau 2 kiếp sống vừa qua của anh ta, bởi v́ anh ta không chịu xử lư những vấn đề của bản thân. Anh ta bày tỏ sự giận dữ đối với vị hướng đạo của ḿnh, về việc không cứu anh ta thoát khỏi những t́nh huống tồi tệ.

Thực ra, những vị thầy không quá bực ḿnh với chúng ta đến mức xa lánh chúng ta, nhưng tôi nhận thấy rằng, họ có một cách “lánh mặt” khi những học tṛ bất măn trốn tránh việc giải quyết vấn đề một cách nghiêm túc. Những vị hướng đạo chỉ muốn cái tốt nhất cho chúng ta và đôi khi điều này có nghĩa là, họ muốn thấy chúng ta chịu đựng nhiều đau đớn để đạt tới những mục tiêu nào đó. Những vị hướng đạo không thể trợ giúp chúng ta tiến bộ, cho đến khi chúng ta sẵn sàng làm những thay đổi cần thiết để tận dụng những Cơ Hội của đời.

Chúng ta có lư do để sợ những vị hướng đạo của ḿnh không? Trong chương V, với ca 13, chúng ta thấy một linh hồn non trẻ, mà ngay sau cái chết, biểu lộ sự run sợ trước việc gặp vị hướng đạo Clodees cho cuộc “phỏng vấn.” B́nh thường, th́ nỗi lo sợ này không kéo dài. Chúng ta có thể cảm thấy chán nản khi phải giải thích cho những vị hướng đạo của ḿnh, tại sao những mục tiêu không đạt được, nhưng họ hiểu. Họ muốn chúng ta thuyết minh những kiếp quá khứ của ḿnh, để có thể góp phần vào việc phân tích những sai lầm.

Những thân chủ của tôi biểu lộ mọi loại t́nh cảm về những vị hướng đạo của họ, nhưng sợ hăi th́ không. Trái lại, người ta lo lắng hơn về việc bị những cố vấn bỏ rơi, ở những giai đoạn khó khăn trong đời họ. Mối quan hệ của chúng ta với những vị hướng đạo, là mối quan hệ thầy/tṛ, hơn là quan ṭa /bị cáo. Khi bước vào cuộc sống vật lư, th́ mọi linh hồn đều phải chịu sự ly cách và cô lập, bất luận chúng được gia đ́nh yêu mến đến mức nào chăng nữa. Những vị hướng đạo giúp chúng ta đương đầu với sự ly cách và cô lập đó. Họ cũng cho chúng ta một khẳng định về “Bản Ngă” [Self] trong một thế giới đông đúc.

Người ta muốn biết, liệu những vị hướng đạo của họ có luôn luôn đến bất cứ khi nào họ kêu cứu hay không. Những vị hướng đạo không nhất quán trong cách thức mà họ chọn việc trợ giúp chúng ta, bởi v́ họ cẩn thận đánh giá, xem chúng ta cần đến họ tới mức nào. Tôi cũng được hỏi, liệu thôi miên có phải là cách tốt nhất để tiếp xúc với vị hướng đạo của ḿnh hay không. Tôi chọn phương pháp thôi miên, bởi v́ tôi biết, cái phương tiện này công hiệu [potent] và hữu hiệu ra sao, trong việc thu lượm thông tin tâm linh chi tiết. Tuy nhiên, b́nh thường th́ trong đời sống hằng ngày, thôi miên không thuận tiện so với thiền định, cầu nguyện, và có lẽ, việc truyền thông với một người khác.

Tự thôi miên, như là một h́nh thức thiền định sâu, là một thay thế rất tốt, và có thể được chọn bởi những ai sợ bị thôi miên bởi những người khác, hay không muốn sự can thiệp của một “thành phần” thứ hai trong cuộc sống tâm linh của họ.

Bất luận phương pháp nào được dùng, th́ tất cả chúng ta đều có năng lực gửi đi những làn sóng tư tưởng có tầm sâu và rộng, từ ư “thức cao hơn” của chúng ta. Đối với những vị hướng đạo, th́ những ư tưởng của mọi người đại diện cho những dấu vân tay, “đánh dấu” chúng ta là ai, và đang ở đâu.

Trong suốt đời ḿnh, nhất là trong những giai đoạn bị stress trầm trọng, đa phần mọi người cảm thấy sự hiện diện của một ai đó đang dơi theo họ. Có thể, chúng ta không có khả năng mô tả sức mạnh này, nhưng, nó ở đó. Vươn tới linh hồn chúng ta là bước đầu tiên trên cái thang dẫn đến việc t́m thấy cái sức mạnh cao hơn của ḿnh. Mọi cách truyền thông [tâm linh] – mà chúng ta dùng để vươn tới một Hữu thể Tối cao [God-head] (104) – đều được giám sát bởi những vị hướng đạo của chúng ta trên bước đi này. Chính họ cũng có những vị hướng đạo của họ, ở chỗ cao hơn trên cái thang. Toàn bộ cái thang được dùng như một “ống dẫn” không đứt đoạn, dẫn tới cội nguồn của mọi năng lượng thông minh, và mỗi bậc thang là một phần của cái toàn bộ.

Đức tin rằng, một lời nguyện cầu xin giúp đỡ, sẽ được đáp ứng bởi sức mạnh cao hơn của chính họ, là vô cùng thiết yếu cho mọi người. Đây là lư do tại sao những vị hướng đạo thật quan trọng cho cuộc sống trong thế giới linh hồn và trong cuộc sống trần thế của chúng ta. Nếu chúng ta thư giăn, và ở trong một trạng thái tập trung “nhất điểm,” th́ ta nghe được giọng nói nội tại của ḿnh. (105) Và, ngay cả khi chúng ta không tự ḿnh gửi đi thông điệp [cầu cứu], th́ chúng ta cũng nên tin cậy những ǵ mà chúng ta nghe.

Những cuộc khảo sát [có tầm] quốc gia bởi những nhà tâm lư học cho thấy rằng, 1/10 những người được khảo sát thừa nhận rằng, họ nghe những giọng nói mà thường là tích cực và bổ ích trong bản chất. Thật là một nỗi nhẹ nhơm cho nhiều người, khi biết rằng, những giọng nói nội tại của họ không phải là những ảo giác của những kẻ mắc bệnh tâm thần. Không có ǵ phải lo lắng về một tiếng nói nội tại, bởi v́ nó giống như tiếng nói của người cố vấn của chính bạn trên điện thoại. Thường khi, đây là giọng nói của những vị hướng đạo của chúng ta. Những vị hướng đạo – được phái đến phụ trách những linh hồn khác nhau – thực sự làm việc cùng nhau, “tiếp vận” những thông điệp tâm linh cho nhau. Những người không thể giúp chính họ trong những t́nh huống nguy kịch, có thể t́m thấy những cố vấn, bạn hữu, và ngay cả những người lạ, đến trợ giúp họ đúng lúc.

Trong đời sống thường nhật của ḿnh, th́ sức mạnh nội tại đến với chúng ta không phải do ta thấy những vị hướng đạo của ḿnh xuất hiện một cách rơ ràng, cho bằng từ những cảm nhận và cảm xúc mang đến cho chúng ta xác tín rằng, chúng ta không cô độc.

Những người đă lắng nghe và động viên tiếng nói nội tại của họ thông qua sự suy niệm tĩnh lặng, nói rằng, họ cảm thấy một sự kết nối cá nhân với một năng lượng vượt quá chính họ, cung cấp sự hỗ trợ và sự trấn an.

Nếu bạn thích gọi cái này là “hệ thống hướng dẫn nội tại” về cảm hứng hay trực giác, th́ cũng tốt, bởi v́ hệ thống này là một khía cạnh của chúng ta, cũng như của những sức mạnh cao hơn.

Vào những lúc rắc rối trong đời ḿnh, chúng ta có khuynh hướng cầu xin sự hướng dẫn để tức th́ chỉnh đốn sự việc. Khi họ ở trong cơn thôi miên, những thân chủ của tôi thấy rằng, những vị hướng đạo của họ không giúp họ giải quyết tất cả những vấn đề của họ ngay lập tức, mà đúng hơn, các vị soi sáng những lối đi bằng cách dùng những đầu mối.

Đây là một lư do tại sao tôi thận trọng khi trong cơn thôi miên, thân chủ bị “chặn,” không tiết lộ những thông tin nào đó. “Tri kiến” [insight] (106) th́ dễ dàng được phát lộ với một mức độ được kiểm soát, tùy theo mỗi người. Ở một thời điểm nào đó, một vị thầy thận trọng có thể không muốn tiết lộ cho học tṛ của họ mọi khía cạnh của một vấn đề nào đó. Chúng ta khác nhau trong khả năng xử lư những điều được tiết lộ.

Khi cầu xin trợ giúp từ sức mạnh tâm linh cao hơn của bạn, tôi nghĩ, tốt nhất, là không yêu cầu sự thay đổi tức th́. Mặc dù sự thành công của chúng ta trong đời, tùy thuộc vào việc hoạch định trước, nhưng chúng ta thực sự có những “lối đi thay thế” để chọn, nhằm vươn tới những mục tiêu nào đó. Khi t́m kiếm sự hướng dẫn, tôi gợi ư, chỉ thỉnh cầu sự giúp đỡ với bước kế tiếp trong đời bạn. Khi bạn làm điều này, hăy chuẩn bị cho những khả tính (107) bất ngờ.

Hăy có đức tin và sự khiêm cung để mở rộng ḷng ra trước sự đa dạng của những lối đi tiến về những giải pháp. Sau cái chết, chúng ta trở thành “linh hồn,” và không trải nghiệm nỗi buồn theo định nghĩa b́nh thường về cảm xúc, chẳng hạn như sầu muộn, được cảm nhận trong h́nh thức vật lư. Thế nhưng, như chúng ta đă thấy, những linh hồn không “dửng dưng’ [detached], lạnh lùng, vô cảm. Tôi đă học được rằng, những sức mạnh vốn theo dơi chúng ta, “họ” cũng cảm thấy cái mà tôi gọi là một “nỗi sầu muộn tâm linh,” khi họ thấy chúng ta làm những chọn lựa tồi tệ trong đời và trải nghiệm sự đau đớn.

Chắc chắn là, những bạn linh hồn và bạn cùng nhóm của chúng ta cảm thấy sầu muộn khi chúng ta bị dằn vặt, song những vị hướng đạo của chúng ta cũng vậy. Những vị hướng đạo có thể không bày tỏ nỗi sầu muộn trong những hội nghị định hướng và trong những cuộc thảo luận nhóm [trong thế giới linh hồn], nhưng họ sâu sắc cảm thấy những trách nhiệm của họ đối với chúng ta, với tư cách là những vị thầy.

Trong chương XI, chúng ta sẽ có một “góc nh́n”[perspective] về một vị hướng đạo ở cấp độ V. Tôi chưa bao giờ thấy một chủ thể đang sống đạt tới cấp độ VI, hay một vị hướng đạo ở đẳng cấp “tôn sư” [master guide]. Tôi đoán rằng, chúng ta không có nhiều những linh hồn tiến hóa cao này ở Cơi Trần, ở bất cứ một thời gian nào.

Phần lớn những người ở cấp độ VI, th́ quá bận rộn với việc vạch kế hoạch và chỉ đạo từ thế giới linh hồn, đến nỗi họ hiếm khi đầu thai trở lại Cơi Trần. Từ những bản tường thuật của những người ở cấp độ V mà tôi đă có, th́ dường như cấp độ VI không có bài học mới nào để học, nhưng tôi có một linh cảm rằng, một linh hồn cấp độ V, “vẫn-đang-đầu-thai,” có thể không biết tất cả những nhiệm vụ “bí truyền” [esoteric tasks] mà những thực thể ở đẳng cấp “tôn sư” phải thực hiện. Thỉnh thoảng, trong khi đang ở trong một phiên thôi miên với một linh hồn tiến hóa cao, tôi nghe những lời ám chỉ về một mức linh hồn c̣n cao hơn cấp độ VI. Những thực thể này – mà ngay cả bậc “tôn sư” cũng ở dưới sự chỉ đạo của họ – th́ ở trong biên độ [range] năng lượng màu đỏ tía. Những hữu thể “bề trên” [superior beings] này hẳn là ở gần sát với “Đấng Sáng Tạo.” (108) Tôi được cho biết rằng, những nhân vật “mờ ảo” này th́ rất khó tiếp cận, nhưng họ là những hữu thể rất được sùng kính trong thế giới linh hồn.

Thân chủ trung b́nh không biết, liệu có nên xếp những vị hướng đạo tâm linh vào một phạm trù thấp hơn thần linh, hay [có nên] xem họ là những vị thần có đẳng cấp thấp hơn. Không có ǵ bất ổn với bất cứ khái niệm tâm linh nào, miễn là nó cung cấp sự an ủi, sự “thăng hoa,” và có ư nghĩa với mỗi cá nhân.

Mặc dù vài thân chủ của tôi có khuynh hướng xem những vị hướng đạo như là “có phẩm chất thần linh,” nhưng các vị không phải là Thượng đế. Theo ư tôi, th́ những vị hướng đạo không có thần-tính nhiều hơn hay ít hơn chúng ta, và đó là lư do tại sao họ được xem như là những hữu thể “có ngôi vị” [personal]. Trong những ca của tôi, Thượng đế không bao giờ được nh́n thấy. Những người trong cơn thôi miên nói rằng, họ cảm thấy sự hiện diện của một sức mạnh tối cao đang chỉ đạo thế giới linh hồn, nhưng họ không thoải mái khi dùng chữ “Thượng đế” để mô tả một Kẻ Sáng Tạo. Có lẽ, triết gia Spinoza nói điều ấy một cách tốt nhất với những lời: “Thượng đế hiện hữu như là ‘Cái ấy’ [That], chứ không như là ‘Ông ấy’ ” [He] . (109)

Mọi linh hồn đều có một sức mạnh tâm linh cao hơn nối kết với sự hiện hữu của chúng. Mọi linh hồn đều là thành phần của cùng một “yếu tính thiêng liêng” [divine essence], khởi phát từ một Linh hồn Tối cao. Cái năng lượng thông minh này là đại đồng và như thế, tất cả chúng ta đều dự phần vào “thần tính” [divine status]. (110) Nếu linh hồn chúng ta phản ánh một mảnh nhỏ của Linh hồn Tối cao, mà chúng ta gọi là Thượng đế, th́ những những vị hướng đạo của chúng ta cung cấp tấm gương mà qua đó, chúng ta có thể thấy chính ḿnh được kết nối với “kẻ sáng tạo” [creator] này.


________

 

(93) Chú ư: Những “người bạn” trong ngữ cảnh này có thể trợ giúp chúng ta bằng 2 cách: a/ Họ vẫn lưu lại trong thế giới linh hồn, nhưng thường xuyên theo dơi, “phù hộ” chúng ta ở Cơi Trần. b/ Tái sinh xuống Cơi Trần, và sống với chúng ta như là những người thân thiết với ta [con cái, anh chị, em, bạn bè thân thiết … của chúng ta].

(94) On a conscious level: “trên một cấp độ hữu thức,” là để so sánh với “trên một cấp độ bất thức.” Cấp độ hữu thức có thể hiểu là “ư thức” [thức thứ 6 trong Duy Thức học]. Trái lại, cấp độ “bất thức” – hay tạm gọi là “vô thức và tiềm thức ” – là cấp độ nằm sâu hơn, mà “ư thức” không biết được.

(95) Nguyên tác: “I have the theory that guides appear to peple who are vey religious as figures of their faith.” Cần chú ư điểm này. Theo cách hiểu của chúng tôi th́, nếu ta có đức tin mạnh mẽ vào chúa Jesus, th́ vị hướng đạo của ta sẽ “xuất hiện ra” với ta trong h́nh ảnh Chúa Jesus – nhưng đó không phải thực sự là Chúa Jesus, mà có thể là, do cảm nhận “chủ quan,” ta đă thấy vị hướng đạo của ta qua h́nh ảnh đó.

(96) Đây là một điểm cần lưu ư: kẻ trợ giúp, “phù hộ” ta, thường là vị hướng đạo của ta, chứ không phải là “Thượng đế.”

(97) Chú ư: Vị hướng đạo của chúng ta có thể dơi theo ta, chăm sóc ta qua suốt hàng ngàn năm.

(98) Androgynous: “Trung tính”; lưỡng tính; ái nam, ái nữ.

(99) Bạn đọc chú ư điểm này: linh hồn, khi nó ở trong thế giới linh hồn, có thể trợ giúp cả những linh hồn khác trong thế giới linh hồn, lẫn những người đang sống ở Cơi Trần.

(100) Xin nhắc lại: Vị hướng đạo “vẫn-c̣n-đầu-thai,” tức là những vị vẫn c̣n tái sinh xuống Cơi Trần, để phân biệt với những vị hướng đạo “không-c̣n-đầu-thai,” nghĩa là họ vĩnh viễn lưu lại trong thế giới linh hồn – ở đây, họ vừa trợ giúp những linh hồn trong thế giới linh hồn, vừa có thể trợ giúp “học tṛ” của họ ở Cơi Trần.

(101) “Việc này,” trong ngữ cảnh này, là việc thân chủ có đủ tiêu chuẩn để chuyển sang hào quang màu vàng.

(102) Phương pháp của Socrates: Socrates dạy học tṛ bằng cách đối thoại: ông không đưa ra câu trả lời, mà chỉ đặt những câu hỏi – trong quá tŕnh “hỏi/đáp” này, người học tṛ dần dần nhận ra những sai lầm của ḿnh, và sau cùng, tự ḿnh t́m thấy câu trả lời.

(103) Creation: Việc tạo dựng ra vũ trụ và con người. Có rất nhiều quan niệm về “Cuộc Sáng Thế.” Và kẻ sáng tạo ra cuộc sáng thế cũng được gọi bằng nhiều tên khác nhau: Thượng đế, Đấng Sáng Tạo, Hóa Công, Đạo… tùy theo quan niệm của những trường phái triết học, những tôn giáo khác nhau.

(104) God-head: Tạm dịch là “Hữu thể Tối cao,” nhưng nó hơi khác với chữ “God,” Thượng đế. Theo các từ điển tiếng Anh, th́ “God-head” có nghĩa là “bản chất của Thượng đế,” [the nature of God], hoặc “yếu tính của Thượng đế,” [the essence of God].

(105) Inner voice: “giọng nói nội tại” – tức là giọng nói đến từ nơi sâu thẳm trong “tâm thức” mỗi người. Giọng nói này rất quan trọng, bởi v́ nó hướng dẫn ta phải làm cái ǵ, nhất là trong những cơn khủng hoảng, những tai họa, nghịch cảnh nào đó. Nhưng không dễ nghe được “giọng nói” đó – bởi v́ nó thường bị khuất lấp bởi rất nhiều “tiếng ồn” trong tâm thức ta. Có rất nhiều loại tiếng ồn: những lo toan về cuộc sống, những tạp niệm đủ loại “hằm bà lằng” vốn thường trực nổi lên trong tâm thức ta. Do vậy, muốn “nghe được” giọng nói đó, ta cần phải dẹp bỏ tạp niệm và đưa tâm thức về một trạng thái tĩnh lặng thích đáng. Thiền định là một trong những phương pháp rất tốt để “nghe” được “giọng nói nội tại.” Mỗi tôn giáo đều có những phương pháp tĩnh tâm, giúp ta nghe được tiếng nói sâu kín đó.

(106) Insight: Sự thấu hiểu bên trong sự vật; sự minh mẫn, sáng suốt.

(107) Possibility: Khả tính; điều có thể xảy ra.

(108) The creator: “Đấng Sáng Tạo”; “Thượng đế”; “Tạo Hóa”; “Hóa Công”… Cần lưu ư: “Kẻ sáng tạo” này không nhất thiết là một thực thể có nhân trạng, có quyền thưởng phạt như trong Ki-tô giáo, Do Thái giáo, Hồi giáo...

(109) Nguyên tác: “God is not He who is, but That which is.” Chú ư: Spinoza là triết gia có khuynh hướng Phiếm thần luận, và “Thượng đế” của ông rất khác với Thượng đế của các tôn giáo hữu thần luận, chẳng hạn như Ki tô giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo. Nói rơ hơn, th́ “Thượng đế” của ông chỉ là một “nguyên lư tối hậu,” chứ không phải là một thực thể có quyền ban phúc, giáng họa cho con người.

(110) Quan niệm này khá giống với Phiếm thần luận (pantheism) – cụ thể là của Epictetus và Marcus Aurelius nói riêng, và chủ nghĩa Khắc kỷ nói chung.

 

Xem tiếp Chương IX
 

art2all.net