ĐỖ TƯ NGHĨA

 

HÀNH TR̀NH CỦA LINH HỒN

 

 

 CHƯƠNG KẾT LUẬN
 

          Thông tin chứa đựng trong cuốn sách này – về sự hiện hữu của linh hồn sau cái chết vật lư – đưa ra lời giải thích có ư nghĩa nhất mà tôi đă t́m thấy trong đời tôi, về việc tại sao chúng ta có mặt ở đây, ở Cơi Trần này. Tất cả những năm t́m kiếm của tôi, để khám phá mục đích của cuộc đời, hầu như không cho tôi sự chuẩn bị tâm lư cần thiết, để không bị bất ngờ, vào cái khoảnh khắc khi mà một chủ thể trong cơn thôi miên, sau cùng, mở [cho tôi] cánh cửa vào một thế giới vĩnh hằng. Người bạn lâu năm nhất của tôi, hôm nay là một linh mục Công giáo. Khi c̣n bé, đi dạo cùng nhau trên những ngọn đồi và dọc theo những băi biển của Los Angeles, chúng tôi đă có nhiều thảo luận triết học, song những niềm tin tâm linh của chúng tôi vẫn cách xa ngh́n trùng. Một lần ông bảo tôi: “Tôi nghĩ, anh cần phải có ḷng can đảm để là một kẻ vô thần, không tin bất cứ cái ǵ ở bên kia kiếp sống này.”

Vào thời điểm đó, tôi không thấy vấn đề theo cách đó, và nhiều năm về sau, cũng vậy. Từ lúc 5 tuổi, bố mẹ tôi đă gửi tôi vào những trường nội trú có kỷ luật kiểu quân sự, trong những giai đoạn dài. Những cảm giác bị bỏ rơi và cô đơn là quá lớn, đến nỗi tôi không tin vào quyền lực nào cao hơn chính ḿnh. Bây giờ, tôi nhận thức rằng, sức mạnh đă được ban cho tôi trong những cách thức tế nhị mà tôi không thể thấy.

Bạn tôi và tôi vẫn có những cách tiếp cận khác nhau với thế giới tâm linh [spirituality], nhưng ngày nay, cả hai chúng tôi đều có những xác tín rằng, trật tự và mục đích trong vũ trụ phát xuất từ một “ư thức cao hơn. ” (176)

Nh́n lại đằng sau, tôi cho rằng, không phải ngẫu nhiên, mà sau cùng, trong đời tôi, người ta đến với tôi để trải qua phiên thôi miên – một phương tiện để phơi bày chân lư mà tôi có thể tin vào – để nói cho tôi về những vị hướng đạo, những cánh cổng thiên đường, những nhóm học tập tâm linh, và sự sáng tạo, chính nó, trong một thế giới của linh hồn. Ngay cả bây giờ, đôi khi tôi cảm thấy ḿnh là một “kẻ đột nhập” [intruder] vào trong tâm trí của những chủ thể – họ mô tả thế giới linh hồn và cái nơi chốn của họ trong đó – nhưng kiến thức của họ đă cho tôi hướng đi. Tuy nhiên, tôi tự hỏi, tại sao tôi là sứ giả cho kiến thức tâm linh chứa đựng trong cuốn sách này, khi mà lẽ ra, một ai đó [có niềm tin tôn giáo] – một kẻ mà trong bản chất, có ít sự ngờ vực và sự khinh bạc [cynicism] hơn – chắc hẳn sẽ phù hợp hơn rất nhiều. (177)

Thực ra, chính những người được tŕnh bày trong những ca này, mới là những sứ giả đích thực của niềm hy vọng cho tương lai, chứ không phải là tôi. Mọi sự mà tôi đă học được – về việc chúng ta là ai, và chúng ta đến từ đâu – tôi mang ơn những người mà do sức hút nào đó, đă đến với tôi xin trợ giúp. Họ đă dạy tôi rằng, một khía cạnh chủ yếu trong sứ mệnh của chúng ta ở Cơi Trần, với tư cách là linh hồn, là vượt qua, về mặt tâm linh, t́nh trạng bị chia cắt khỏi ngôi nhà đích thực của chúng ta.

Trong khi ở trong một cơ thể người, th́ trong yếu tính, linh hồn ta cô độc. Sự cô lập tương đối của một linh hồn ở Cơi Trần, trong một kiếp sống vật lư tạm bợ, tạo ra sự bất an. Cảm giác bất an trở nên càng khó chịu đựng hơn, trên một cấp độ hữu thức, do ư tưởng rằng, không có ǵ hiện hữu bên kia kiếp sống này. Những ngờ vực của chúng ta khuyến dụ chúng ta chỉ t́m kiếm những mối gắn bó trong một thế giới vật lư mà chúng ta có thể thấy.
Kiến thức khoa học – rằng Trái Đất chỉ là một hạt cát, tại mép của một dải đất ven bờ của Ngân hà, bên trong một đại dương bao la trong vũ trụ – càng gia tăng những cảm giác của chúng ta về sự nhỏ bé, vô giá trị của hiện hữu ḿnh.

Tại sao không có sinh vật nào khác ở Cơi Trần quan ngại về sự sống sau cái chết? Có phải chỉ v́ cái tự ngă [ego] ph́nh to của chúng ta không ưa nghĩ rằng cuộc sống chỉ là tạm bợ, hay phải chăng, bởi v́ chúng ta được kết nối với một quyền lực cao hơn? Người ta biện luận rằng, bất cứ ư tưởng nào về một “thế giới linh hồn”, đều xuất phát từ một mong ước hăo huyền. Trước đây, tôi vẫn thường nghĩ thế. Tuy nhiên, có logic trong khái niệm rằng, chúng ta không được sáng tạo ra một cách ngẫu nhiên, chỉ để tồn tại, và rằng, chúng ta thực sự vận hành bên trong một hệ thống đại đồng, vốn chỉ đạo sự chuyển hóa vật lư của Bản Ngă, v́ một lư do. Tôi tin rằng, chính giọng nói của linh hồn chúng ta nói cho chúng ta biết, chúng ta thực sự có “bản vị cá nhân” [personhood], vốn được tạo dựng nên v́ một mục đích nào đó, chứ không phải chỉ để rồi chết đi.

Tất cả những bản tường thuật về sự sống sau cái chết trong những hồ sơ của tôi, đều không có cơ sở khoa học để chứng minh những phát biểu của những chủ thể này. Đối với những bạn đọc nào nhận thấy rằng, cái tài liệu được tŕnh bày trong cuốn sách này là quá lạ lẫm, chưa hề nghe nói đến – và do vậy, rất khó mà chấp nhận – th́ tôi chỉ hy vọng một điều: Sau khi đọc cuốn sách này, nếu bạn không thu nhận được cái ǵ, ngoại trừ ư tưởng rằng, bạn có thể có một “bản sắc” [identity] vĩnh hằng xứng đáng được t́m thấy lại, th́ tôi đă thành tựu được rất nhiều.

Một trong những mối băn khoăn lớn nhất của tất cả những người muốn tin vào một cái ǵ đó cao hơn chính họ, là tại sao có quá nhiều sự tiêu cực trên thế gian này. Sự ác được nêu ra như là thí dụ hàng đầu. Khi tôi hỏi những chủ thể của tôi, làm thế nào mà một vị Thượng đế nhân từ, có thể cho phép sự đau khổ, th́ thật ngạc nhiên, những câu trả lời của họ không mấy khác nhau.

Những chủ thể tường thuật rằng, linh hồn chúng ta được sinh ra từ một “kẻ tạo dựng,” [creator] và thực thể ấy cố ư đặt trạng thái b́nh yên ở ngoài tầm tay chúng ta, để cho chúng ta sẽ phấn đấu tích cực hơn. Chúng ta học hỏi từ hành vi sai lầm. Sự vắng mặt của những nét thiện lành trong mỗi cá nhân, phát lộ những khiếm khuyết nền tảng trong bản chất chúng ta. Những ǵ không tốt, là những cái đang trắc nghiệm chúng ta; bởi v́ nếu không thế, th́ chúng ta sẽ không có động lực để cải thiện thế giới thông qua chính ḿnh, và không có cách nào để đo lường sự tiến bộ. Khi tôi hỏi những chủ thể về những tính chất nhân từ và sự giận dữ luân phiên nhau – mà chúng ta tri giác như là sự tự biểu hiện của một vị thầy-linh hồn tối cao [teacher-oversoul] – th́ vài người trong số họ nói rằng, “kẻ tạo dựng” chỉ phô bày những thuộc tính nào đó cho chúng ta, v́ những mục đích cụ thể nào đó.

Thí dụ, nếu chúng ta đánh đồng [equate] cái ác với sự công bằng, và ḷng thương xót với sự thiện – và nếu Thượng đế cho phép chúng ta chỉ biết ḷng thương xót – th́ sẽ không có t́nh trạng công bằng.

Cuốn sách này tŕnh bày một chủ đề của trật tự và sự minh triết xuất phát từ nhiều mức độ năng lượng tâm linh khác nhau. Trong một thông điệp nền tảng, đáng chú ư – nhất là từ những chủ thể tiến hóa cao – th́ có khả tính rằng, Thượng đế-linh hồn tối cao của vũ trụ chúng ta, ở một cấp độ chưa hoàn hảo. (178) Như thế, sự không thể sai lầm toàn triệt, chỉ có thể có ở một nguồn cội thiêng liêng cao hơn.

Từ công việc của tôi, tôi đă đi tới chỗ tin rằng, chúng ta sống trong một thế giới bất toàn, không phải là ngẫu nhiên, mà do thiết kế (179) [by design]. Trái Đất chỉ là một trong vô số những thế giới với những hữu thể có trí thông minh [intelligent beings], mỗi thế giới có chuỗi bất toàn của chính nó, cần phải được đưa vào sự ḥa điệu. Khai triển ư tưởng này xa hơn, có thể chúng ta hiện hữu trong một vũ trụ có chiều kích, (180) trong số nhiều vũ trụ – mỗi vũ trụ có “kẻ tạo dựng” của riêng nó, cai quản ở một mức năng lực khác nhau, trong những cấp độ [phát triển] tương tự như sự phát triển của những linh hồn được nh́n thấy trong cuốn sách này. Dưới cái ngôi đền [pantheon] này, hữu thể thiêng liêng của ngôi nhà đặc thù của chúng ta, sẽ được phép cai quản trong cách riêng của “Ông ấy,” “Bà ấy,” hay “Nó.” (181)

Nếu những linh hồn đến những hành tinh trong vũ trụ chúng ta – và được làm cho khôn ngoan hơn bởi sự tranh đấu của chúng ta – là những hậu duệ của của một đại hồn “bố/mẹ” [parent oversoul], th́, phải chăng chúng ta có thể có một ông/bà thiêng liêng [divine grandparent], vốn là vị Thượng đế tuyệt đối? (182) Khái niệm rằng, vị Thượng đế mà trực tiếp “tạo dựng” ra chúng ta, th́ vẫn đang tiến hóa (183) [evolving] như chúng ta đang tiến hóa – khái niệm đó không lấy mất cái ǵ từ một nguồn cội tối hậu của sự hoàn hảo, vốn “đẻ ra” [spawned] Thượng đế của chúng ta.

Theo ư tôi, một vị Thượng đế tối cao, hoàn thiện, sẽ không đánh mất sự toàn năng, hay sự kiểm soát toàn diện trên mọi sự tạo dựng, bằng cách cho phép sự trưởng thành [maturation] của những hậu duệ “bề trên” [superior] bất toàn. Những vị thần có đẳng cấp thấp hơn này có thể được phép sáng tạo ra những thế giới bất toàn của chính họ, như một phương tiện sau cùng của sự khai trí [edification], để họ có thể hợp nhất với vị Thượng đế tối cao.

Sự can thiệp thiêng liêng trong vũ trụ này – được phản ánh trong nhiều biểu hiện khác nhau – vẫn khởi nguồn từ thực tại tối cao của chúng ta. Nếu Thượng đế của chúng ta không phải là vị Thượng đế tốt nhất – bởi v́ vị ấy sử dụng sự đau đớn như là một dụng cụ giảng dạy – th́ chúng ta phải chấp nhận vị này như là vị Thượng đế tốt nhất mà chúng ta có, và vẫn xem sự hiện hữu của chúng ta như là một món quà thiêng liêng.

Chắc chắn, không dễ truyền đạt ư kiến này tới một ai đó đang đau khổ về thể xác, chẳng hạn, v́ một bệnh nan y. Sự đau đớn trong đời có tác hại ngầm, bởi v́ nó có thể ngăn chặn cái sức mạnh chữa trị của linh hồn chúng ta – nhất là nếu chúng ta không chấp nhận những ǵ đang xảy ra cho ḿnh như là một thử thách tiền định. Thế nhưng, suốt cuộc đời, nghiệp [karma] của chúng ta được thiết kế, sao cho mỗi thử thách sẽ không quá lớn so với sức chịu đựng của chúng ta. Tại một thiền thất trong vùng núi của miền Bắc Thái Lan, một vị thầy Phật giáo nhắc nhở tôi về một chân lư giản dị. Ông nói, “Cuộc đời được ban cho như là một phương tiện của sự tự biểu hiện. Và ta chỉ nhận được những ǵ mà ta t́m kiếm, khi ta lắng nghe trái tim ḿnh.” Những h́nh thức cao nhất của sự biểu hiện này, là những hành vi nhân ái. Linh hồn chúng ta có thể đang du hành khỏi một ngôi nhà thường hằng, nhưng chúng ta không chỉ đơn giản là những du khách. Trong cuộc tiến hóa của một “ư thức cao hơn,” chúng ta có trách nhiệm đối với chính ḿnh và những người khác trong đời. Như thế, cuộc hành tŕnh của chúng ta là một hành tŕnh tập thể. Chúng ta là những hữu thể có thần-tính, nhưng bất toàn, hiện hữu trong 2 thế giới, vật chất và tâm linh. Số phận của chúng ta là di chuyển như con thoi, lui tới giữa những vũ trụ này xuyên qua không gian và thời gian, trong khi chúng ta học cách làm chủ bản thân và thủ đắc kiến thức. Chúng ta phải tin tưởng vào quá tŕnh này với ḷng kiên nhẫn và sự quyết tâm. Trong phần lớn những cơ thể chủ, th́ cái yếu tính của chúng ta không thể được nhận biết một cách đầy đủ, nhưng “Bản Ngă” [Self] (184) không bao giờ bị đánh mất, bởi v́ chúng ta luôn được kết nối với cả 2 thế giới.

Có lẽ, cái làm tôi thỏa măn nhất trong công việc của ḿnh – việc khám phá sự hiện hữu của một thế giới linh hồn trong tâm trí của những chủ thể của tôi – là cái tác dụng [effect] mà kiến thức hữu thức này mang đến cho họ. Cái lợi lạc có ư nghĩa nhất – đến từ việc biết rằng chúng ta có một ngôi nhà của t́nh yêu vĩnh hằng, đang đợi chúng ta – là khả năng thụ cảm nhạy bén hơn, để tiếp cận cái sức mạnh tâm linh cao hơn, bên trong tâm trí chúng ta. Sự nhận biết rằng, chúng ta thực sự thuộc về một nơi nào đó, cung hiến cho chúng ta sự an tâm và sự b́nh an. Nó không chỉ là một bến đỗ tâm linh mỗi khi đời ta có sự xung đột, mà c̣n hợp nhất chúng ta với tâm thức đại đồng. Một ngày kia, chúng ta sẽ hoàn tất cuộc hành tŕnh dài này – tất cả chúng ta – và đạt tới một trạng thái tối hậu của sự chứng ngộ [enlightenment], nơi mà mọi sự đều có thể.
 

HẾT



______

 

(176) Higher consciousness.

(177) Chú ư: Tác giả cuốn sách này, ban đầu là một kẻ “vô thần,” không tin có thế giới linh hồn. Nhưng về sau, khi làm việc với các thân chủ, th́ ông dần dần từ bỏ quan niệm cũ của ḿnh. Bản thân người dịch, tuy trước đây có tin chút ít về thế giới linh hồn, nhưng vẫn “nửa tin, nửa ngờ.” Sau khi đọc cuốn sách này, người dịch đă xác tín rằng, thế giới linh hồn là có thật.

(178) Cần chú ư nhận xét này: vị “Thượng đế” của vũ trụ chúng ta là “chưa hoàn hảo” (less-than-perfect). Điều này rất khác với khái niệm thông thường, truyền thống về “Thượng đế.” Theo quan niệm truyền thống, th́ Thượng đế có những thuộc tính như sau: toàn trí, toàn năng, toàn thiện …

(179) Có nghĩa là: Vũ trụ mà chúng ta đang sống, là bất toàn – nhưng sự bất toàn này là “cố ư,” với một mục đích sâu xa, bí ẩn nào đó.

(180) Câu này tác giả viết hơi tối nghĩa. Chúng tôi chỉ dịch thoát ư.

(181) Nguyên tác: “Under this pantheon, the divine being of our particular house would be allowed to govern in His, Her, or Its own way.” Chữ “Ông ấy,” “Bà ấy,” và “Nó,” có thể hiểu như sau: chữ “Ông ấy/ Bà ấy,” để chỉ một vị Thượng đế có nhân trạng, hữu ngă [personal], có quyền ban phúc, giáng họa. Trái lại, chữ “Nó,” dùng để chỉ một “nguyên lư sáng tạo,” và không có quyền thưởng phạt, cũng không trực tiếp can thiệp vào chuyện của con người. Đây là Đạo của Lăo Tử, hoặc Thiên Nhiên/Vũ Trụ của Phiếm thần luận.

(182) Câu này cũng khá tối nghĩa. Có thể hiểu như sau: “Thượng đế” có thể rơi vào 2 loại chính: a/ vị Thượng đế bất toàn. b/ vị Thượng đế hoàn hảo. Trường hợp (a), là vị Thượng đế đang tiến hóa như chúng ta. Tạm gọi vị này là “bố/mẹ” của chúng ta, trực tiếp tạo dựng nên chúng ta và cai quản vũ trụ chúng ta. Trường hợp (b), là vị Thượng đế tuyệt đối, hoàn hảo, cội nguồn. Vị này tạm gọi là “ông/bà” của chúng ta, ở một đẳng cấp cao hơn.

(183) Ư tác giả muốn nói: kẻ đang cai quản vũ trụ của chúng ta, là một vị “Thượng đế” bất toàn, và đang tiến hóa như chúng ta – nhưng ở trên vị ấy, c̣n có một “cội nguồn” cao hơn, đó mới chính là vị “Thượng đế hoàn hảo.” Đây là một khái niệm rất “khó tin, khó hiểu,” rất khác với những quan niệm truyền thống về “Thượng đế.”

(184) Self: Từ này được viết hoa trong nguyên tác. Hơi tối nghĩa. Theo người dịch, nó đồng nghĩa với chữ “Identity” – căn tính của linh hồn. Nó không phải là cái “bản ngă” ích kỷ theo nghĩa thông thường.



 

Xem tiếp Chương XV
 

art2all.net