ĐỖ TƯ NGHĨA

 

HÀNH TR̀NH CỦA LINH HỒN

 

 

Bạn sẽ biết lănh vực bị ẩn giấu
nơi mà mọi linh hồn cư ngụ.
Con đường của cuộc hành tŕnh nằm
xuyên qua cái đầm lầy mù mịt của sự chết.
Bên trong lối đi phi thời gian này,
một làn ánh sáng chỉ đạo nhảy múa,
Bị che khuất khỏi trí nhớ hữu thức,
nhưng khả thị trong cơn thôi miên xuất thần.

Michael Newton

 

 DẪN NHẬP
 

          Bạn có sợ chết không? Bạn có tự hỏi, cái ǵ sẽ xảy ra sau khi bạn chết? Phải chăng bạn có một linh hồn vốn đến từ một nơi nào khác, và sẽ trở lại đó sau khi thân xác bạn chết, hay đây chỉ là một ư tưởng phát xuất từ ước muốn và sợ hăi?

Thật nghịch lư: trong mọi sinh vật của Cơi Trần (4), th́ chỉ duy nhất con người là loài phải đè nén nỗi sợ chết để sống cuộc sống b́nh thường. Thế nhưng, bản năng sinh học không bao giờ cho phép chúng ta quên đi cái hiểm họa tối hậu này đối với tồn tại [being] của ḿnh.

Khi tuổi đời chồng chất, cái bóng ma của sự chết nổi lên trong ư thức ta. Ngay cả những người có niềm tin tôn giáo cũng sợ rằng, cái chết sẽ kết thúc cái bản vị cá nhân của họ [personhood]. Lư do chủ yếu khiến chúng ta sợ chết, là bởi v́ chúng ta nghĩ rằng chết là hết: nó chấm dứt mọi liên hệ của ta với gia đ́nh và bạn hữu. Cái chết khiến cho tất cả mục đích trần thế của ta có vẻ như vô ích.

Nếu cái chết là sự kết thúc của mọi sự, th́ cuộc sống sẽ là vô nghĩa. Tuy nhiên, sức mạnh nào đó bên trong chúng ta cho phép chúng ta có thể quan niệm một “đời sau,” (5) và cảm thấy ḿnh được kết nối với một sức mạnh cao hơn và thậm chí, với một linh hồn vĩnh cửu. Nếu chúng ta thực sự có một linh hồn, th́ nó sẽ đi đâu sau cái chết? Có chăng một loại thiên đường nào đó, đầy những linh hồn thông minh, bên ngoài vũ trụ vật lư của chúng ta? Nó trông ra làm sao? Chúng ta sẽ làm ǵ khi đến đó? Có chăng một hữu thể cai quản cái thiên đường này? Những câu hỏi này th́ xưa như trái đất, và vẫn là một bí mật đối với phần lớn chúng ta.

Những câu trả lời đúng cho cái bí mật của sự sống sau cái chết, vẫn c̣n bị khóa kín đằng sau một cánh cửa “tâm linh” đối với hầu hết mọi người. Sở dĩ như vậy, là bởi v́ chúng ta có bệnh mất trí nhớ bẩm sinh (6) về “lư lịch linh hồn” (7) của chúng ta, mà trên b́nh diện ư thức, nó trợ giúp ta hợp nhất linh hồn và bộ năo người. Trong vài năm qua, công chúng rộng răi đă nghe nói về những người chết tạm thời rồi sống lại (8). Họ kể về việc thấy một đường hầm dài, những làn ánh sáng rực rỡ, và thậm chí, những gặp gỡ ngắn ngủi với những linh hồn thân thiện. Nhưng trong số những bản tường thuật được viết ra về sự đầu thai, th́ không có bản nào cung cấp cho chúng ta một cái ǵ nhiều hơn là một thoáng nh́n về sự sống sau cái chết.

Cuốn sách này là một “biên bản cặn kẽ” (9) về thế giới linh hồn. Nó cung cấp một loạt những “hồ sơ cá nhân” (10) của những chủ thể đang sống. Bằng những chi tiết tường minh, nó tiết lộ những ǵ xảy ra cho chúng ta khi sự sống ở Cơi Trần chấm dứt. Bạn sẽ được mang đi qua khỏi cái đường hầm “tâm linh” và bước vào chính thế giới linh hồn, để biết những ǵ xảy ra cho những linh hồn, trước khi chúng [sau cùng] xuống Cơi Trần trong một kiếp sống khác.

Trong bản chất, tôi là một kẻ hoài nghi, (11) mặc dù, nếu căn cứ vào nội dung của cuốn sách này, th́ dường như không phải vậy. Với tư cách là một cố vấn và bác sĩ chữa bệnh bằng thuật thôi miên, tôi chuyên về “sự cải tiến hành vi” (12) nhằm điều trị những nhiễu loạn tâm lư. Một phần lớn công việc của tôi với những thân chủ, bao gồm việc tái cấu trúc ngắn hạn về nhận thức, (13) bằng cách giúp họ kết nối những ư tưởng với những cảm xúc, để phát huy hành vi lành mạnh. Cùng nhau, chúng tôi khám phá ra ư nghĩa, chức năng và những hậu quả gây ra bởi những niềm tin của họ, bởi v́ tôi khởi đi từ tiền đề rằng, không có vấn đề tâm thần (14) nào là do tưởng tượng.

Trong giai đoạn đầu tiên, khi tôi mới hành nghề, nhiều thân chủ muốn biết những kiếp quá khứ của họ, nhưng tôi từ chối. Tôi đi theo định hướng của trị liệu pháp truyền thống, vốn không có chuyện “soi kiếp.” Trong khi tôi dùng thôi miên và những kỹ thuật “lùi dần về quá khứ” để xác định những nguồn gốc của những kư ức gây khó chịu và chấn thương tâm lư thời thơ ấu, th́ tôi cảm thấy rằng, bất cứ nỗ lực nào nhằm vươn tới một kiếp sống quá khứ, đều phi chính thống và phi lâm sàng. Mối quan tâm của tôi về sự đầu thai và siêu h́nh học, chỉ là sự ṭ ṃ tri thức, cho đến khi tôi làm việc với một chàng trai, để chữa trị bệnh đau nhức.

Thân chủ này than phiền rằng, suốt đời, anh ta bị đau nhức kinh niên bên hông phải của ḿnh. Một trong những phương pháp của thôi miên liệu pháp để chữa trị sự đau nhức, là hướng dẫn thân chủ làm cho sự đau nhức tăng lên, để cho người ấy học cách làm giảm nhẹ sự đau nhức, và như thế, chế ngự nó. Trong một phiên thôi miên, chàng trai này dùng h́nh tượng bị chém để tái tạo sự đau nhức của ḿnh. Truy t́m những nguồn gốc của h́nh ảnh này, sau cùng, tôi phát hiện ra rằng, trong kiếp trước, anh ta là một người lính trong Thế chiến II, bị giết tại Pháp bởi một lưỡi lê – và sau khi phát hiện ra điều đó, th́ sự đau nhức của anh ta đă được loại bỏ hoàn toàn.

Được những thân chủ động viên, tôi bắt đầu thí nghiệm bằng việc di chuyển cùng vài người trong số họ lùi lại xa hơn trong thời gian, trước lần tái sinh vừa qua của họ ở Cơi Trần. Ban đầu, tôi quan ngại rằng, những nhu cầu hiện tại, những niềm tin, và những nỗi sợ hăi hiện tại của thân chủ, sẽ tạo ra những “điều tưởng tượng” (15) trong sự hồi tưởng của họ. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, tôi nhận thức rằng, những kư ức có gốc rễ sâu xa của chúng ta cung cấp một loạt những kinh nghiệm quá khứ, vốn quá thực và quá được nối kết, đến nỗi, chúng khó ḷng bị phớt lờ đi. Tôi bắt đầu hiểu được rằng, cái “gạch nối” (16) – giữa cơ thể và những biến cố trong những kiếp trước của chúng ta với con người mà chúng ta là hôm nay – nó quan trọng ra sao cho việc trị liệu.

Rồi tôi t́nh cờ phát hiện ra một điều vô cùng quan trọng: Tôi thấy, có thể nh́n sâu vào trong thế giới [của] linh hồn thông qua “tâm nhăn” [mind’s eye] của một chủ thể bị thôi miên, người ấy có thể tường tŕnh cho tôi về cuộc sống trong thế giới của linh hồn. Trường hợp [case] mà đă mở cho tôi cánh cửa vào thế giới linh hồn, là một phụ nữ ở độ tuổi trung niên; trong cơn thôi miên, cô ta là một chủ thể đặc biệt dễ thụ cảm [receptive]. Cô nói với tôi về những cảm giác cô đơn và cô lập trong cái giai đoạn tế nhị, khi một chủ thể (17) đă hoàn tất việc hồi tưởng lại kiếp sống quá khứ gần nhất của ḿnh. Cá nhân khác thường này trượt vào trong trạng thái “siêu thức” hầu như bởi chính ḿnh. Không nhận thức rằng, tôi đă đưa ra một mệnh lệnh quá ngắn cho hành động này, tôi gợi ư cô đi tới mạch nguồn của sự mất mát t́nh bạn của cô. Đồng thời, tôi vô t́nh dùng một trong những “từ châm ng̣i” (18) cho sự hồi ức tâm linh. Tôi cũng hỏi, phải chăng cô có một nhóm bạn đặc biệt mà cô nhớ nhung? Bỗng nhiên, thân chủ tôi bắt đầu kêu khóc. Khi tôi yêu cầu cô cho tôi biết, có cái ǵ bất ổn, th́ cô thốt ra: “Tôi nhớ vài người bạn trong nhóm (19) của tôi, và đó là lư do tại sao tôi trở nên quá cô đơn ở Cơi Trần.” Tôi bối rối và hỏi cô thêm, nhóm bạn này thực sự đang ở đâu. “Ở đây, tại ngôi nhà vĩnh cửu của tôi,” cô trả lời một cách giản dị, “và ngay bây giờ, tôi đang nh́n mọi người trong bọn họ!”

Sau khi làm việc xong với thân chủ này và nghe lại những băng ghi âm, th́ tôi nhận thức rằng, việc phát hiện thế giới linh hồn đ̣i hỏi phải nới rộng việc “lùi về những kiếp quá khứ.” [past life regression]. Có nhiều cuốn sách về những kiếp quá khứ, nhưng tôi không thể t́m thấy cuốn nào nói về sự sống ở dạng thức [với tư cách là] linh hồn, hay, làm cách nào để tiếp cận một cách thích hợp với những hồi ức tâm linh của một chủ thể. Tôi quyết định tự ḿnh làm cuộc nghiên cứu, và qua thực hành, tôi thủ đắc kỹ năng lớn hơn trong việc bước vào thế giới linh hồn, thông qua những thân chủ của tôi. Tôi cũng học được rằng, việc t́m thấy cái nơi chốn của họ trong thế giới linh hồn th́ có ư nghĩa nhiều hơn rất nhiều đối với con người, so với việc ôn lại những kiếp sống trước đây của họ ở Cơi Trần. (20)

Làm thế nào có thể “vươn tới” linh hồn thông qua thuật thôi miên? Hăy h́nh dung “tâm trí” [the mind] với 3 ṿng tṛn đồng tâm – chỉ bị cách ly bởi những tầng của “ư thức”, [những tầng này] được kết nối với nhau. Tầng thứ nhất, ở phía ngoài, đại diện cho ư thức, (21) có chức năng phê phán, lư luận, phân tích. Tầng thứ hai, là tiềm thức, nơi mà ban đầu trong cơn thôi miên, ta đi vào trong cái “kho chứa” để thu nhận tất cả những hồi ức về những ǵ đă từng xảy ra với ta trong kiếp sống này và những kiếp trước. Tầng thứ ba, cái lơi sâu nhất, là cái mà bây giờ ta gọi là “siêu thức.” Cái tầng này phô bày cái trung tâm cao nhất của “Bản Ngă” [the Self], nơi mà chúng ta là một sự biểu đạt của một quyền lực cao hơn.

Siêu thức chứa đựng cái “lư lịch/căn nguyên đích thực” [real identity] của chúng ta, được tăng cường bởi cái tiềm thức vốn chứa đựng những hồi ức của nhiều “bản ngă” [alter-ego] (22) của chúng ta – mỗi “bản ngă” chiếm giữ một “cơ thể vật lư” trong những kiếp trước của ḿnh. Siêu thức có thể không phải là một “tầng,” mà chính là linh hồn. Siêu thức đại diện cho cái trung tâm cao nhất của minh triết và viễn cảnh [perspective] – và tất cả thông tin của tôi về cuộc sống sau cái chết, đều phát xuất từ cái nguồn năng lượng thông minh này.

Việc sử dụng thuật thôi miên để vén mở sự thật, có độ tin cậy tới mức nào? Chủ thể bị thôi miên không đang mơ hay đang có ảo giác. (23) Chúng ta không mơ theo tŕnh tự thời gian [có tính biên niên], cũng không có ảo giác trong trạng thái bị thôi miên. Khi một chủ thể được đưa vào cơn thôi miên, th́ những sóng năo của họ chậm lại từ trạng thái “tỉnh/thức,” Beta, và tiếp tục thay đổi mức độ “rung động” xuống từ giai đoạn Alpha [của thiền định] sang những mức độ khác nhau bên trong cấp độ Theta. Theta là trạng thái bị thôi miên – chứ không phải là giấc ngủ. Khi chúng ta ngủ, chúng ta đi sang trạng thái sau cùng của sóng Delta, nơi mà những thông điệp từ năo bộ rơi xuống vào trong tiềm thức và sẽ “trồi lên” [biểu lộ] thông qua những giấc mơ. Tuy nhiên, ở sóng Theta, tâm trí không hoàn toàn bất-thức [unconscious], do vậy, chúng ta có thể nhận hoặc gửi những thông điệp, với mọi kênh kư ức được mở ra.

Khi đă ở trong trạng thái bị thôi miên, người ta tường thuật y nguyên những ǵ mà họ thấy và nghe, một cách không thêm bớt. Khi trả lời những câu hỏi, những chủ thể không thể nói dối, (24) nhưng họ có thể thuyết minh sai một cái ǵ đó được nh́n thấy trong cơn thôi miên của họ – điều này cũng thường xảy ra trong trạng thái hữu thức. Trong trạng thái bị thôi miên, người ta cảm thấy bối rối khi gặp phải bất cứ cái ǵ mà họ không tin là [sự] thật.

Một số người chỉ trích phương pháp thôi miên. Họ tin rằng, chủ thể trong cơn thôi miên sẽ “phịa ra” những hồi ức và “uốn nắn” những câu trả lời của họ để phù hợp với bất cứ “khung lư thuyết” nào được nhà thôi miên gợi ư. Tôi thấy sự khái quát hóa này là một tiền đề sai. Trong công việc của tôi, tôi xử lư mỗi trường hợp như thể tôi đang nghe thông tin đó lần đầu tiên. Nếu một chủ thể, một cách nào đó, có thể chế ngự được “thủ tục thôi miên” và cố ư dựng lên một điều tưởng tượng [fantasy] về thế giới linh hồn, hoặc “liên tưởng tự do” từ những định kiến của họ về “sự sống sau cái chết vật lư,” (25) th́ những câu trả lời của họ, chẳng bao lâu, sẽ trở nên thiếu nhất quán với những bản tường thuật trong những ca [case] khác của tôi. (26) Trong công việc của ḿnh, tôi đă sớm học được giá trị của sự thẩm vấn [cross-examination], và tôi không t́m thấy bằng chứng nào về bất cứ ai giả mạo [faking] kinh nghiệm “tâm linh” của họ, để chiều ḷng tôi. Thực ra, những chủ thể bị thôi miên không ngần ngại sửa chữa những thuyết minh sai của tôi về những phát biểu của họ.

Khi số lượng hồ sơ của tôi tăng lên, bằng phương pháp “thử và sai” [trial and error], tôi đặt những câu hỏi về thế giới linh hồn trong một tŕnh tự thích đáng. Những chủ thể trong trạng thái siêu thức, th́ không t́nh nguyện đưa thông tin về toàn bộ kế hoạch của cuộc sống linh hồn trong thế giới linh hồn. Người ta phải có một chùm ch́a khóa đúng để mở những cánh cửa cụ thể. Sau cùng, tôi có thể hoàn thiện một phương pháp đáng tin cậy, để tiếp cận kư ức về những vùng khác nhau của thế giới linh hồn, bằng cách biết phải mở cánh cửa nào ở thời điểm thích hợp, trong suốt một phiên thôi miên.

Với mỗi phiên thôi miên, tôi càng tự tin hơn, và càng có nhiều thân chủ cảm nhận rằng, tôi “thoải mái” với thế giới linh hồn và cảm thấy an tâm để nói với tôi về nó. Trong số những thân chủ của tôi, có một số đàn ông và phụ nữ rất mộ đạo, trong khi những người khác, th́ không có tín ngưỡng tâm linh đặc thù nào cả. Phần lớn rơi vào một nơi nào đó ở giữa, với những triết lư cá nhân khác nhau về cuộc đời. Khi tôi đi sâu thêm trong việc khảo cứu của ḿnh, th́ điều sửng sốt mà tôi phát hiện, là: một khi những chủ thể được đưa lùi về “dạng thức linh hồn” [as a soul] của họ, th́ tất cả họ đều biểu lộ một sự nhất quán đáng chú ư khi trả lời những câu hỏi về thế giới linh hồn. Thậm chí, họ c̣n dùng cùng những từ và những mô tả có h́nh ảnh sống động trong ngôn ngữ thường đàm, khi thảo luận về những kiếp sống của họ.

Mặc dù sự nhất quán trong những câu trả lời của họ, tôi vẫn phải liên tục cố gắng kiểm chứng những phát biểu của họ và những hoạt động đặc biệt, có tính chức năng, của những linh hồn. Có một vài khác biệt trong nội dung [tường thuật] giữa những ca [case], nhưng sự khác biệt này là do cái cấp độ tiến hóa của linh hồn nhiều hơn. Về cơ bản, họ giống nhau trong cách nh́n thế giới linh hồn.

Cuộc khảo cứu tiến hành một cách vất vả, chậm chạp, nhưng khi số lượng hồ sơ tăng lên, th́ sau cùng, tôi đă có một “mô h́nh giả thiết ” [working model] của cái thế giới vĩnh hằng, nơi mà linh hồn chúng ta “sống.” Tôi phát hiện rằng, những ư tưởng về thế giới linh hồn bao gồm những chân lư phổ quát – những chân lư được thừa nhận bởi [linh hồn của] những người sống ở Cơi Trần. Chính những tri giác [giống nhau] của quá nhiều loại người khác nhau, mà đă khiến cho tôi xác tín rằng, những phát biểu của họ là có thể tin được. (27) Tôi không phải là một người có đức tin tôn giáo, nhưng tôi phát hiện rằng, cái nơi mà chúng ta đi đến sau cái chết, là một nơi có trật tự và có chiều hướng [direction], và tôi đi tới chỗ nhận biết rằng, có một “thiết kế vĩ đại” [grand design] cho cuộc sống [ở cơi trần] và cuộc sống trong thế giới linh hồn.

Khi tôi xem xét, làm thế nào để tŕnh bày những khám phá của ḿnh một cách tốt nhất, th́ tôi xác định rằng, phương pháp “nghiên cứu t́nh huống” là thích hợp và hữu hiệu nhất – qua phương pháp này, người đọc có thể đánh giá sự hồi tưởng của các chủ thể về “sự sống sau cái chết.” Mỗi ca mà tôi tuyển chọn, tŕnh bày một cuộc đối thoại trực tiếp giữa tôi và một chủ thể. Những bằng chứng được lấy từ những băng thu âm, ghi lại những phiên thôi miên do tôi chủ tŕ. Cuốn sách này không dự định nói về những kiếp sống trước đây của những thân chủ của tôi, mà đúng hơn, nó là một tư liệu [có bằng chứng] về những kinh nghiệm của họ trong thế giới linh hồn, có liên quan đến những kiếp sống đó.

Đối với những bạn đọc nào có thể có khó khăn trong việc khái niệm hóa linh hồn chúng ta như là những đối tượng phi vật chất, th́ những “hồ sơ t́nh huống” [case histories] được liệt kê trong những chương đầu, sẽ giải thích những linh hồn “hiện ra” như thế nào và cái cách mà chúng vận hành. Mỗi hồ sơ t́nh huống được rút ngắn ở mức độ nào đó – để cho cuốn sách không quá dày, và cũng để cho bạn đọc thấy rằng, hoạt động của linh hồn được [một bàn tay nào đó] sắp xếp một cách có trật tự. Những chương được thiết kế để cho thấy sự di chuyển tiệm tiến b́nh thường của linh hồn vào trong và ra khỏi thế giới linh hồn, bên cạnh những thông tin tâm linh khác.

Đề tài về sự du hành của linh hồn từ lúc chết đến lần đầu thai kế tiếp, đă đến với tôi từ trên 30 năm hành nghề theo liệu pháp thôi miên và nghiên cứu về sự sống [của linh hồn] giữa những kiếp sống. Những cuộc du hành của những linh hồn từ lúc chết tới lần đầu thai kế tiếp của chúng đă thu hút sự nghiên cứu của tôi từ những năm 1970, gia tăng với mỗi thập niên. Tuy nhiên, phần lớn những ca [case] trong cuốn sách này được tập hợp trong ṿng 10 năm vừa qua. Ban đầu, tôi ngạc nhiên thấy rằng, có những thân chủ [mà] những phần của cuộc sống linh hồn họ trong những kiếp sống quá khứ xa xăm, th́ được họ nhớ lại rơ ràng hơn, so với [kư ức của họ về] những kiếp sống quá khứ gần đây. Thế nhưng, v́ lư do nào đó, không có thân chủ nào có thể nhớ lại, theo thứ tự thời gian, toàn bộ những hoạt động của linh hồn mà tôi đă tŕnh bày trong cuốn sách này. Những phần nào đó của cuộc sống linh hồn họ được nhớ lại một cách khá sinh động, trong khi những kinh nghiệm khác, lại mơ hồ đối với họ. Do vậy, tôi thấy, ngay cả với 29 ca này, tôi không thể cung cấp cho bạn đọc toàn bộ thông tin mà tôi đă thu thập về thế giới linh hồn. Như thế, những chương sách của tôi chứa đựng những chi tiết từ nhiều ca hơn là chỉ 29 ca được liệt kê.

Bạn đọc có thể cho rằng, trong việc “thẩm vấn” những [chủ thể trong] ca nào đó, tôi đă đặt yêu cầu quá cao. Trong thôi miên, cần phải giữ cho thân chủ tiến hành theo kế hoạch đă định. Khi làm việc trong lănh vực tâm linh, một nhà thôi miên có những yêu cầu cao hơn, chứ không chỉ bó hẹp trong việc giúp chủ thể nhớ lại những kiếp quá khứ. Trong cơn thôi miên, chủ thể trung b́nh có khuynh hướng để cho linh hồn ḿnh đi lang thang trong khi quan sát những cảnh hấp dẫn đang diễn ra. Họ muốn tôi ngừng nói chuyện, để, [với tư cách là linh hồn] tận hưởng những kinh nghiệm quá khứ của họ. Tôi cố dịu dàng và không quá cứng nhắc theo kế hoạch, song những phiên thôi miên của tôi thường là những phiên kéo dài 3 tiếng đồng hồ và có nhiều cái để tường thuật. Những thân chủ có thể đến từ những nơi rất xa để gặp tôi và không thể trở lại lần thứ hai.

Tôi thấy rất bơ công khi quan sát cái vẻ kinh ngạc thích thú trên khuôn mặt thân chủ tôi, khi phiên thôi miên chấm dứt. Đối với những ai trong chúng ta – mà đă có cơ hội thực sự thấy sự bất tử của ḿnh – th́ họ cảm thấy việc tự hiểu ḿnh đạt tới một chiều sâu mới, và họ cũng trở nên mạnh mẽ hơn. (28) Trước khi đánh thức những thân chủ ra khỏi cơn thôi miên, tôi thường “cấy” vào [tiềm thức] họ những gợi ư thích hợp. Một kiến thức [hữu thức] về cuộc sống linh hồn trong thế giới linh hồn và một kiến thức về lịch sử của sự hiện hữu vật lư trên những hành tinh, sẽ mang đến cho họ một cảm thức mạnh mẽ về chiều hướng và năng lượng cho cuộc sống.

Sau cùng, tôi muốn nói rằng, những cái mà bạn sắp đọc, có thể gây ra một cú sốc cho những thành kiến của bạn về cái chết. Cái tài liệu được tŕnh bày ở đây, có thể đi ngược lại với những niềm tin triết học và tôn giáo của bạn. Sẽ có những bạn đọc t́m thấy [trong cuốn sách này] chỗ dựa cho những quan niệm đang hiện hữu của họ. Đối với những người khác, th́ thông tin được cung cấp trong những ca này sẽ có vẻ như là những câu chuyện giả tưởng. Bất luận bạn phản ứng ra sao sau khi đọc cuốn sách này, tôi hy vọng bạn sẽ suy tưởng về những hệ quả đối với nhân loại, nếu những cái mà những thân chủ của tôi nói về cuộc sống sau cái chết là chính xác. (29)


Michael Newton
 

_________

 

(4) The Earth: Trái Đất. Tạm dịch như trên. Trong một vài ngữ cảnh, nó sẽ được dịch là “Trái Đất.”

(5) Afterlife. Tạm dịch như trên, nhưng trong ngữ cảnh này, nó có nghĩa là “thế giới linh hồn”, chứ không phải là “kiếp sau ở cơi trần”.

(6) Built-in amnesia: Bệnh mất trí nhớ “được cài đặt sẵn.” Khi đầu thai xuống Cơi Trần, con người không c̣n nhớ ǵ về kiếp trước của ḿnh, cũng như về thế giới linh hồn. Tại sao như vậy? Cứ đọc tiếp, bạn đọc sẽ có câu trả lời.

(7) Soul identity. Từ này rất khó dịch, có thể dịch nhiều cách khác nhau, tùy từng ngữ cảnh. Từ “identity” có nhiều nghĩa: a/ lư lịch. b/ dấu vết riêng để nhận dạng. c/ bản sắc. d/ căn tính. e/ tính đồng nhất. G. Căn cước.

(8) Có một thuật ngữ thông dụng cho hiện tượng này: “kinh nghiệm cận tử” [near-death experience].

(9) Intimate journal.

(10) Case histories.

(11) Cần chú ư: Tác giả vốn không phải là người có đức tin tôn giáo.

(12) Behavior modification.

(13) Short-term cognitive reconstructing.

(14) Mental.

(15) Fantasies.

(16) Link.

(17) Subject: Chủ thể. Từ này dùng để chỉ một người trải qua cơn thôi miên, thường là “thân chủ” của tác giả, nhưng cũng có lúc người này không phải là thân chủ.

(18) Trigger words: “Từ châm ng̣i,” là từ có tác dụng khêu gợi hồi ức về một cái ǵ đó.

(19) Chú ư: “Nhóm” ở đây, là “nhóm học tập” của chủ thể trong thế giới linh hồn.

(20) Cần chú ư: Thế giới linh hồn rất khác với “kiếp sau” – từ “kiếp sau” thường chỉ “kiếp sống kế tiếp ở Cơi Trần.

(21) The conscious mind.

(22) Alter ego: Bạn chí cốt; người thay thế tôi hoàn toàn. Bạn đọc chú ư: theo cuốn sách này, th́ mỗi linh hồn có nhiều “bản ngă” khác nhau – trong những kiếp sống khác nhau, với những cơ thể vật lư khác nhau – nhưng nó đều có một “lư lịch” [căn cước] chung cho những “bản ngă ” đó.

(23) Đây là một nhận xét rất quan trọng: Bởi v́, nếu những ǵ xuất hiện trong cơn thôi miên đều chỉ là ảo giác, th́ phương pháp trị bệnh bằng thuật thôi miên, và những điều được viết ra trong cuốn sách này, sẽ mất hết giá trị.

(24) Nếu trong cơn thôi miên, mà chủ thể “nói dối,” hoặc “phịa ra” một cái ǵ đó, th́ những ca trong cuốn sách này sẽ không c̣n giá trị ǵ nữa !

(25) Bạn đọc lưu ư: “Cái chết”, thực ra, chỉ là “cái chết của cơ thể vật lư”, nhưng linh hồn th́ vẫn tiếp tục “sống”.

(26) Cần lưu ư nhận xét này.

(27) Với tư cách là người đọc, người dịch cũng có xác tín như tác giả

(28) Lưu ư: Có người nghĩ rằng, thế giới linh hồn chỉ là chuyện “viển vông,” xa rời thực tế, không ăn nhập ǵ tới cuộc sống hiện tại của họ. Nhưng thực ra, nếu suy ngẫm kỹ, ta sẽ thấy, một sự hiểu biết sâu xa về thế giới linh hồn, có thể thay đổi toàn bộ quan niệm sống của ta – nó giúp ta sống tốt hơn, bao dung, nhân ái hơn… Và rất nhiều lợi lạc khác, không kể xiết.

(29) Đây cũng chính là mục đích của người dịch, khi chia sẻ với bạn đọc bản dịch này.


Xem tiếp Chương I

art2all.net