ĐỖ TƯ NGHĨA

 

TÍN ĐỒ ĐÍCH THỰC ( THE TRUE BELIEVER)

Về bản chất của những phong trào quần chúng

Erich Hoffer / Đỗ Tư Nghĩa

==o))((o==

 

 PHẦN MỘT :

SỰ HẤP DẪN CỦA NHỮNG PHONG TRÀO QUẦN CHÚNG.


CHƯƠNG III

TÍNH KHẢ-HOÁN CỦA NHỮNG PHONG TRÀO QUẦN CHÚNG

14

          Khi dân chúng đă chín muồi cho một phong trào quần chúng, th́ họ thường chín muồi cho bất cứ phong trào hữu hiệu nào, và không chỉ [chín muồi] cho một học thuyết hay một chương tŕnh đặc thù nào. Tại nước Đức tiền-Hitler, khi một chàng trai trẻ đang trăn trở t́m hướng đi, th́ việc gia nhập vào hàng ngũ những người Cộng sản hay Quốc Xă, thường là một “tṛ sấp ngửa.” Tại cái biên giới đông nghịt của nước Nga do Nga Hoàng cai trị, nơi mà quần chúng Do Thái đang sôi sục, th́ t́nh h́nh đă chín muồi cho cả cách mạng lẫn chủ nghĩa phục quốc Do Thái. Trong cùng một gia đ́nh, th́ một thành viên sẽ gia nhập hàng ngũ những nhà cách mạng, và người kia, theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái. Dr. Chaim Weizmann trích dẫn một lời nói của mẹ ông trong những ngày đó: “Bất cứ cái ǵ xảy ra, đều tốt cho mẹ. Nếu Shemuel [đứa con trai theo phe cách mạng] đúng, th́ chúng ta sẽ đều hạnh phúc tại Nga; và nếu Chaim [người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái ] đúng, th́ mẹ sẽ đến sống tại Palestine.” (1)

_________

Effective: Hữu hiệu; có hiệu quả; có ảnh hưởng.

 

Việc dễ bị lôi cuốn bởi mọi phong trào quần chúng, không luôn luôn ngừng lại ngay cả khi kẻ “tín đồ đích thực” tiềm năng đă trở thành kẻ tân ṭng nhiệt thành của một phong trào đặc thù nào đó. Nơi nào mà những phong trào quần chúng đang cạnh tranh quyết liệt với nhau, th́ thường xuyên có những trường hợp tân ṭng – thậm chí, những kẻ tân ṭng hăng say nhất – dịch chuyển sự trung thành của họ từ phong trào này sang phong trào nọ. Một Saul biến thành một Paul, không phải là hiếm có, cũng không phải là một chuyện kỳ lạ. Trong thời đại chúng ta, th́ mỗi phong trào quần chúng đang chiêu mộ những kẻ tân ṭng, có vẻ như xem những phần tử trung kiên của đối thủ của nó, như là những kẻ tân ṭng tiềm năng của chính nó. Hitler nh́n những người Cộng sản Đức như là những người Quốc Xă tiềm năng: “Thành viên của đảng Dân chủ Xă hội tiểu tư sản và lănh tụ công đoàn, sẽ không bao giờ trở thành một người Quốc Xă, nhưng người Cộng sản th́ luôn luôn sẽ” (2).

Ernst Röhm khoe rằng, ông có thể biến người Cộng sản “đỏ nhất” thành một người dân tộc chủ nghĩa nhiệt thành trong ṿng 4 tuần (3). Trái lại, Karl Radek xem những đảng viên Quốc Xă Sơ mi nâu (S.A) như là một lực lượng trừ bị cho những “tân ṭng” Cộng sản tương lai. (4)

Bởi v́ mọi phong trào quần chúng đều thu hút những phần tử trung kiên của chúng từ cùng một loại người và hấp dẫn cùng những loại tâm trí, hệ luận là: ( a) mọi phong trào quần chúng đều có tính cạnh tranh, và nếu một phong trào có thêm những phần tử trung kiên, th́ những phong trào khác lại mất đi chính những phần tử đó; (b) mọi phong trào quần chúng đều khả-hoán. Một phong trào sẵn sàng tự hoán chuyển thành một phong trào khác. Một phong trào tôn giáo có thể phát triển thành một cuộc cách mạng xă hội hay một phong trào dân tộc chủ nghĩa; một cuộc cách mạng xă hội, thành chủ nghĩa dân tộc hiếu chiến hay một phong trào tôn giáo; một phong trào dân tộc chủ nghĩa, thành một cuộc cách mạng xă hội hay một phong trào tôn giáo.

 

15

Thật hiếm có một phong trào quần chúng nào mà hoàn toàn chỉ có một tính chất. Thường thường, nó biểu lộ vài sắc thái của những loại phong trào khác, và đôi khi, nó là 2 hay 3 phong trào trong một. Cuộc di cư hàng loạt của người Hebrew [người Do Thái cổ] từ Ai Cập, là một cuộc phản kháng của nô lệ, một phong trào tôn giáo, và một phong trào dân tộc chủ nghĩa. Chủ nghĩa dân tộc hiếu chiến của người Nhật chủ yếu [trong bản chất] là có tính tôn giáo. Cuộc Cách Mạng Pháp là một tôn giáo mới. Nó có “giáo điều của nó, những nguyên lư thiêng liêng của Cách Mạng – Tự Do và sự B́nh đẳng thần thánh. Nó có h́nh thức thờ phụng của nó, một phóng tác của nghi lễ Công giáo, vốn được được triển khai trong sự kết nối với những lễ hội dân sự. Nó có những vị thánh của nó, những vị anh hùng và những kẻ tử đạo của tự do” (5). Đồng thời, cuộc Cách mạng Pháp cũng là một phong trào dân tộc chủ nghĩa. Vào năm 1972, Quốc hội lập hiến ra sắc luật rằng, những bàn thờ phải được thiết lập khắp mọi nơi, mang khẩu hiệu: “người công dân sinh ra, sống và chết cho Tổ Quốc.” (6)

Những phong trào tôn giáo của Phong Trào Cải Cách có một phương diện cách mạng, mà tự biểu lộ ra trong những cuộc nổi dậy của nông dân, và chúng cũng là những phong trào dân tộc chủ nghĩa. Luther nói: “Trong mắt của những người Ư, th́ những người Đức chúng ta chỉ là những con lợn Teutonic hèn hạ. Họ bóc lột chúng ta như những tên lang băm và hút máu đất nước ta tận xương tủy. Hỡi nước Đức, hăy tỉnh dậy!” (7).

Tính chất tôn giáo của những cuộc cách mạng Bolshevik và Đức Quốc Xă, được công nhận một cách rộng răi. Cái búa liềm và chữ vạn, là cùng loại với chữ thập. Nghi lễ của những cuộc diễu hành của chúng, là nghi lễ của một đám rước tôn giáo. Chúng có những điều khoản của đức tin, những vị thánh, những kẻ tử đạo, và những nấm mồ thiêng liêng. Những cuộc cách mạng Bolshevik và Đức Quốc Xă cũng là những phong trào dân tộc chủ nghĩa được phát triển đầy đủ. Cuộc cách mạng Đức Quốc Xă đă là như vậy ngay từ ban đầu, trong khi chủ nghĩa dân tộc của những người Bolshevik, là một phát triển muộn.

Chủ nghĩa phục quốc Do Thái là một phong trào dân tộc chủ nghĩa và một cuộc cách mạng xă hội. Đối với người Do Thái chính thống, nó cũng là một phong trào tôn giáo. Chủ nghĩa dân tộc Ái Nhĩ Lan có một sắc thái tôn giáo đậm nét. Những phong trào quần chúng hiện tại ở châu Á, th́ vừa có tính dân tộc chủ nghĩa, vừa có tính cách mạng.

 

16

Vấn đề chặn đứng một phong trào quần chúng, thường là một vấn đề thay thế một phong trào này bằng một phong trào khác. Một cuộc cách mạng xă hội có thể được chặn đứng, bằng cách phát huy một phong trào tôn giáo hay dân tộc chủ nghĩa. Như thế, tại những đất nước mà ở đó Công giáo đă lấy lại tinh thần của phong trào quần chúng của nó, th́ nó phản công chống lại sự lan tràn của chủ nghĩa cộng sản. Tại Nhật Bản, th́ chính chủ nghĩa dân tộc đă vạch hướng đi cho mọi phong trào phản kháng xă hội. Tại miền Nam chúng ta, th́ phong trào liên đới sắc tộc có vai tṛ như là một biện pháp để ngăn ngừa mọi biến động xă hội. Một t́nh huống tương tự có thể được quan sát thấy giữa những người Pháp tại Canada và những người Boers tại Nam Phi.

Phương pháp để chặn đứng một phong trào bằng cách thay thế nó bằng một phong trào khác, th́ không luôn luôn là không nguy hiểm, và nó thường phải trả giá không rẻ. Bởi v́ t́nh huống hiện tại [luôn] ở vào thế bất lợi, khi một phong trào quần chúng đích thực đang tiến công. Tại nước Ư và nước Đức thời tiền chiến tranh, th́ những nhà doanh nghiệp có đầu óc thực tiễn, hành động trong một cách thức hoàn toàn hợp logic, khi họ động viên một phong trào Phát-xít và Đức Quốc Xă để ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản. Nhưng khi làm như vậy, th́ những con người có đầu óc thực tiễn và logic này đẩy nhanh sự phá sản của chính ḿnh.

Những phong trào quần chúng có thể được thay thế bởi những cái an toàn hơn. Nói chung, bất cứ sự sắp xếp nào – mà hoặc để ngăn cản chủ nghĩa cá nhân hoặc việc tạo điều kiện thuận lợi cho sự quên ḿnh, hay việc cung cấp những cơ hội cho hành động và cho những khởi đầu mới – đều có khuynh hướng phản công chống lại sự nổi lên và lan rộng của những phong trào quần chúng. Những đề tài này sẽ được thảo luận trong những chương về sau. Ở đây, chúng ta sẽ bàn sơ qua về sự di dân, mà ít ai ngờ rằng, nó có thể là một cái thay thế cho những phong trào quần chúng.

 

17

Sự di dân cung cấp một trong những cái mà những kẻ phẫn chí hy vọng t́m thấy khi họ gia nhập một phong trào quần chúng, cụ thể là, sự thay đổi và một cơ hội cho một khởi đầu mới. Những mẫu người tương tự, vốn tràn ngập hàng ngũ của một phong trào quần chúng đang lên, rất có thể cũng t́m kiếm một cơ hội để di dân. Sự di dân có thể đóng vai tṛ như một thay thế cho một phong trào quần chúng. Chẳng hạn, rất có khả năng là, nếu Hoa Kỳ và Đế quốc Anh đă hoan nghênh sự di dân hàng loạt từ châu Âu sau Thế Chiến I, th́ có lẽ đă không có một cuộc cách mạng Phát-xít hay Đức Quốc Xă. Trên đất nước này [Hoa Kỳ], th́ sự di dân tự do và dễ dàng qua một lục địa bao la, góp phần vào sự ổn định xă hội.

Tuy nhiên, bởi v́ cái “chất liệu con người” của chúng, nên những cuộc di dân hàng loạt là miếng đất màu mỡ cho sự nổi lên của những phong trào quần chúng đích thực. Đôi khi khó mà nói, một cuộc di dân chấm dứt ở đâu, và một phong trào quần chúng bắt đầu ở đâu – và cái nào đến trước. Sự di dân của những người Hebrews từ Ai Cập, phát triển thành một phong trào tôn giáo và dân tộc chủ nghĩa. Những cuộc di dân của những kẻ man dă trong những ngày tàn của Đế quốc La Mă, th́ không chỉ là những dịch chuyển của dân số. Có những bằng chứng cho thấy rằng, những kẻ man dă tương đối ít về số lượng, nhưng, một khi họ xâm lăng một đất nước, th́ họ được gia nhập bởi những kẻ bị áp bức và bất măn trong mọi tầng lớp xă hội: “nó là một cuộc cách mạng xă hội được khởi động và ngụy trang, trên bề mặt, bởi sự chinh phục của ngoại bang.” (8)

_________

Human material.

 

Mọi phong trào quần chúng, trong một nghĩa nào đó, là một cuộc di dân – một phong trào tiến về phía một vùng đất hứa; và, khi thuận lợi và đúng thời điểm, th́ một cuộc di dân thực xảy ra. Cái này xảy trong trong trường hợp của những người Thanh giáo, những người Anabaptist, những người Mormon, những người Dukhobor, và những kẻ theo chủ nghĩa Phục quốc Do Thái. Sự di dân hàng loạt củng cố tinh thần và sự đoàn kết của một phong trào; và bất luận trong h́nh thức nào – một cuộc chinh phục của ngoại bang, một cuộc thập tự chinh, sự hành hương hay tái định cư trên vùng đất mới – th́ nó đều được thực hiện bởi những phong trào quần chúng năng động nhất.

 

========

(1). Chaim Weizmann, Trial and Error (New York: Harper &
Brothers, 1949), p. 13.
(2). Hermann Rauschning, Hitler Speaks (New York: G. P.
Putnam’s Sons, 1940), p. 134.
(3). Konrad Heiden, Der Fuehrer (Boston: Houghton Mi􀁁in
Company, 1944), p. 30.
(4). Fritz August Voigt, Unto Caesar (G. P. Putnam’s Sons, 1938),
p. 283.
(5). Carl L. Becker, The Heavenly City of the Eighteenth-Century
Philosophers (New Haven: Yale University Press, 1932), p. 155.
(6). A. Mathiez, “Les Origins des Cultes Revolutionnaires,” p. 31.
Quoted by Carlton J. H. Hayes, Essays on Nationalism (New York:
Macmillan Company, 1926), p. 103.
(7). Frantz Funck-Brentano, Luther (London: Jonathan Cape,
Ltd., 1939), p. 278.
(8). H. G. Wells, The Outline of History (New York: Macmillan
Company, 1922), pp. 482–484.


 

Trở về Giới thiệu và Mục Lục

Xem tiếp Phần 2, Chương 4

 

art2all.net