ĐỖ TƯ NGHĨA

 

TÍN ĐỒ ĐÍCH THỰC ( THE TRUE BELIEVER)

Về bản chất của những phong trào quần chúng

Erich Hoffer / Đỗ Tư Nghĩa

==o))((o==

 

 PHẦN HAI :

NHỮNG KẺ TÂN T̉NG TIỀM NĂNG.


CHƯƠNG V

NHỮNG NGƯỜI NGHÈO
NHỮNG NGƯỜI MỚI NGHÈO

20

          Không phải mọi người nghèo đều phẫn chí. Một số những người nghèo sống tù đọng trong những khu ổ chuột của những thành phố, th́ măn nguyện, an phận trong sự tàn tạ của họ. Họ run rẩy trước ư tưởng về cuộc sống bên ngoài cái ao tù đọng quen thuộc của họ. Ngay cả những người nghèo đáng kính, th́ khi sự nghèo của họ đă trở thành thâm căn cố đế, vẫn ở trong t́nh trạng ù lỳ. Họ sợ hăi tính bất biến của trật tự sự vật. Cần có một biến động lớn – một cuộc xâm lăng, một trận dịch hay một tai họa cộng đồng nào đó – để mở mắt họ ra trước sự phù du của trật tự vĩnh cửu.

_____

Immutability.

 

Thường thường, những người xưa kia không nghèo, mà chỉ mới nghèo gần đây, kẻ nghèo mới, là những người sôi sục với chất men của sự phẫn chí. Kư ức về những điều tốt đẹp xưa kia, cháy như lửa trong mạch máu họ. Những kẻ bị truất quyền thừa kế và bị truất hữu hóa, là những kẻ sẵn sàng gia nhập mọi phong trào quần chúng đang nổi lên. Chính những kẻ nghèo mới, trong thế kỷ 17 của nước Anh, là những người bảo đảm sự thành công của cuộc Cách Mạng Thanh giáo. Trong phong trào “xây rào” [xem tiết 5], hàng ngàn điền chủ đuổi những người mướn đất của họ và biến những cánh đồng của họ thành những đồng cỏ. “Những nông dân mạnh mẽ và năng động, yêu mến miếng đất vốn đă nuôi dưỡng họ, bị chuyển hoán thành những kẻ làm thuê, hay những kẻ hành khất vạm vỡ; … những đường phố đầy những kẻ bần cùng”(1). Chính khối quần chúng bị truất hữu hóa này, đă cung cấp những tân binh cho quân đội kiểu mới của Cromwell.

Tại Ư và Đức, những “người nghèo mới” đến từ một giai cấp trung lưu bị khánh kiệt, tạo thành chỗ dựa chính yếu của những cuộc cách mạng Đức Quốc Xă và Phát-xít. Những nhà cách mạng tiềm năng tại nước Anh hiện nay, không phải là những công nhân, mà là những công chức bị truất quyền thừa kế và những doanh nhân. Giai cấp này có một kư ức sống động về sự phồn vinh và sự thống trị [đă qua] và có vẻ như không tự thỏa hiệp được với những điều kiện sống quẫn bách và sự bất lực về chính trị.

Gần đây, cả ở đây lẫn tại những đất nước khác, có một sự gia tăng định kỳ to lớn của một loại nghèo mới, và sự xuất hiện của họ chắc chắn đă góp phần vào sự nổi lên và lan rộng của những phong trào quần chúng đương đại. Trước đây, th́ những người-nghèo-mới chủ yếu đến từ những giai cấp hữu sản, bất luận tại những thành phố hay trên đất liền [on the land]; nhưng gần đây, và có lẽ lần đầu tiên trong lịch sử, người công nhân b́nh dị xuất hiện trong vai tṛ này.

Bao lâu mà người ta sống ở một mức “tay làm, hàm nhai,” th́ họ được xem, và tự cảm thấy, như là những người nghèo măn tính. Họ cảm thấy nghèo trong cả thời buổi kinh tế khó khăn lẫn trong thời buổi phát đạt. Những cuộc khủng hoảng kinh tế, bất luận nghiêm trọng đến đâu, cũng không được xem như là những cái bất b́nh thường và xấu xa đáng ghê tởm. Nhưng với sự phổ biến của một mức sống cao, th́ những cuộc suy thoái kinh tế và nạn thất nghiệp mà chúng đem đến, mang một khía cạnh mới. Người công nhân hiện nay tại thế giới phương Tây, cảm thấy nạn thất nghiệp như là một sự xuống cấp. Anh ta thấy ḿnh bị truất quyền thừa kế và bị tổn thương bởi một trật tự bất công của sự vật, và sẵn sàng nghe theo những ai kêu gọi một “thương vụ” mới.

 

NHỮNG NGƯƠI NGHÈO TÚNG QUẪN

21

Những người nghèo nào mà ở trên ranh giới của sự chết đói, họ sống cuộc sống có mục đích. Dấn ḿnh vào một cuộc chiến đấu cam go cho thực phẩm và nơi trú ẩn, là hoàn toàn thoát khỏi một cảm thức về sự vô dụng. Những mục đích [của họ] đều cụ thể và tức th́. Mọi bữa ăn là một thành tựu; đi ngủ với một cái bao tử đầy, là một thắng lợi; và mọi “của trời cho”, là một phép mầu. Họ không cần đến “một mục tiêu cá nhân đầy cảm hứng, tuyệt vời, mà sẽ đem lại ư nghĩa và phẩm cách cho đời họ.” Họ được miễn dịch đối với sự kêu gọi của một phong trào quần chúng. Angelica Balabanoff mô tả tác dụng của sự nghèo nàn túng quẫn trên nhiệt t́nh cách mạng của những nhà cấp tiến nổi tiếng, mà đă lũ lượt kéo đến Moscow vào những ngày đầu tiên của cách mạng Bolshevik. “Ở đây, tôi thấy những người đàn ông và đàn bà mà trước đây đă sống trọn đời họ cho những ư tưởng, và đă tự nguyện từ bỏ những thuận lợi vật chất, sự tự do, hạnh phúc và t́nh cảm gia đ́nh cho việc thực hiện những lư tưởng của họ – nhưng bây giờ, mối bận tâm duy nhất của họ, là làm sao thoát khỏi cái đói và cái lạnh.” (2)

Ở đâu mà người ta lao động cật lực từ b́nh minh đến hoàng hôn chỉ để có cái nhét vào bao tử, th́ họ không nuôi dưỡng mối bất b́nh nào và không mơ giấc mơ nào. Một trong những lư do cắt nghĩa tại sao quần chúng tại Trung Quốc không nổi dậy, là bởi v́ ở đó, người ta phải dồn hết mọi nỗ lực mới có được miếng ăn. Cuộc đấu tranh khốc liệt cho sinh tồn, “có một ảnh hưởng tĩnh tại [static] hơn là năng động.”(3)

 

22

Sự khốn khổ không tự động làm phát sinh sự bất măn, cũng như, cường độ của sự bất măn không trực tiếp tỷ lệ thuận với mức độ của sự khốn khổ.

Sự bất măn có vẻ như là ở mức cao nhất, khi sự khốn khổ là có thể chịu đựng được, khi những điều kiện đă được cải thiện, đến nỗi, một t́nh trạng lư tưởng gần như đang ở trong tầm tay. Một mối bất b́nh là sắc bén nhất, khi nó đă được xoa dịu ở mức cao nhất. De Tocqueville – trong những nghiên cứu của ḿnh về t́nh trạng của xă hội tại Pháp trước cách mạng – kinh ngạc bởi sự khám phá rằng, “sau cuộc cách mạng 1789, th́ không có giai đoạn nào mà trong đó sự thịnh vượng của Pháp lại gia tăng nhanh chóng, so với 20 năm đi trước biến cố đó” (4). Ông buộc phải kết luận : “những người Pháp thấy rằng, khi vị trí của họ càng tốt hơn, th́ họ thấy nó càng không thể chịu đựng” (5). Tại cả Pháp lẫn Nga, vào thời điểm cách mạng bùng nổ, th́ những nông dân khát khao có ruộng, đă làm chủ hầu như chính xác 1/3 đất nông nghiệp, và phần lớn đất đai ấy, đều được thủ đắc trong một hoặc hai thế hệ đi trước cuộc cách mạng (6). Không phải sự đau khổ hiện tại, mà chính là một nếm trải về những cái tốt đẹp hơn [trong quá khứ], đă kích thích người ta nổi dậy phản kháng. Một biến động có tính quần chúng tại nước Nga Sô Viết, khó ḷng diễn ra trước khi người ta có một nếm trải thực sự về cuộc sống tốt đẹp. Khoảnh khắc nguy hiểm nhất cho chế độ của Bộ Chính Trị Sô Viết, sẽ là khi một sự cải thiện đáng kể trong những điều kiện kinh tế của quần chúng Nga đă được đạt tới, và sự cai trị toàn trị sắt máu đă được nới lỏng. Thật đáng quan tâm, rằng việc ám sát Kirov – người bạn thân của Stalin, vào tháng 12 năm 1934 – xảy ra không lâu sau khi Stalin đă thông báo sự chấm dứt thành công của kế hoạch 5 năm và sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới, thịnh vượng, đầy phấn khởi.

Càng tiến gần đến cái đối tượng mơ ước, th́ sự bất măn lại càng mănh liệt. Điều này đúng, bất luận chúng ta di chuyển về phía mục tiêu của ḿnh, hay di chuyển xa khỏi nó. Nó đúng cả với những ai vừa mới thoáng thấy vùng đất hứa, lẫn những kẻ bị đuổi ra khỏi nó, nhưng vẫn c̣n nh́n thấy nó; cả những người sắp giàu, sắp tự do, vân vân, lẫn những người vừa mới nghèo và những người vừa mới bị làm nô lệ.

 

23

Khi chúng ta có nhiều và muốn có nhiều hơn, th́ chúng ta sẽ phẫn chí nhiều hơn, so với khi chúng ta không có ǵ và muốn có một ít. Chúng ta ít bất măn hơn khi chúng ta thiếu nhiều cái, so với khi chúng ta dường như chỉ thiếu một cái.

 

24

Chúng ta liều ḿnh nhiều hơn khi phấn đấu cho những cái xa hoa không thiết yếu, so với khi phấn đấu cho những cái thiết yếu. Thường thường, khi ta từ bỏ những cái xa hoa không thiết yếu, th́ cuối cùng, ta lại thiếu những cái thiết yếu.

 

25

Có một niềm hy vọng mà vận hành như là một chất nổ, và một niềm hy vọng mà đưa tới kỷ luật và tiêm vào sự kiên nhẫn. Đó là sự khác biệt giữa niềm hy vọng về một mục tiêu gần kề, và niềm hy vọng về một viễn ảnh xa xôi.

Một phong trào quần chúng đang lên, rao giảng niềm hy vọng về một mục tiêu gần kề. Nó nhắm vào việc thúc giục những người theo nó hành động, và chính cái nhăn hiệu của niềm hy vọng về một mục tiêu gần kề, là cái thúc đẩy dân chúng hành động. Ki-tô giáo đang lên, rao giảng sự tận thế gần kề và nước trời “ở quanh góc phố”; Mohammed treo lủng lẳng chiến lợi phẩm trước mặt những kẻ trung thành; những người Jacobins hứa hẹn sự tự do và b́nh đẳng tức th́; những người Bolshevik đầu tiên hứa hẹn bánh ḿ và ruộng đất; Hitler hứa hẹn sự chấm dứt những ràng buộc của ḥa ước Versailles và công việc và hành động cho tất cả mọi người. Về sau, khi phong trào đă nắm quyền lực, th́ sự nhấn mạnh được dịch chuyển sang niềm hy vọng về một mục tiêu xa – giấc mơ và viễn ảnh tương lai huy hoàng. Bởi v́, khi một phong trào “đă tới đích,” th́ nó bận tâm đến việc duy tŕ hiện tại, và nó đánh giá cao sự vâng lời và sự kiên nhẫn hơn là hành động tự phát, và khi chúng ta “hy vọng về cái mà chúng ta không thấy, th́ chúng ta thực sự đợi chờ nó với ḷng kiên nhẫn.” (7)

____

Ḥa ước Versailles: Kư giữa Đức và quân Đồng Minh ở cuối thế chiến II, là một ḥa ước mang đến cho Đức nhiều thiệt tḥi [bồi thường chiến tranh, mất nhiều thuộc địa…].

 

Mọi phong trào quần chúng, một khi đă được xác lập, đều có niềm hy vọng xa xôi của nó, nhăn hiệu thuốc phiện của nó, để xoa dịu sự mất kiên nhẫn của quần chúng và làm cho họ thỏa hiệp với số phận của họ trong đời. Chủ nghĩa Stalin là một loại thuốc phiện của quần chúng, hệt như những tôn giáo chính thức vậy. (8)

 

NHỮNG NGƯỜI NGHÈO TỰ DO

26

Những nô lệ th́ nghèo; thế nhưng, khi chế độ nô lệ là rộng khắp và đă được thiết định lâu dài, th́ có ít khả năng cho một cuộc nổi dậy của một phong trào quần chúng. Sự b́nh đẳng tuyệt đối giữa những người nô lệ và cuộc sống cộng đồng thâm t́nh trong những khu nô lệ, ngăn cản sự phẫn chí cá nhân. Trong một xă hội có chế độ nô lệ, th́ những kẻ gây rối là những kẻ mới bị nô lệ và những kẻ nô lệ vừa mới được trả tự do. Trong trường hợp sau, th́ chính gánh nặng của tự do, là cái gốc rễ của sự bất măn của họ.

Sự tự do làm giảm nhẹ sự phẫn chí, nhưng đồng thời, cũng làm gia tăng nó. Nếu một người có tự do chọn lựa, th́ y hoàn toàn phải chịu trách nhiệm về sự thất bại của ḿnh. Và bởi v́ sự tự do động viên nhiều nỗ lực đa đạng, cho nên nó tất yếu làm gia bội sự thất bại và sự phẫn chí. Sự tự do làm vơi bớt sự phẫn chí bằng cách cung cấp những thuốc giảm đau tạm thời cho hành động, cho sự thay đổi và sự phản kháng.

Trừ phi một người có những tài năng để biến ḿnh thành một cái ǵ đó [có giá trị], th́ tự do là một gánh nặng phiền toái. Quyền tự do chọn lựa có lợi ích ǵ, nếu ta có một bản ngă bất lực? Chúng ta gia nhập một phong trào quần chúng, là để thoát khỏi trách nhiệm cá nhân, hoặc, như lời của một đảng viên Quốc Xă trẻ, nhiệt t́nh, “để tự do thoát khỏi tự do.” (9)

Không phải là hoàn toàn đạo đức giả, khi những đảng viên thường của Đức Quốc Xă tự tuyên bố rằng ḿnh vô tội về mọi tội ác ghê tởm mà họ đă phạm. Họ tự xem ḿnh bị lừa gạt và bị phỉ báng khi bị buộc phải gánh trách nhiệm về việc đă vâng theo những mệnh lệnh. Há chẳng phải là họ gia nhập phong trào Quốc Xă là để thoát khỏi trách nhiệm hay sao?

________

Rank and file: Đảng viên thường, không ở trong hàng ngũ lănh đạo.

 

Do vậy, một xă hội với sự tự do đáng kể, nhưng thiếu những thuốc giảm đau cho sự phẫn chí, dường như sẽ là miếng đất mầu mỡ nhất cho sự phát triển của một phong trào quần chúng. Chính xác bởi v́ những nông dân Pháp của thế kỷ 18 – không giống như những nông dân Đức và Áo – đă không c̣n là những nông nô, và đă làm chủ đất đai, nên họ là những người dễ bị lôi cuốn bởi lời kêu gọi của cách mạng Pháp. Có lẽ, đă không có một cuộc cách mạng Bolshevik, nếu trước đó một thế hệ hoặc hơn, nông dân Nga đă không có tự do, và đă không nếm hương vị của quyền tư hữu đối với ruộng đất.

 

27

Ngay cả những phong trào quần chúng vốn nổi lên nhân danh tự do chống lại một trật tự áp bức, th́ cũng không đạt được tự do cá nhân, một khi chúng khởi sự lăn bánh. Bao lâu mà một phong trào c̣n dấn ḿnh vào một cuộc đấu tranh cam go với trật tự hiện hành – hay phải tự bảo vệ chống lại những kẻ thù bên trong hoặc bên ngoài – th́ mối bận tâm chủ yếu của nó sẽ là sự nhất trí và sự hy sinh quên ḿnh, vốn đ̣i hỏi sự từ bỏ ư chí, phán đoán và những thuận lợi cá nhân. Theo Robespierre, th́ chính quyền cách mạng là “chuyên chính của tự do chống lại sự độc tài.” (10)

Điểm quan trọng là, trong việc quên đi hoặc tŕ hoăn tự do cá nhân, th́ phong trào quần chúng năng động không đi ngược lại những khuynh hướng của những kẻ nhiệt thành ủng hộ nó. Những kẻ cuồng tín, Renan nói, sợ sự tự do hơn [là họ sợ] sự bức hại (11). Đúng là, những phần tử trung kiên của một phong trào đang lên có một cảm thức mạnh mẽ về sự giải phóng – cho dẫu họ sống và thở trong một bầu không khí của những giáo điều nghiêm ngặt và những mệnh lệnh. Cảm thức về sự giải phóng này đến từ việc đă thoát khỏi những gánh nặng, những nỗi sợ hăi, và nỗi vô vọng của một hiện hữu cá nhân không thể biện minh được. Chính sự trốn thoát này là cái mà họ cảm nhận như là sự giải phóng và sự cứu rỗi. Kinh nghiệm về sự thay đổi to lớn, cũng hàm chứa một cảm thức về tự do, cho dẫu những thay đổi được thực hiện trong khuôn khổ của kỷ luật nghiêm ngặt. Chỉ khi nào phong trào đă qua giai đoạn năng động của nó, và đông đặc lại thành một khuôn mẫu của những định chế ổn định, th́ tự do cá nhân mới có một cơ hội trồi lên. Giai đoạn năng động càng ngắn, th́ dường như người ta càng thấy rằng, cái tạo điều kiện cho sự trồi lên của tự do cá nhân, là chính cái phong trào, hơn là sự chấm dứt của nó. Cái trật tự mà phong trào quần chúng lật đổ và thay thế càng độc tài, th́ cái ấn tượng này càng rơ nét.

 

28

Những ai thấy đời ḿnh bị hỏng và lăng phí, khao khát sự b́nh đẳng và t́nh huynh đệ hơn là khao khát tự do. Nếu họ kêu đ̣i tự do, th́ đó chỉ là thứ tự do để thiết lập sự công bằng và sự “đồng phục.” Niềm đam mê về sự b́nh đẳng, một phần, là niềm đam mê về sự khuyết-danh [anonymity] : là một sợi chỉ trong số nhiều sợi chỉ vốn cấu thành một chiếc áo; một sợi chỉ không thể phân biệt với những sợi chỉ khác (12). Không ai có thể điểm mặt chúng ta, so sánh chúng ta với những người khác, và không ai phanh phui sự thua kém của chúng ta.

Những ai kêu đ̣i tự do to mồm nhất, thường có thể là những người ít hạnh phúc nhất trong một xă hội tự do. Những kẻ phẫn chí, bị đè nặng bởi những khuyết điểm của họ, đổ lỗi cho những g̣ bó hiện tại về sự thất bại của họ. Thực ra, niềm ước mơ thâm sâu nhất của họ, là chấm dứt cái “tự do cho tất cả.” Họ muốn loại bỏ sự cạnh tranh tự do và sự thử thách tàn nhẫn, mà một cá nhân liên tục phải nhận chịu trong một xă hội tự do.

 

29

Nơi nào mà có tự do đích thực, th́ sự b́nh đẳng là niềm đam mê của quần chúng. Nơi nào mà có sự b́nh đẳng đích thực, th́ tự do là niềm đam mê của một thiểu số.

Sự b́nh đẳng mà không có tự do, tạo ra một khuôn mẫu xă hội ổn định hơn là có tự do mà không có b́nh đẳng.

 

NHỮNG NGƯỜI NGHÈO SÁNG TẠO

30

Sự nghèo, khi đi đôi với tính sáng tạo, thường không có sự phẫn chí. Điều này đúng với người thợ thủ công nghèo, thành thạo trong nghề nghiệp của ḿnh; nhà văn nghèo, nghệ sĩ nghèo, và nhà khoa học nghèo nhưng lại có tràn đầy năng lực sáng tạo. Không có ǵ nâng đỡ ḷng tự tin của chúng ta và làm cho ta thỏa hiệp với chính ḿnh, hơn là khả năng liên tục sáng tạo; thấy những sự thể tăng trưởng và phát triển dưới bàn tay ḿnh, ngày qua ngày. Sự suy tàn của ngành thủ công trong thời hiện đại, có lẽ là một trong những nguyên nhân cho sự nổi lên của sự phẫn chí và khiến cho cá nhân dễ bị lây nhiễm bởi phong trào quần chúng.

Thật ấn tượng khi quan sát, như thế nào mà, với sự phai tàn của những năng lực sáng tạo cá nhân, có xuất hiện một khuynh hướng rơ nét – khuynh hướng muốn gia nhập những phong trào quần chúng. Ở đây sự kết nối giữa sự trốn thoát khỏi một bản ngă bất lực và sự đáp ứng lời kêu gọi của những phong trào quần chúng, là rất rơ ràng. Một tác giả, một nghệ sĩ , một nhà khoa học “dang dở” – dang dở do một sự khô kiệt của ḍng chảy sáng tạo ở bên trong – không sớm th́ muộn, cũng sẽ trôi dạt vào trong những doanh trại của những nhà ái quốc nhiệt thành, những người sắc tộc chủ nghĩa cuồng tín [racer-mongers], những kẻ chấn hưng đạo đức và những chiến sĩ đấu tranh cho những “sự nghiệp thần thánh.” Có lẽ kẻ bất lực về t́nh dục cũng bị chi phối bởi cùng xung lực tương tự. [Vai tṛ của những kẻ phi-sáng tạo trong phong trào Đức Quốc Xă sẽ được thảo luận trong tiết 111].

 

NHỮNG NGƯỜI NGHÈO Ở TRONG MỘT TỔ CHỨC CHẶT CHẼ.

31

Những người nghèo vốn là những thành viên của một nhóm chặt chẽ – một bộ tộc, một gia đ́nh khăng khít, một nhóm sắc tộc hay tôn giáo chặt chẽ – th́ tương đối thoát khỏi sự phẫn chí, và do vậy, hầu như được miễn nhiễm khỏi sự hấp dẫn của một phong trào quần chúng đang chiêu mộ người theo. Một người càng ít tự nh́n ḿnh như là một cá nhân tự trị – có năng lực định h́nh ḍng đời ḿnh và một ḿnh chịu trách nhiệm về cái địa vị của ḿnh trong đời – th́ người ấy càng ít thấy sự nghèo khổ của ḿnh như là bằng chứng của sự thua kém của riêng y. Một thành viên của một nhóm chặt chẽ có một “ngưỡng phản kháng” [revolting point] cao hơn hơn một cá nhân tự trị. Phải cần nhiều sự khốn khổ và nhục nhă cá nhân hơn, để thúc đẩy anh ta phản kháng. Trong một xă hội toàn trị, th́ lư do của cách mạng, thường là sự yếu đi của cái cơ cấu tổ chức toàn trị, hơn là sự phẫn hận chống lại sự áp bức và sự cùng khổ.

_____

Autonomous individual: Trong cuốn sách này, th́ “cá nhân tự trị” là người “có năng lực định h́nh ḍng đời ḿnh và một ḿnh chịu trách nhiệm về cái địa vị của ḿnh trong đời.” Cá nhân tự trị thường không dễ dàng “bị lôi kéo” bởi một phong trào quần chúng – trừ ra vài ngoại lệ.

 

Rất có thể là, những sợi dây ràng buộc mạnh mẽ của gia đ́nh [của] người Trung Quốc đă giữ cho họ, trong nhiều thời đại, tương đối miễn nhiễm khỏi sự hấp dẫn của những phong trào quần chúng. “Những người châu Âu, vốn ‘chết cho đất nước ḿnh,’ đă ứng xử trong một thể cách mà không thể hiểu được đối với một người Trung Quốc [sic] – bởi v́ gia đ́nh anh ta không được hưởng lợi một cách trực tiếp; trái lại, anh ta bị chấn động mạnh khi gia đ́nh ḿnh mất đi một thành viên.” Trái lại, anh ta thấy là có thể hiểu được, và xem là vinh dự, “khi một người Trung Quốc bằng ḷng bị hành quyết thay cho một kẻ phạm tội bị kết án, nếu xét thấy kẻ ấy có ơn nghĩa sâu nặng đối với gia đ́nh ḿnh.”(13)

Hiển nhiên rằng, một phong trào đang chiêu mộ quần chúng, phải phá sập tất cả mọi sợi dây ràng buộc của nhóm đang hiện hữu, nếu nó muốn giành được sự ủng hộ. Kẻ tân ṭng tiềm năng lư tưởng, là cá nhân đứng một ḿnh, không có cái đoàn thể nào mà anh ta có thể ḥa nhập và đánh mất chính ḿnh, và như thế, che giấu sự nhỏ bé, sự vô nghĩa, và sự nhếch nhác của cái hiện hữu cá nhân của anh ta. Nơi nào mà một phong trào quần chúng nhận thấy cái khuôn mẫu chặt chẽ của gia đ́nh, bộ tộc, đất nước, vân vân, đang ở trong một t́nh trạng tan vỡ và băng hoại, th́ nó đẩy nhanh t́nh trạng ấy và gặt hái thành quả. Nơi nào mà nó nhận thấy cái khuôn mẫu chặt chẽ vẫn c̣n ở trong t́nh trạng tốt, th́ nó phải tấn công và phá vỡ. Mặt khác, như trong những năm mới đây tại Nga, chúng ta thấy phong trào Bolshevik ủng hộ sự liên đới gia đ́nh và động viên sự kết dính dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, th́ đó là một dấu hiệu rằng, phong trào đă qua giai đoạn năng động của nó, rằng nó đă thiết lập khuôn mẫu sống mới, và rằng, bây giờ, mối quan tâm chủ yếu của nó, là nắm giữ và duy tŕ cái mà nó đă đạt được. Trong phần c̣n lại của thế giới, nơi mà chủ nghĩa cộng sản vẫn c̣n là một phong trào đang tranh đấu, th́ nó làm tất cả những ǵ mà nó có thể, để phá vỡ gia đ́nh và làm suy yếu những sợi dây về dân tộc, sắc tộc và tôn giáo.

 

32

Thái độ của những phong trào quần chúng đang lên đối với gia đ́nh, là rất đáng quan tâm. Hầu hết mọi phong trào đương đại của chúng ta cho thấy, trong những giai đoạn đầu của chúng, một thái độ thù địch đối với gia đ́nh, và chúng làm tất cả những ǵ có thể, để làm mất uy tín và phá vỡ nó. Chúng làm điều đó, bằng cách làm xói ṃn thẩm quyền của những bậc cha mẹ; tạo điều kiện dễ dàng cho sự ly hôn; bằng cách đảm nhận trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc trẻ con; và bằng cách động viên hôn nhân ngoài giá thú. Chỗ ở đông đúc, sự lưu đày, những trại tập trung và sự khủng bố, cũng góp phần vào việc làm yếu đi và phá vỡ gia đ́nh. Thế nhưng, không có một phong trào đương đại nào của chúng ta, lại quá lộ liễu trong sự thù nghịch của nó đối với gia đ́nh, cho bằng Ki-tô giáo nguyên thủy. Chúa Jesus nói thẳng thừng: “Bởi v́ ta đến để xúi giục một người đàn ông bất ḥa với cha hắn, và con gái chống lại mẹ ḿnh, và con dâu chống lại mẹ chồng. Và những kẻ thù của một người sẽ là những người trong chính gia đ́nh ḿnh. Kẻ nào yêu cha hay mẹ ḿnh hơn yêu ta, th́ không xứng đáng với ta” (14). Khi Ngài được cho biết rằng, mẹ Ngài và các em trai Ngài đang ở bên ngoài, muốn nói chuyện với Ngài, th́ Ngài nói: “Ai là mẹ ta? Và ai là em trai ta?” Và Ngài dang cả hai bàn tay về phía những tông đồ của ḿnh, và nói, “Hăy nh́n, đây là mẹ ta, và các em trai ta!” (15). Khi một trong các tông đồ của Ngài xin về để chôn cất cha ḿnh, th́ Chúa Jesus nói với anh ta: “Hăy theo ta; và hăy để người chết chôn cất những người chết của họ” (16). Có vẻ như Ngài cảm nhận được những xung đột gia đ́nh mà phong trào của Ngài tất yếu sẽ gây ra cả bởi sự chiêu dụ của nó, lẫn sự thù hận cuồng tín của những đối thủ của nó. “Và người em trai sẽ giao nộp anh trai ḿnh để anh ta bị xử tử, và người cha, sẽ giao nộp đứa con: những đứa con sẽ nổi dậy chống cha mẹ chúng, và khiến cho họ bị giết chết” (17). Thật kỳ lạ nhưng đúng rằng, kẻ nào rao giảng t́nh yêu huynh đệ, cũng rao giảng việc chống lại t́nh yêu đối với mẹ, cha, anh, chị, vợ và con. Vị hiền nhân Trung Hoa, Mặc Tử, cổ xúy cho t́nh huynh đệ [đại đồng], th́ bị những nhà Khổng giáo kết án một cách đúng đắn, bởi v́ họ yêu quư gia đ́nh trên tất cả. Họ biện luận rằng, cái nguyên lư của t́nh yêu đại đồng sẽ giải tan gia đ́nh và phá hủy xă hội (18). Kẻ chiêu dụ, mà đến và nói: “Hăy theo ta,” là một kẻ phá hủy gia đ́nh, cho dẫu ông ta không ư thức về bất cứ sự thù địch nào đối với gia đ́nh, và không hề có ư định làm yếu đi sự liên đới của nó. Khi St Bernard rao giảng, th́ ảnh hưởng của ông quá lớn, đến nỗi “người ta nói rằng, những người mẹ giấu đi những đứa con trai của họ không cho ông thấy, và những người vợ giấu đi chồng ḿnh, sợ rằng, ông sẽ chiêu dụ họ rời bỏ gia đ́nh. Ông thực sự phá vỡ quá nhiều gia đ́nh, đến nỗi những người vợ bị bỏ rơi, tạo thành một viện nữ tu.” (19)

______

Illegitimacy.

 

Như người ta dự đoán, một sự phá vỡ gia đ́nh, bất luận nguyên nhân của nó là ǵ, cũng tự động nuôi dưỡng một tinh thần tập thể và tạo ra một sự đáp ứng trước lời kêu gọi của những phong trào quần chúng.

Sự xâm lăng của Nhật Bản, không nghi ngờ ǵ nữa, làm yếu đi cái khuôn mẫu chặt chẽ của gia đ́nh [của] người Trung Quốc, và góp phần vào việc đáp ứng ngày càng tăng, đối với cả chủ nghĩa dân tộc lẫn chủ nghĩa cộng sản. Tại thế giới phương Tây công nghiệp hóa, th́ gia đ́nh bị làm yếu đi và bị phá vỡ, chủ yếu bởi những yếu tố kinh tế. Sự độc lập kinh tế của người phụ nữ, khiến cho sự ly hôn trở nên dễ dàng. Sự độc lập kinh tế của những người trẻ, làm yếu đi thẩm quyền của cha mẹ, và cũng đẩy nhanh sự rạn nứt sớm của nhóm gia đ́nh. Sức hút mạnh mẽ của những trung tâm công nghiệp lớn đối với những người sống trên nông trại và trong những thành phố nhỏ, làm căng thẳng và phá vỡ những sợi dây của gia đ́nh. Bằng cách làm cho gia đ́nh yếu đi, những yếu tố này phần nào góp phần vào sự tăng trưởng của tinh thần tập thể trong thời hiện đại.

Việc Hitler ngông cuồng dịch chuyển toàn bộ những khối dân số trong thế chiến II, và những “kỳ tích” của ông trong việc tàn sát hàng loạt, chắc hẳn đă băm nhỏ và làm đảo lộn hàng triệu gia đ́nh tại một vùng rộng lớn của châu Âu. Đồng thời, những cuộc không tạc của Anh-Mỹ, và việc trục xuất 9 triệu người Đức từ phía Đông và Nam của châu Âu và sự hồi hương muộn của những tù nhân chiến tranh Đức, đă làm cho nước Đức những ǵ mà Hitler đă làm cho châu Âu. Thật khó mà thấy – bằng cách nào, mà ngay cả dưới những điều kiện kinh tế và chính trị thuận lợi nhất – một lục địa đầy những “đầu thừa đuôi thẹo” của những gia đ́nh, lại có thể ổn định thành một khuôn mẫu xă hội b́nh thường, bảo thủ.

 

33

Sự bất măn – phát sinh trong những nước chậm tiến bởi sự tiếp xúc [của chúng] với những nền văn minh phương Tây – chủ yếu không phải là sự phẫn hận chống lại sự bóc lột bởi những kẻ ngoại bang thống trị. Đúng hơn, đó là kết quả của sự sụp đổ hay yếu đi của sự liên đới có tính bộ tộc và cuộc sống cộng đồng.

Lư tưởng về sự tiến thân mà phương Tây văn minh cung cấp cho những nước chậm tiến, mang theo với nó trận dịch của sự phẫn chí cá nhân. Mọi thuận lợi được mang đến bởi phương Tây, không thể thay thế một cách có hiệu quả cho sự vô danh có tính xoa dịu và che chở của hiện hữu cộng đồng. Ngay cả khi kẻ bản xứ Tây-hóa đạt tới thành công cá nhân – trở nên giàu có, hay am tường một nghề đáng kính – th́ anh ta vẫn không hạnh phúc. Anh ta cảm thấy trần truồng và bơ vơ. Những phong trào dân tộc chủ nghĩa trong những nước thuộc địa, phần nào là một phấn đấu để đạt tới một hiện hữu mang tính bè nhóm, và một sự trốn thoát khỏi chủ nghĩa cá nhân phương Tây.

Những cường quốc thực dân của phương Tây cung ứng cho người bản xứ món quà của tự do và sự độc lập cá nhân. Chúng cố dạy anh ta tính tự lực tự cường. Nó thực sự đồng nghĩa với sự cô lập cá nhân. Nó có nghĩa là việc cắt đứt một cá nhân “non trẻ” và chưa đủ khả năng thích nghi, ra khỏi cái toàn thể hợp nhất, và đưa anh ta, như lời của Khomiakov, “đến sự tự do để đối mặt với sự bất lực của chính ḿnh.” (20) Cái ước mơ cháy bỏng, muốn kết hợp lại với nhau và ḥa nhập vào những khối quần chúng đang tiến công – quá rơ ràng tại đất nước chúng ta, và tại những nước mà chúng ta thuộc địa hóa – là sự biểu hiện của nỗ lực cam go để thoát khỏi sự hiện hữu cá nhân vô mục đích, bất lực. Do vậy, những phong trào dân tộc chủ nghĩa hiện nay tại châu Á, có thể dẫn đến – thậm chí không có ảnh hưởng của Nga – một h́nh thức xă hội ít nhiều có tính tập thể, hơn là [có tính] dân chủ.

Chính sách của một cường quốc thực dân, bóc lột, sẽ là việc động viên sự kết dính cộng đồng giữa những người bản xứ. Nó nhắm đến việc nuôi dưỡng sự b́nh đẳng và một cảm nhận về t́nh huynh đệ giữa họ. Bởi v́, kẻ bị trị càng ḥa nhập và tự đánh mất ḿnh trong cái toàn toàn thể chặt chẽ, th́ cảm thức về cái vô dụng của bản thân anh ta càng được xoa dịu; và cái quá tŕnh vốn chuyển đổi sự khốn khổ thành một sự phẫn chí và sự phản kháng – quá tŕnh ấy được ngăn chặn tại cội nguồn. Chiêu thức “chia để trị” là không hữu hiệu, khi nó nhắm đến việc làm yếu đi mọi h́nh thức kết dính giữa những kẻ bị trị. Sự phá vỡ một cộng đồng làng xă, một bộ tộc hay một dân tộc thành những cá nhân tự trị, không loại bỏ và bóp chết tinh thần phản kháng chống lại sức mạnh thống trị. Một sự chia rẽ hữu hiệu, là một sự chia rẽ vốn nuôi dưỡng một sự đa tạp của những tập thể chặt chẽ – sắc tộc, tôn giáo hay kinh tế – cạnh tranh với nhau và nghi ngờ lẫn nhau.

_____

Cần lưu ư nhận xét này. Theo chúng tôi, đây là cuốn sách rất sâu sắc. Hầu như mỗi trang đều có những ư tường đáng cho ta suy ngẫm.

 

Ngay cả khi một cường quốc thực dân hoàn toàn “có ḷng nhân đạo,” và mục đích duy nhất của nó là mang sự thịnh vượng và tiến bộ đến cho một dân tộc chậm tiến, th́ nó phải làm tất cả những ǵ mà nó có thể, để duy tŕ và tăng cường cái khuôn mẫu chặt chẽ. Nó không được phép tập trung trên cá nhân, mà phải tiêm những cách tân và những cải cách vào trong những “kênh” có tính bộ tộc hay cộng đồng, và để cho bộ tộc hay cộng đồng ấy diễn tiến như một toàn thể. Có lẽ đúng rằng, sự hiện đại hóa một dân tộc chậm tiến chỉ có thể được thực hiện bên trong một cơ cấu tổ chức của “hành động hợp quần.” Sự hiện đại hóa ngoạn mục của Nhật Bản, được thành tựu trong một bầu không khí đầy nhiệt t́nh của hành động hợp quần và ư thức về nhóm.

Sự thuận lợi của nước Nga Sô Viết như là một cường quốc thực dân [a colonizing power] – không kể việc nó không có những thành kiến về sắc tộc – là, nó đến với một khuôn mẫu hữu hiệu và “được làm sẵn” cho hành động hợp quần, được chỉ đạo một cách thống nhất. Nó có thể phớt lờ – và quả thật, cố t́nh gạt phăng – mọi sợi dây ràng buộc cá nhân hiện hành, mà không có nguy cơ nuôi dưỡng sự bất măn cá nhân và sự phản kháng tiềm năng. Bởi v́ kẻ bản xứ được Sô Viết hóa, không đấu tranh một cách đơn độc trong một thế giới thù địch. Anh ta bắt đầu cuộc sống mới của ḿnh như là một thành viên của một nhóm chặt chẽ và có tính cộng đồng hơn, so với thị tộc hay bộ tộc trước đây của ḿnh.

Việc động viên sự kết dính cộng đồng, như là một liều thuốc [biện pháp] để ngăn ngừa bất ổn xă hội, cũng có thể là một chiêu thức được dùng để ngăn ngừa sự phản kháng của người lao động trong những nước thuộc địa công nghiệp hóa.

Mục đích duy nhất của người chủ là giữ cho công nhân ḿnh ổn định trong nhiệm vụ của họ, và kiếm được mọi thứ từ họ mà ông ta có thể. Nhưng có vẻ như ông ta không đạt mục đích của ḿnh bằng cách chia rẽ họ, làm cho công nhân này chống lại công nhân nọ. Đúng hơn, chính là v́ quyền lợi của ḿnh, mà những công nhân sẽ tự cảm nhận chính ḿnh là thành phần của một cái toàn bộ; và họ thích một cái toàn bộ mà bao gồm cả người chủ, nữa. Một cảm nhận sống động về sự liên đới – bất luận nó có tính sắc tộc, dân tộc, hay tôn giáo – chắc chắn là một phương tiện hữu hiệu để ngăn ngừa sự bất ổn do người lao động gây ra. Ngay cả khi loại liên đới không thể bao gồm người chủ, th́ nó có khuynh hướng phát huy sự hài ḷng và hiệu năng của người lao động. Kinh nghiệm cho thấy rằng, năng suất lao động là cao nhất, khi những người công nhân cảm thấy và hành động như là những thành viên của một đội. Bất cứ chính sách nào mà khuấy động và xé rách đội, th́ tất yếu sẽ gây ra rắc rối trầm trọng. “Những kế hoạch kích thích sự sản xuất bằng tiền thưởng cho những công nhân cá thể, th́ hại bất cập lợi … Những kế hoạch kích thích sự sản xuất, mà trong đó tiền thưởng được đặt nền tảng trên công việc của toàn đội, th́ có vẻ như phát huy sức sản xuất lớn hơn và sự thỏa măn lớn hơn về phía những công nhân.(21)

 

34

Một phong trào quần chúng đang lên, lôi cuốn và duy tŕ sự ủng hộ của quần chúng, không phải bởi học thuyết và những hứa hẹn của nó, mà bởi cái nơi trú ẩn mà nó cung ứng, để trốn thoát khỏi những lo âu, sự trống rỗng và sự vô nghĩa của một hiện hữu cá nhân. Nó chữa lành những kẻ phẫn chí, không phải bằng cách ban cho họ một chân lư tuyệt đối hay bằng cách khắc phục những khó khăn và những ngược đăi, mà đă khiến cho đời họ khốn khổ, nhưng bằng cách giải phóng họ ra khỏi cái bản ngă bất lực – và nó làm việc này bằng cách ôm choàng và thu hút họ vào trong một toàn thể chặt chẽ, hợp nhất và hân hoan.

Do vậy, hiển nhiên rằng, để thành công, th́ một phong trào quần chúng phải khai triển, ở khoảnh khắc sớm nhất, một tổ chức chặt chẽ, hợp nhất, và một năng lực để thu hút và hợp nhất mọi thành viên mới. Thật vô ích để mà phán đoán cái sức sống của một phong trào mới bằng chân lư của học thuyết của nó và cái mức độ tin cậy của những hứa hẹn của nó. Cái phải được phán đoán, là nó được tổ chức chặt chẽ ra sao, để nhanh chóng và toàn diện thu hút những kẻ phẫn chí. Nơi nào mà những tín điều [creed] cạnh tranh với nhau để giành lấy ḷng trung thành của quần chúng, th́ tín điều nào có cái cơ cấu tổ chức hoàn hảo nhất, sẽ thắng. Trong số tất cả những giáo phái và triết lư vốn cạnh tranh nhau trong thế giới Hy-La cổ đại, th́ chỉ một ḿnh Ki-tô giáo, từ khởi đầu của nó, triển khai một tổ chức chặt chẽ. “Không có đối thủ nào của nó sở hữu một cấu trúc quá hùng mạnh và nhất quán như giáo hội. Không có tổ chức nào ban cho những thành viên của nó cái cảm nhận rằng ḿnh bước vào một cộng đồng khắng khít như vậy” (22). Phong trào Bolshevik bỏ xa mọi phong trào Mác-xít khác trong cuộc chạy đua quyền lực, là do cái tổ chức chặt chẽ của nó. Phong trào Đức Quốc Xă, nữa, cũng chiến thắng mọi phong trào quần chúng khác, vốn sinh sôi nảy nở trong những năm 1920, là bởi v́ Hitler đă sớm nhận ra rằng, đối với một phong trào quần chúng đang lên, th́ việc cổ xúy và phát huy sự kết dính tập thể là điều cốt tủy. Ông ta biết rằng, niềm đam mê chủ yếu của những kẻ phẫn chí, là “được thuộc về,” và rằng, niềm đam mê ấy chỉ có thể được thỏa măn trong một tập thể có tổ chức chặt chẽ.

 

35

Cái môi trường thuận lợi nhất cho sự nổi lên và tăng trưởng của những phong trào quần chúng, là một môi trường mà trong đó một cấu trúc vốn đă một lần chặt chẽ và hợp nhất, nhưng v́ lư do này hay lư do nọ, đang ở trong một t́nh trạng phân ră. Cái thời đại mà trong đó Ki-tô giáo nổi lên và lan rộng, “là một thời đại mà trong đó, có những số lượng lớn những con người bị bật gốc. Những thành-quốc chặt chẽ đă phần nào hỗn hợp lại, thành một đế quốc bao la… và những nhóm xă hội và chính trị cũ đă bị làm yếu đi hay bị giải tan” (23). Ki-tô giáo phát triển nhanh chóng nhất trong những thành phố lớn, “nơi mà hàng ngh́n những cá nhân bị bật gốc, một số trong họ là những kẻ nô lệ, một số là người tự do, và một số là thương nhân, họ đă bị tách khỏi [bởi bạo lực hay tự ư] cái môi trường thế-tập của họ (24). Tại những vùng quê – nơi mà khuôn mẫu cộng đồng ít bị khuấy động nhất – th́ tôn giáo mới này t́m thấy miếng đất ít thuận lợi hơn. Những dân làng (pagani) và những “kẻ ngoại đạo” đeo níu lâu nhất vào những giáo phái xưa cũ. Một t́nh huống phần nào tương tự, được quan sát thấy trong sự nổi lên của những phong trào dân tộc chủ nghĩa và xă hội chủ nghĩa trong nửa sau của thế kỷ 19: “Cái sự lưu động và sự đô thị hóa phi thường là tác nhân tạo ra, trong những thập niên này, một số lượng phi thường của những người bị bật gốc khỏi vùng đất của tổ tiên và sự gắn kết có tính địa phương. Kinh qua sự bất an trầm trọng về kinh tế và những bất thích nghi về tâm lư, những người này dễ bị hấp dẫn bởi sự tuyên truyền mị dân của chủ nghĩa xă hội hoặc chủ nghĩa dân tộc, hoặc cả hai. (25)

Cái nguyên tắc chung có vẻ như là, khi một khuôn mẫu của sự kết dính hợp nhất bị yếu đi, th́ những điều kiện trở nên chín muồi cho sự nổi lên của một phong trào quần chúng, và sau cùng, thiết lập một h́nh thức thống nhất mới và mạnh mẽ, giàu sức sống hơn. Khi một giáo hội, vốn thống soái, nới lỏng cái ṿng xiết của nó, th́ những phong trào tôn giáo mới [new] có vẻ như kết tinh lại. H.G. Wells nhận xét rằng, ở thời điểm của Phong Trào Cải Cách, người ta “không chống lại quyền lực của giáo hội, mà chống lại sự yếu nhược của nó… Những phong trào của nó chống lại giáo hội, bên trong và bên ngoài, là những phong trào tranh đấu, không phải cho sự giải phóng khỏi sự kiểm soát tôn giáo, mà cho một sự kiểm soát tôn giáo đầy đủ, trọn vẹn hơn” (26). Nếu cái tinh thần tôn giáo bị bào ṃn bởi Phong trào Khai Sáng, th́ những phong trào đang lên sẽ là những phong trào xă hội chủ nghĩa, dân tộc chủ nghĩa, hay sắc tộc chủ nghĩa. Cuộc Cách Mạng Pháp, cũng là một phong trào dân tộc chủ nghĩa, đến như là một phản ứng, không phải chống lại sự độc tài khắc nghiệt của Giáo hội Công giáo và chế độ cũ, mà chống lại sự yếu nhược và sự bất lực của chúng. Trong một xă hội toàn trị, th́ khi người ta phản kháng, họ nổi lên không phải để chống lại sự độc ác của chế độ, mà để chống lại sự yếu nhược của nó.

Ở nơi nào mà cái khuôn mẫu hợp nhất [corporate pattern] c̣n mạnh mẽ, th́ thật khó cho một phong trào quần chúng t́m thấy một chân đứng. Sự chặt chẽ có tính cộng đồng của những người Do Thái, cả tại Palestine lẫn tại Diaspora, rất có thể là một trong những lư do tại sao Ki-tô giáo lại phát triển quá ít giữa họ. Sự phá hủy ngôi đền, tạo ra, nếu có, một sự thắt chặt những ràng buộc cộng đồng. Bây giờ, cái nhà thờ Do Thái và công đồng [congregation] đón nhận nhiều sự tận tụy mà trước kia chảy về phía ngôi đền và Jerusalem. Về sau, khi giáo hội Ki-tô giáo đă có quyền lực để cô lập những người Do Thái trong những ghetto, th́ nó mang đến cho sự sự chặt chẽ mang tính cộng đồng của họ sự củng cố bổ sung, và như thế, một cách không cố ư, đảm bảo cho sự sống c̣n nguyên vẹn của Do Thái giáo qua những thời đại. Sự xuất hiện của Phong trào Khai Sáng bào ṃn cả tính chính thống lẫn những bức tường của những ghetto. Bỗng nhiên, lần đầu tiên kể từ thời của Job và của sách Ecclesiates,người Do Thái thấy ḿnh là một cá nhân, cô độc khủng khiếp trong một thế giới thù nghịch. Không có tổ chức tập thể nào mà anh ta có thể ḥa nhập và đánh mất chính ḿnh trong đó. Cái nhà thờ Do Thái giáo và công đồng, đă trở thành những sự thể teo tóp, mất hết sinh khí, trong khi những truyền thống và những thành kiến của 2000 năm, ngăn cản, không cho anh ta hợp nhất hoàn toàn với những tập thể phi-Do Thái giáo chặt chẽ. Như thế, người Do Thái hiện đại trở thành những kẻ tự-trị [autonomous] nhất trong những cá nhân, và tất yếu, là những kẻ phẫn chí nhất. Do vậy, không có ǵ ngạc nhiên rằng, những phong trào quần chúng của thời hiện đại thường t́m thấy ở anh ta một “kẻ tân ṭng” trong tư thế sẵn sàng gia nhập. Người Do Thái cũng tụ tập, đông nghịt ở những con đường dẫn đến những “thuốc giảm đau” cho sự phẫn chí, giống như sự bươn chải và sự di dân. Anh ta cũng tự ném ḿnh vào một nỗ lực hăng say để chứng tỏ giá trị cá nhân của ḿnh bằng những thành tựu vật chất và công việc sáng tạo. Đúng là, có một chút xíu của sự hợp nhất, mà anh ta có thể tạo ra xung quanh chính ḿnh bởi những nỗ lực riêng tư, cụ thể là gia đ́nh – và anh ta tận dụng nó triệt để. Nhưng trong trường hợp của người Do Thái châu Âu, th́ Hitler đă nghiền nát và đốt cháy cái nơi tị nạn duy nhất này trong những trại tập trung và những pḥng hơi ngạt. Như thế, bây giờ, hơn bao giờ cả, người Do Thái, nhất là tại châu Âu, là kẻ tân ṭng tiềm năng lư tưởng. Và, hầu như là Thiên Ư, rằng trong giờ phút đen tối nhất của người Do Thái, th́ chủ nghĩa phục quốc Do Thái sẽ ở trong tầm tay, để ôm choàng anh ta trong ṿng ôm tập thể [chặt chẽ] của nó và giải thoát anh ta khỏi sự cô lập cá nhân của ḿnh. Israel, quả thật, là một nơi trú ẩn hiếm hoi: nó là quê hương và gia đ́nh, nhà thờ Do Thái giáo và công đồng, dân tộc và đảng cách mạng, tất cả trong một.

______

Ghetto: Khu người Do Thái (trong một thành phố).
• Orthodoxy.
• Ecclesiastes: Là một trong 24 cuốn sách của Thánh Kinh Do Thái [Cựu Ước].

 

Lịch sử gần đây của Đức cũng cung cấp một thí dụ đáng quan tâm về mối quan hệ giữa sự chặt chẽ hợp nhất và sự đáp ứng lời kêu gọi của những phong trào quần chúng. Tại nước Đức của Wilhem, không có khả tính nào về sự nổi lên của một phong trào cách mạng. Người Đức thỏa măn với chế độ tập trung, độc đoán của Kaiser, và ngay cả sự chiến bại trong thế chiến I, cũng không làm phương hại đến t́nh yêu của họ đối với nó. Cách mạng 1918 là một điều giả tạo [an artificial thing], với ít sự hậu thuẫn của quần chúng. Những năm theo sau Hiến pháp Weimar, đối với phần lớn người Đức, là một thời gian bực bội và phẫn chí. V́ họ đă quen với những mệnh lệnh từ bên trên và sự tôn trọng thẩm quyền, nên họ thấy cái trật tự dân chủ lỏng lẻo, bất kính, là hoàn toàn lộn xộn và hỗn loạn. Họ bị sốc khi nhận thức “rằng họ phải tham dự vào chính quyền, chọn một đảng phái, và đưa ra phán đoán về những vấn đề chính trị (27). Họ mong mỏi một cái toàn thể hợp nhất, nguyên khối hơn, thống soái hơn, và vinh quang hơn để chiêm ngưỡng, thậm chí, c̣n thống soái và vinh quang hơn cả chế độ Kaiser – và Đế chế Thứ Ba đă đáp ứng lời nguyện cầu của họ vượt quá mong đợi. Chế độ toàn trị của Hitler, một khi đă được xác lập, th́ không bao giờ có nguy cơ bị quần chúng phản kháng. Bao lâu mà giới cầm quyền Quốc Xă sẵn ḷng gánh vác mọi trách nhiệm và làm mọi quyết định, th́ không có cơ may nhỏ nhất nào cho bất cứ sự chống đối có tính quần chúng nào nổi lên. Một “điểm nguy hiểm” [a danger point] có lẽ đă có thể được đạt tới, nếu kỷ luật và sự kiểm soát toàn trị của nó được nới lỏng. Những ǵ mà Tocqueville nói về chính quyền độc tài, th́ đúng cho mọi trật tự toàn trị – khoảnh khắc nguy hiểm nhất của chúng, là khi chúng bắt đầu cải cách, nghĩa là, khi chúng bắt đầu cho thấy những khuynh hướng “cấp tiến.” (28)

_______

Monolithic.
• The Third Reich: Là nước Đức trong thời kỳ 1933-1945 đặt dưới một chế độ độc tài, chịu sự kiểm soát của Adolf Hitler. [Theo từ điển Wikipedia].

 

Mối quan hệ giữa một tổ chức chặt chẽ [chẳng hạn, quân đội] và những phong trào quần chúng, là một minh họa khác và sau cùng của luận đề rằng, những tổ chức chặt chẽ hữu hiệu th́ miễn nhiễm với sự kêu gọi của những phong trào quần chúng, và rằng, một khuôn mẫu tập thể đang sụp đổ, là cái môi trường thuận lợi nhất cho sự nổi lên của chúng. Hiếm khi có một trường hợp, mà trong đó, một quân đội c̣n nguyên vẹn lại làm phát sinh một phong trào tôn giáo, cách mạng, hay dân tộc chủ nghĩa. Trái lại, một quân đội đang tan ră – bất luận bởi quá tŕnh giải ngũ có trật tự, hay bởi sự đào ngũ do sự nản ḷng thối chí – là miếng đất mầu mỡ cho một phong trào đang kích động quần chúng đi theo. Một người vừa mới rời quân đội, là một kẻ tân ṭng lư tưởng, và chúng ta t́m thấy anh ta trong số những phần tử trung kiên đầu tiên của mọi phong trào quần chúng đương đại. Anh ta cảm thấy cô độc và lạc lơng trong cái “tự do cho mọi người” trong đời sống dân sự. Những trách nhiệm và những bấp bênh của một hiện hữu tự-trị đè nặng và hành hạ anh ta. Anh ta ước mong sự chắc chắn, t́nh đồng chí, tự do thoát khỏi trách nhiệm cá nhân, và một viễn ảnh về một cái ǵ đó hoàn toàn khác biệt với cái xă hội tự do, đầy cạnh tranh xung quanh ḿnh – và anh ta t́m thấy tất cả mọi cái này trong t́nh huynh đệ và bầu không khí phục hưng của một phong trào đang lên. (29)

=========

(1). Charles A. and Mary R. Beard, The Rise of American Civilization (New York: Macmillan Company, 1939), Vol. 1, p.24.

(2). Angelica Balabano􀁊, My Life as a Rebel (New York: Harper & Brothers, 1938), p. 204.

(3). Edward A. Ross, The Changing Chinese (New York: Century Company, 1911), p. 92.

(4). Alexis de Tocqueville, On the State of Society in France Before the Revolution of 1789 (London: John Murray, 1888), p.149.

(5). Ibid, p. 152.

(6). Lyford P. Edwards, The Natural History of Revolution (Chicago: University of Chicago Press, 1927), p. 70.

(7). The Epistle of Paul the Apostle to the Romans 8:25.

(8). See Section 116.

(9). I. A. R. Wylie, “The Quest of Our Lives,” Reader’s Digest, May 1948, p. 2.

(10). Crane Brinton, A Decade of Revolution (New York: Harper & Brothers, 1934), p. 161.

(11). Ernest Renan, The Hibbert Lectures, 1880 (London: Williams and Norgate, 1898), Preface.

(12). Epictetus, Discourses, Book I, Chap. 2.

(13). Arthur J. Hubbard, The Fate of Empires (New York: Longmans, Green & Company, 1913), p. 170.

(14). Matthew 10:35–37.

(15). Ibid., 12:47–49.

(16). Ibid., 8:22.

(17). Ibid., 10:21.

(18). Kenneth Scott Latourette, The Chinese, their History and Culture (New York: Macmillan Company, 1946), Vol. I, p. 79.

(19). Brooks Adams, The Law of Civilization and Decay (New York: Alfred A. Knopf, Inc., 1943), p. 142.

(20). Quoted by Nicolas Zernov, Three Russian Prophets (Toronto: Macmillan Company, 1944), p. 63.

(21). Peter F. Drucker, “The Way to Industrial Peace,” Harper’s Magazine, Nov. 1946, p. 392.

(22). Kenneth Scott Latourette, A History of the Expansion of Christianity (New York: Harper & Brothers, 1937), Vol. I, p. 164.

(23). Ibid., p. 23.

(24). Ibid., p. 163.

(25). Carlton J. H. Hayes, A Generation of Materialism (New York: Harper & Brothers, 1941), p. 254.

(26). H. G. Wells, The Outline of History (New York: Macmillan Company, 1922), p. 719.

(27). Theodore Abel, Why Hitler Came into Power (New York: Prentice-Hall, 1938), p. 150.

(28). Alexis de Tocqueville, op. cit., p. 152.

(29). More about veterans in Section 38 and about the relation between armies and mass movements in Section 64.
 

 

Trở về Giới thiệu và Mục Lục

Xem tiếp Phần 2, Chương 6


 

art2all.net