ĐỖ TƯ NGHĨA

 

TÍN ĐỒ ĐÍCH THỰC ( THE TRUE BELIEVER)

Về bản chất của những phong trào quần chúng

Erich Hoffer / Đỗ Tư Nghĩa

==o))((o==

 

 PHẦN BA :

HÀNH ĐỘNG HỢP QUẦN VÀ SỰ HY SINH QUÊN M̀NH


CHƯƠNG XIII

NHỮNG YẾU TỐ PHÁT HUY SỰ HY SINH QUÊN M̀NH.
ĐỒNG HÓA VỚI MỘT CÁI-TOÀN-BỘ CÓ TÍNH TẬP THỂ

44

          Để cho một người chín muồi cho sự hy sinh quên ḿnh, th́ anh ta phải bị tước bỏ cái bản sắc và nét độc đáo cá nhân. Anh ta phải ngừng là một George, Hans, Ivan, hay Tadao – một “nguyên tử người” [human atom] với một sự tồn tại bị giới hạn bởi sinh và tử. Cách tốt nhất để đạt tới mục đích này, là đồng hóa cá nhân một cách toàn triệt với cái-toàn-bộ có tính tập thể. Cá nhân bị hoàn toàn đồng hóa, không thấy chính ḿnh và những người khác như là những con người cá thể. Khi được hỏi, anh ta là ai, th́ câu trả lời tự động của anh ta là: “Tôi là một người Đức, một người Nga, một người Nhật, một người Ki-tô giáo, một người Hồi giáo,” hay, một thành viên của một bộ tộc hay của một gia đ́nh nào đó. Anh ta không có mục đích nào, giá trị nào và số mệnh nào ngoài cái tổ chức tập thể của anh ta; và bao lâu mà cái tập thể đó sống, th́ anh ta không thể thực sự sống.

Đối với một người hoàn toàn không có một cảm thức nào về “sự thuộc về,” th́ sự sống, sự hiện hữu đơn thuần là tất cả những ǵ đáng quan tâm. Nó là cái thực tại duy nhất trong một vĩnh cửu của hư vô, và anh ta níu vào nó với nỗi tuyệt vọng không xấu hổ. Dostoievsky mô tả trạng thái tâm lư này trong Tội Ác và Trừng Phạt [phần II, chương 4]. Chàng sinh viên Raskolnikov lang thang trên những đường phố của St Peterburg trong một trạng thái mê sảng. Dăm bảy ngày trước đó, anh ta đă ám sát hai bà già với một cái ŕu. Anh ta cảm thấy ḿnh bị cắt đứt khỏi nhân loại. Trong khi anh ta đi ngang qua khu vực “đèn đỏ” gần Hay Market, anh ta suy tưởng: “Nếu người ta phải sống trên một tảng đá cao nào đó, trên một tảng đá ngầm quá hẹp, đến nỗi, anh ta chỉ có chỗ để đứng, và cái đại dương này – bóng tối vĩnh cửu, sự cô độc vĩnh cửu, cơn băo vĩnh cửu xung quanh anh ta – nếu anh ta cứ phải đứng trên cái không gian bé nhỏ ấy suốt đời ḿnh, một ngàn năm, vĩnh cửu, th́ tốt hơn là cứ sống như thế, c̣n hơn là chết ngay lập tức! Chỉ sống, sống và sống! Sự sống, bất luận nó có thể ra sao!”

__________

Shameless despair: Nỗi tuyệt vọng không xấu hổ, không hối tiếc. Đây là một cụm từ sâu sắc, nhưng khá tối nghĩa ?

 

Sự tách rời [có tính] cá nhân phải được xóa bỏ triệt để. Trong mọi hành vi, dù nhỏ nhặt đến đâu, th́ cá nhân, bằng một nghi thức nào đó, phải kết hợp chính ḿnh với cái công đồng [congregation], đảng phái, vân vân. Những niềm vui và nỗi sầu của anh ta, niềm tự hào và ḷng tự tin của anh ta phải khởi phát từ cái vận mệnh và năng lực của nhóm, hơn là từ những viễn ảnh và năng lực của chính anh ta. Trên hết, anh ta phải không bao giờ cảm thấy đơn độc. Mặc dù bị bỏ lại trên hoang đảo, nhưng anh ta vẫn phải cảm thấy rằng, anh ta ở dưới đôi mắt của nhóm. Bị ném ra khỏi nhóm, sẽ là bị cắt đứt khỏi cuộc sống.

Chắc chắn, đây là một trạng thái tồn tại có tính bán khai, và những thí dụ hoàn hảo nhất của nó, được t́m thấy giữa những bộ lạc bán khai. Những phong trào quần chúng phấn đấu đi tới gần sự hoàn hảo bán khai này, và chúng ta không đang tưởng tượng chút nào, khi cái xu hướng chống-cá-nhân của những phong trào quần chúng gây cho chúng ta ấn tượng rằng, nó là sự quay trở lại thời kỳ bán khai.

 

45

Năng lực để kháng cự lại sự cưỡng bức, phát xuất một phần từ sự đồng nhất của cá nhân với một nhóm. Trong những trại tập trung Đức Quốc Xă, th́ những người phản kháng mạnh mẽ nhất, là những người cảm thấy ḿnh là thành viên của một đảng có tổ chức chặt chẽ (thí dụ, những người Cộng sản); của một giáo hội (những linh mục hay mục sư); hay của một nhóm dân tộc chặt chẽ. Trước sự cưỡng bức, th́ những người cá nhân chủ nghĩa, bất luận thuộc quốc tịch nào, đều khuất phục, đầu hàng. Người Do Thái tại châu Âu chứng tỏ là những người cô-thế nhất. Bị từ khước bởi những người Gentiles, [ngay cả những người bên trong những trại tập trung], và không có những sợi dây ràng buộc khắng khít với một cộng đồng Do Thái, anh ta đối mặt với những kẻ tra tấn một cách đơn độc – bị bỏ rơi bởi toàn bộ nhân loại. Bây giờ người ta nhận thức rằng, cái ghetto của thời Trung Cổ, đối với người Do Thái, là một pháo đài hơn là một nhà tù. Nếu không có cảm thức về sự hợp nhất và sự khác biệt cực lớn mà cái ghetto áp đặt lên họ, th́ họ đă không thể chịu đựng, với tinh thần dẻo dai, sự bạo động và bức hại của những thế kỷ đen tối. Khi [tinh thần của] thời Trung Cổ trở lại trong một thập niên ngắn ngủi trong thời đại chúng ta, th́ chúng chộp lấy người Do Thái mà không có những phương tiện tự vệ cũ, và nghiền nát anh ta.

__________

Gentile: người không thuộc dân Do Thái.


Kết luận tất yếu có vẻ như là : khi cá nhân đối mặt với sự tra tấn hay sự hủy diệt, th́ anh ta không thể dựa vào những tài nguyên của cá nhân ḿnh. Tài nguyên duy nhất của sức mạnh, không phải nằm ở chỗ anh ta là chính ḿnh, mà nằm ở chỗ anh ta là một phần của một cái ǵ đó hùng mạnh, vinh quang, và bất khả hủy diệt. Đức tin ở đây chủ yếu là một quá tŕnh đồng nhất hóa; cái quá tŕnh mà qua đó cá nhân ngừng là chính ḿnh và trở thành bộ phận của một cái ǵ đó vĩnh cửu. Niềm tin vào nhân loại, vào hậu thế, vào vận mệnh của tôn giáo ḿnh, dân tộc ḿnh, chủng tộc, tổ quốc hay gia đ́nh ḿnh – nó là cái ǵ, nếu không phải là sự mường tượng về một cái ǵ đó vĩnh cửu, mà cái bản ngă sắp bị hủy diệt của chúng ta đeo níu vào?

Thật là khá kinh hăi khi nhận thức rằng, những lănh tụ toàn trị của thời đại – khi họ nhận ra cái cội nguồn sự gan dạ liều lĩnh – tận dụng nó, không những để tôi luyện tinh thần của những người đi theo họ, mà c̣n để bẻ găy tinh thần của đối phương họ. Trong những cuộc thanh trừng những cựu lănh tụ Bolshevik của ông ta, Stalin đă thành công trong việc biến những con người tự hào và dũng cảm thành những kẻ hèn nhát, khúm núm, bằng cách tước bỏ của họ bất cứ khả-tính nào của việc đồng nhất hóa với cái đảng mà họ đă phụng sự suốt đời, và với quần chúng Nga. Những người Bolshevik kỳ cựu này, cách đây đă lâu, đă tự cắt đứt chính ḿnh ra khỏi khối nhân loại bên ngoài nước Nga. Họ đă nuôi giữ sự khinh bỉ vô hạn đối với quá khứ và cái lịch sử mà vẫn c̣n được “làm” bởi phe tư bản chủ nghĩa. Họ đă từ bỏ Thượng Đế. Đối với họ, không có tương lai, không có quá khứ, không có vinh quang nào bên ngoài biên giới của nước Nga “thần thánh” và đảng Cộng sản – và cả hai, bây giờ đều ở trong tay Stalin, một cách không thể dời đổi. Họ tự ḿnh cảm thấy, trong cách nói của Bukharin, “bị cô lập khỏi mọi sự vốn cấu thành cái yếu tính của cuộc sống.” Do vậy, họ thú tội. Bằng cách tự hạ ḿnh trước cộng đồng của những kẻ trung kiên, họ bứt ḿnh ra khỏi sự cô lập của họ. Họ phục hồi sự hội-thông của ḿnh với cái-toàn-bộ vĩnh cửu [the eternal whole] bằng cách thóa mạ cái bản ngă, cáo buộc nó về những tội ác quái đản và “ngoạn mục,” và lột bỏ nó một cách công khai.

Cũng chính những người Nga vốn đă khúm núm và quỵ lụy trước cảnh sát mật vụ của Stalin, đă biểu lộ ḷng can đảm vô song khi đối mặt – một cách đơn độc hay trong một nhóm – với những đảng viên Quốc Xă xâm lược. Lư do cắt nghĩa cho cách hành xử tương phản này, không phải là bởi v́ mật vụ của Stalin th́ tàn nhẫn hơn những đội quân của Hilter, mà là, khi đối mặt với mật vụ của Stalin, th́ người Nga cảm thấy ḿnh là một cá nhân, trong khi đối mặt với những người Đức, anh ta thấy ḿnh là thành viên của một chủng tộc hùng mạnh, sở hữu một quá khứ vinh quang và một tương lai càng vinh quang hơn.

Tương tự, trong trường hợp của những người Do Thái, th́ cách hành xử của họ tại Palestine, có lẽ là không thể đoán trước, nếu căn cứ vào cách hành xử của họ tại châu Âu. Những quan chức thuộc địa Anh tại Palestine áp dụng một chính sách “hợp logic,” nhưng lại thiếu trí tuệ. Họ lư luận rằng, bởi v́ Hitler đă thành công trong việc tiêu diệt 6 triệu người Do Thái mà không gặp phải sự đối kháng nghiêm trọng nào, th́ cũng sẽ không khó để mà xử lư 6 trăm ngh́n người Do Thái tại Palestine. Thế nhưng, họ phát hiện rằng, những người Do Thái tại Palestine, mặc dù mới đến gần đây, là kẻ thù đáng sợ: liều lĩnh, kiên cường, và nhiều mưu trí. Người Do Thái tại châu Âu đối mặt với những kẻ thù một cách đơn độc, một cá nhân cô lập, một hạt bụi của sự sống trôi trong một vĩnh cửu của hư vô. Trái lại, tại Palestine, anh ta tự cảm thấy ḿnh không phải là một nguyên tử [lẻ loi], mà là một thành viên của một chủng tộc vĩnh cửu, với một quá khứ không thể nào quên đằng sau nó, và một tương lai huy hoàng ở phía trước.

 

46

Rất có thể, những lư thuyết gia tại Kremlin nhận biết rằng, để duy tŕ sự phục tùng của quần chúng Nga, th́ phải cho họ thấy rằng, họ không có chút cơ may nào để tự đồng hóa với bất cứ tập thể nào bên ngoài nước Nga. Mục đích của Bức Màn Sắt, có lẽ là để ngăn cản, không cho dân chúng Nga vươn ra ngoài – ngay cả trong ư tưởng – tới một thế giới bên ngoài, hơn là để ngăn cản sự xâm nhập của những gián điệp và những kẻ phá hoại. Bức màn sắt vừa có tính tâm lư, vừa có tính vật lư. Việc loại trừ hoàn toàn bất cứ cơ hội nào cho sự di dân – ngay cả đối với những phụ nữ Nga kết hôn với người nước ngoài – làm mờ đi trong tâm hồn người Nga sự nhận biết về khối nhân loại ở bên ngoài biên giới nước Nga. Người ta cũng có thể mơ ước và hy vọng trốn thoát tới một hành tinh khác. Cái rào chắn tâm lư th́ cũng quan trọng không kém cái rào chắn vật lư: sự tuyên truyền trơ trẽn [brazen] của Kremlin t́m cách gây ấn tượng lên những người Nga rằng, bên ngoài biên giới của nước Nga, th́ không c̣n cái ǵ có giá trị và vĩnh cửu, không c̣n cái ǵ xứng đáng với sự ngưỡng mộ và sự tôn kính, không c̣n cái ǵ xứng đáng, mà với nó, họ có thể đồng hóa.

 

SỰ GIẢ VỜ

47

Cái chết và việc giết người có vẻ như dễ dàng, khi chúng là một phần của một cuộc tŕnh diễn hay tṛ chơi có tính nghi thức, nghi lễ, có kịch tính. Cần có một loại “giả vờ” nào đó, để đối mặt với cái chết một cách không nao núng. Đối với cái bản ngă thực, trần truồng của chúng ta, th́ không có cái ǵ dưới thế hay trên trời có thể mang lại ư nghĩa cho nó. Chỉ khi nào chúng ta thấy chính ḿnh như là những diễn viên trong một màn tŕnh diễn được dàn dựng [và do vậy, không thực], th́ cái chết mới mất đi sự hăi hùng của nó, và trở thành một hành vi “giả vờ” và một cử chỉ có tính kịch trường. Một trong những nhiệm vụ của một lănh tụ đích thực, là ngụy trang cái thực tại đáng sợ của việc chết và giết, bằng cách khơi dậy trong những người đi theo ông ta cái ảo tưởng rằng, họ đang tham dự vào một cảnh tượng hùng tráng, một cuộc tŕnh diễn tôn nghiêm hay vui vẻ.

Hitler ra lệnh cho 80 triệu người Đức mặc vào những bộ quốc phục [costume] và bắt họ tŕnh diễn trong một vở nhạc kịch hùng tráng, đậm chất anh hùng và đẫm máu. Tại Nga – nơi mà ngay cả việc xây dựng một nhà vệ sinh cũng bao hàm một sự hy sinh nào đó – th́ cuộc sống đă là một vở tuồng đầy hào hứng diễn tiến trong 30 năm, và nó chưa chấm dứt. Dân chúng London hành động một cách anh hùng dưới một cơn mưa bom, bởi v́ Churchchill “ném” họ vào vai tṛ của những anh hùng. Họ đóng vai tṛ anh hùng của họ, trước một khán giả bao la – tổ tiên, những người đồng thời, và hậu thế – và trên một sân khấu được thắp sáng bởi một thành phố đang cháy, trong tiếng tiếng súng nổ và tiếng bom gào. Trong thế giới đương đại của chúng ta, với sự sai biệt hóa rộng khắp của cá nhân, th́ khó mà tin rằng, một mức độ của sự hy sinh rộng khắp có thể được thực hiện, mà không có sự lừa phỉnh đậm tính kịch trường và pháo hoa. Do vậy, khó mà thấy, bằng cách nào mà chính phủ Lao Động hiện nay tại nước Anh, có thể thực hiện chương tŕnh xă hội hóa của nó – vốn đ̣i hỏi một mức độ hy sinh quên ḿnh từ mọi người dân Anh – trong cái bối cảnh không màu sắc và phi kịch tính của nước Anh. Tính chất phi kịch trường của phần lớn lănh tụ đảng Xă hội Anh là một dấu hiệu của sự chính trực và sự liêm khiết trí thức của họ, nhưng nó cản trở sự thí nghiệm của việc quốc hữu hóa, mà chắc chắn, là mục đích trung tâm của đời họ.(1)

Sự tất yếu của việc “kịch hóa” cái t́nh trạng đáng sợ của sự chết và sự giết, th́ đặc biệt rơ ràng trong trường hợp của những đội quân. Những bộ đồng phục của họ, những lá cờ, những biểu tượng, những cuộc duyệt binh, âm nhạc, và những nghi tiết và nghi thức rườm rà, đều được thiết kế để cách ly những binh sĩ khỏi cái bản ngă máu thịt của họ, và ngụy trang cái thực tại bề bộn của sự sống và sự chết. Chúng ta nói về cái “tính chất kịch trường” của chiến tranh và những cảnh chiến trường. Trong những mệnh lệnh của họ trên chiến trường, những lănh tụ quân đội luôn luôn nhắc nhở binh sĩ của họ rằng, đôi mắt của thế giới đang nh́n họ, rằng tổ tiên họ đang quan sát họ và rằng, hậu thế sẽ nghe nói đến họ. Vị tướng tài, là vị tướng biết cách “gọi hồn” những binh sĩ của ông ta từ những đống cát của sa mạc và những làn sóng của đại dương.

Sự vinh quang là một khái niệm có tính kịch trường. Không có sự phấn đấu cho vinh quang nào mà không có sự nhận biết sống động về một khán giả – sự nhận biết rằng, những việc làm to tát của chúng ta sẽ đến tai những kẻ đương thời của chúng ta, hay “của những kẻ sắp ra đời.” Chúng ta sẵn sàng hy sinh cái bản ngă thực, tạm bợ của ḿnh cho cái bản ngă vĩnh cửu tưởng tượng mà chúng ta đang xây dựng, bằng những việc làm anh hùng của chúng ta, trong quan niệm và trí tưởng tượng của những người khác.

Trong thực tiễn của những phong trào quần chúng, th́ có lẽ sự “giả vờ” đóng một vai tṛ bền vững hơn bất cứ yếu tố nào khác. Khi đức tin và sức mạnh để thuyết phục hay cưỡng bức đă mất, th́ sự “giả vờ” vẫn c̣n lại. Không nghi ngờ ǵ, rằng trong việc dàn dựng những đám rước của nó, những cuộc diễu hành của nó, những nghi thức và nghi lễ của nó, một phong trào quần chúng chạm vào một dây đàn nhạy cảm trong mọi trái tim. Ngay cả những người có đầu óc tỉnh táo nhất, cũng bị cuốn đi bởi cảnh tượng của một khối quần chúng trùng trùng điệp điệp. Có một sự phấn chấn và cảm thức “ra khỏi vỏ ốc” trong cả những tham dự viên lẫn trong những khán giả. Có thể là, những kẻ phẫn chí th́ dễ đáp ứng trước cái hùng vỹ và sự huy hoàng của quần chúng hơn những người “độc lập.” Niềm ước mơ trốn thoát khỏi cái bản ngă bất toại nguyện của họ, phát triển trong những kẻ phẫn chí một điều kiện dễ dàng cho việc giả vờ – cho một màn tŕnh diễn – và nó cũng phát triển một sự sẵn sàng để tự đồng hóa một cách hoàn toàn với cái cái cảnh tượng uy nghi đó.

__________

Self-sufficient: tự túc; độc lập.

 

SỰ PHÊ PHÁN NHẮM VÀO HIỆN TẠI

48

Khi mới ra đời, th́ một phong trào quần chúng có vẻ như ủng hộ hiện tại chống lại quá khứ. Nó thấy trong những định chế và đặc quyền đă được xác lập, một sự xâm lấn của một quá khứ già nua, chống lại một hiện tại thanh xuân. Nhưng, để nới lỏng cái sự bóp nghẹt của quá khứ, th́ cần phải có sự đoàn kết cực lớn và sự hy sinh vô giới hạn. Điều này có nghĩa rằng, những người được kêu gọi để tấn công quá khứ và giải phóng hiện tại, phải sẵn sàng, một cách nhiệt thành, từ bỏ bất cứ cơ hội hưởng thụ hay thừa kế nào trong hiện tại. Hiển nhiên, đó là một mệnh đề phi lư. Hệ quả là cái dịch chuyển tất yếu trong sự nhấn mạnh, một khi phong trào bắt đầu diễn tiến. Hiện tại – cái mục tiêu nguyên thủy – bị đẩy ra khỏi sân khấu và được thay thế bằng hậu thế, tương lai. Thêm nữa: hiện tại bị đẩy lùi như thể nó là một sự-thể ô uế và bị đồng hóa với cái quá khứ bị ghét bỏ. Cái đường ranh giới của chiến trường, bây giờ được vạch ra giữa những sự-thể vốn đang hiện hữu hay đă và đang hiện hữu, và những sự-thể vốn chưa hiện hữu.

Đánh mất sinh mệnh của ḿnh, chỉ là đánh mất hiện tại; và rơ ràng, đánh mất một hiện tại nhơ nhuốc, vô giá trị, th́ không phải là đánh mất nhiều lắm.

Một phong trào quần chúng không những mô tả hiện tại như là hèn hạ và khốn khổ – mà nó c̣n cố t́nh làm cho hiện tại thành ra như vậy. Nó tạo ra một khuôn mẫu [của] hiện hữu cá nhân buồn bă, khó khăn, ngột ngạt và tẻ nhạt. Nó kết án những lạc thú và những tiện nghi và tán dương cuộc sống khắc khổ. Nó xem sự hưởng thụ b́nh thường như là tầm thường hay thậm chí đáng xấu hổ, và xem việc theo đuổi hạnh phúc cá nhân như là vô đạo đức. Hưởng thụ, là giao thiệp với kẻ thù – hiện tại. Mục tiêu chủ yếu của lư tưởng khổ hạnh, được rao giảng bởi phần lớn những phong trào, là nuôi dưỡng sự khinh bỉ đối với hiện tại. Chiến dịch chống lại những ham muốn, là một nỗ lực để nới lỏng những cái ṿi bền bỉ đang bám chặt vào hiện tại. Cái cuộc sống cá nhân buồn tẻ này tương phản với một bối cảnh đầy màu sắc và kịch tính của sự huy hoàng tập thể – sự kiện đó càng nhấn mạnh sự vô giá trị của nó.

Chính cái tính chất phi thực tế [hoang tưởng] của nhiều trong số những mục tiêu mà một phong trào quần chúng vạch ra, là bộ phận của cái chiến dịch chống lại hiện tại. Hiến tặng một cái ǵ đó thực tiễn, sẽ là tăng cường sự hứa hẹn về hiện tại và làm cho chúng ta thỏa hiệp với nó. Đức tin vào những phép mầu, cũng bao hàm một sự từ khước và thách thức hiện tại. Khi Tertulian công bố: “Và Ngài được chôn cất và sống lại; điều đó là chắc chắn, bởi v́ nó là bất-khả,”  th́ ông đang dè bỉu hiện tại. Sau cùng, tính chất huyền bí [mysticism] của một phong trào, cũng là một phương tiện để phê phán hiện tại. Nó nh́n hiện tại như là cái phản ảnh mờ nhạt và méo mó của một cái bất tri bao la [a vast unknown] đang phập phồng bên dưới và vượt quá chúng ta. Hiện tại là một cái bóng và một ảo tưởng.

__________

Nguyên tác: “And He was buried and rose again; it is certain because it is impossible.”

 

49

Không có sự phê phán đích thực nào nhắm vào hiện tại, mà lại không có niềm hy vọng chắc chắn về một tương lai tốt hơn. Bởi v́, bất luận chúng ta than văn ra sao về cái sự đê tiện của thời đại ḿnh, th́ – nếu cái viễn ảnh về tương lai là [cái viễn ảnh của] sự suy đồi ngày càng gia tăng, một sự tiếp tục không thay đổi của hiện tại – chúng ta tất yếu bị buộc phải tự thỏa hiệp với hiện hữu của ḿnh, bất luận nó hèn hạ và khó khăn đến đâu.

Mọi phong trào quần chúng đều phê phán hiện tại bằng cách mô tả nó như là một phương tiện mở đầu cho một tương lai huy hoàng – chỉ là một tấm đệm trên ngưỡng cửa của thiên niên kỷ mới. Đối với một phong trào tôn giáo, th́ hiện tại là một nơi lưu đày, một thung lũng nước mắt, dẫn đến vương quốc trên trời; đối với một cuộc cách mạng xă hội, nó là một trạm trung chuyển trên đường đến Utopia;• đối với một phong trào dân tộc chủ nghĩa, nó là một giai đoạn xấu xa đi trước thắng lợi sau cùng.

__________

Utopia: là một cộng đồng hoặc xă hội gần như lư tưởng hoặc hoàn hảo trên mọi mặt.

 

Dĩ nhiên, đúng là niềm hy vọng được phóng thích bởi một sự h́nh dung sống động về một tương lai huy hoàng, là một nguồn động lực hùng mạnh cho sự liều lĩnh và sự quên ḿnh – hùng mạnh hơn sự phê phán hàm ẩn [implied] nhắm vào hiện tại. Một phong trào quần chúng phải tập trung trái tim và khối óc của những người đi theo nó trên tương lai, ngay cả khi nó không dấn ḿnh vào cuộc chiến đấu sinh tử chống lại những định chế và những đặc quyền đă được xác lập. Sự hy sinh quên ḿnh – được bao hàm trong sự chia sẻ hỗ tương và hành động hợp tác – là bất-khả, nếu không có niềm hy vọng. Khi hôm nay [hiện tại] là tất cả những ǵ có được, th́ chúng ta chộp lấy tất cả những ǵ mà chúng ta có thể và đeo níu vào chúng. Chúng ta trôi lềnh bềnh trên một đại dương của hư vô, và chúng ta níu vào bất cứ mảnh phế-vật tồi tàn nào, như thể nó là cái cây của cuộc sống. Mặt khác, khi mọi sự đều đang ở phía trước và chưa đến, th́ chúng ta thấy dễ chia sẻ tất cả những ǵ mà chúng ta có, và chịu từ bỏ những thuận lợi ở bên trong tầm kiểm soát của ta. Cách ứng xử của những thành viên của đảng Donner khi họ được bơi trên chiếc phao của hy vọng và, về sau, khi niềm hy vọng ra đi – cách ứng xử đó là một minh họa cho sự lệ thuộc của tính hợp tác và tinh thần cộng đồng vào niềm hy vọng. Những người không hy vọng, sẽ bị chia rẽ và bị đẩy tới việc say sưa t́m kiếm tư lợi. Sự đau khổ chung, một ḿnh nó – khi không được kết nối với hy vọng – không tạo ra sự đoàn kết, nó cũng không khơi dậy sự độ lượng hỗ tương. Những người Hebrews bị nô lệ hóa tại Ai Cập, “mà cảnh cá chậu chim lồng hà khắc đă khiến cho đời họ trở nên cay đắng,” là những người ưa căi vă và nói xấu sau lưng nhau. Moses đă phải cho họ niềm hy vọng về một vùng đất hứa trước khi ông có thể kết hợp họ lại với nhau. Ba mươi (30) ngàn người vô vọng trong những trại tập trung Buchenwald không phát triển bất cứ h́nh thức hành động hợp quần nào, và họ cũng không biểu lộ bất cứ sự sẵn sàng nào cho sự hy sinh. Ở đó, có nhiều sự tham lam và tính ích kỷ tàn nhẫn, so với trong những xă hội tự do tham lam nhất và đồi bại nhất. “Thay v́ học cách để có thể giúp đỡ nhau một cách tốt nhất, th́ họ lại dùng mọi mánh khóe để thống trị và đàn áp lẫn nhau.” (2)

 

50

Việc tôn vinh quá khứ, có thể được dùng như là một phương tiện để làm giảm giá hiện tại. Nhưng trừ phi được kết nối với những mong đợi lạc quan về tương lai, th́ một cái nh́n phóng đại về quá khứ đưa tới kết quả là một thái độ cẩn trọng, chứ không phải là những phấn đấu liều lĩnh của một phong trào quần chúng. Mặt khác, không có cái ǵ làm giảm giá hiện tại, cho bằng việc nh́n nó như chỉ là một gạch nối giữa một quá khứ vinh quang và một tương lai huy hoàng. Như thế, mặc dù một phong trào quần chúng thoạt tiên quay lưng với quá khứ, nhưng sau cùng, nó phát triển một sự nhận biết sống động, thường là giả tạo, về một quá khứ huy hoàng xa xăm. Những phong trào tôn giáo quay trở lại ngày sáng thế; cách mạng xă hội nói về một thời đại hoàng kim khi mà con người tự do, b́nh đẳng và độc lập; những phong trào dân tộc chủ nghĩa làm hồi sinh hay “phát minh ra” những kư ức về sự vĩ đại của quá khứ. Sự bận tâm này với quá khứ, khởi phát từ một ước muốn chứng minh cái chính nghĩa của phong trào và cái phi chính nghĩa của trật tự cũ, nhưng cũng để cho thấy hiện tại chỉ như là một khúc nhạc dạo [interlude] giữa quá khứ và tương lai. (3)

Một sự nhận biết về lịch sử cũng mang đến một cảm thức về sự tiếp tục. Sở hữu một cái nh́n sống động về quá khứ và tương lai, tín đồ đích thực thấy ḿnh là một bộ phận của một cái ǵ đó trải dài ra vô tận, về phía sau và về phía trước – một cái ǵ đó vĩnh cửu. Anh ta có thể buông bỏ hiện tại [và chính cuộc đời ḿnh], không chỉ bởi v́ nó là một sự-thể tồi tệ, hầu như khó ḷng xứng đáng để níu vào, nhưng c̣n bởi v́, nó không phải là sự khởi đầu và kết thúc của tất cả mọi sự. Thêm vào đó, một sự nhận biết sống động về quá khứ và tương lai cướp đi của hiện tại cái thực-tại của nó. Sự nhận biết này biến hiện tại thành một khúc đoạn trong một đám rước hay một cuộc duyệt binh. Những người đi theo một phong trào quần chúng thấy ḿnh đi đều bước với những tiếng trống đập và những lá cờ bay. Họ là những kẻ tham dự vào một vở tuồng hùng tráng, được tŕnh diễn trước một khán giả đông đảo – những thế hệ đă qua đi và những thế hệ chưa đến. Trong một quang cảnh như thế, họ cảm thấy rằng, họ không phải là cái bản ngă thực của ḿnh, mà chỉ là những diễn viên đang diễn một vai kịch, và những việc làm của họ, là một “màn tŕnh diễn” hơn là một điều có thực. Và họ thấy cái chết cũng là một cử chỉ, một hành vi “giả vờ.”

 

51

Một thái độ phê phán nhắm vào hiện tại nuôi dưỡng một năng lực về sự báo trước. Kẻ thích nghi tốt, là một nhà tiên tri tồi. Mặt khác, những người chống lại hiện tại dễ phát hiện những hạt giống của thay đổi và những tiềm năng của những khởi đầu nhỏ bé. Một hiện hữu thú vị khiến chúng ta mù mắt trước những khả-tính của sự thay đổi mạnh mẽ. Chúng ta đeo níu vào cái mà chúng ta gọi là cái “lương tri” [common sense] của ḿnh, cái quan điểm thực tiễn của ḿnh. Thực ra, đây chỉ là những cái tên cho một sự quen thuộc với những sự-thể như chúng là. Sự “sờ mó được” của một hiện hữu thú vị và an ninh, là quá hiển nhiên, đến mức nó khiến cho những thực tại khác, bất luận gần kề đến đâu, đều có vẻ như mơ hồ và ảo tưởng. Như vậy, khi thời thế trở nên rối loạn, th́ chính những người có đầu óc thực tiễn là những người bị bất ngờ và trông giống như những kẻ hoang tưởng [visionaries], níu vào những sự-thể vốn không hiện hữu.

Mặt khác, những ai từ khước hiện tại và dán đôi mắt và trái tim lên những điều sẽ tới, có một quan-năng cho việc phát hiện ra cái mầm mống của sự nguy hiểm hay những thuận lợi tương lai, trong sự chín muồi của thời đại họ. Do vậy, cá nhân phẫn chí và “tín đồ đích thực” là những kẻ tiên đoán tốt hơn những ai có lư do để muốn duy tŕ cái hiện trạng. “Thường khi, người ta thấy rằng, chính những kẻ cuồng tín, chứ không luôn luôn là những tâm hồn tế nhị, là những người nắm được cái manh mối của những giải pháp được đ̣i hỏi bởi tương lai.” (4)

 

52

Thật là lư thú, để mà so sánh ở đây, những thái độ đối với hiện tại, tương lai và quá khứ được biểu lộ bởi kẻ bảo thủ, kẻ hoài nghi, kẻ “cấp tiến”  và kẻ “phản động.”

__________

The Radical.

 

Kẻ bảo thủ không tin rằng hiện tại có thể được cải thiện, và anh ta cố định-h́nh tương lai theo h́nh ảnh của hiện tại. Anh ta đi trở lại quá khứ để t́m sự bảo đảm về hiện tại: “Tôi muốn có một cảm thức về sự tiếp tục, sự chắc chắn rằng, những sai lầm nghiêm trọng đương thời của chúng ta, đều nội tại trong bản chất con người; rằng những cái “mốt thời thượng” mới của chúng ta là những “tà kiến” rất cổ xưa; rằng những sự thể yêu quư, vốn bị đe dọa, đă lung lay không ít nặng nề trong quá khứ.” (5)

__________

Nguyên tác: “... that beloved things which were threatened had rocked not less heavily in the past”.

 

Quả thực, kẻ bảo thủ mới giống kẻ hoài nghi làm sao! “Có cái ǵ, mà về nó, người ta có thể nói: ‘Hăy nh́n, cái này th́ mới’? Nó đă là của thời xưa, vốn đă hiện hữu trước khi chúng ta ra đời” (6). Đối với kẻ hoài nghi, th́ hiện tại là tổng số của tất cả những ǵ vốn đă và đang hiện hữu, và sẽ hiện hữu, “Cái sự-thể mà đă từng hiện hữu, chính nó, sẽ hiện hữu; và cái đă được làm, sẽ được làm: không có cái ǵ mới mẻ dưới ánh mặt trời.” (7)

Kẻ cấp tiến thấy hiện tại như là hậu duệ đích tôn của quá khứ và đang thường trực tăng trưởng và phát triển về phía một tương lai được cải thiện: phá hoại hiện tại là làm tàn phế tương lai. Do vậy, cả ba đều nâng niu hiện tại, và, như người ta thường mong đợi, họ không sẵn ḷng ưa thích cái ư tưởng về sự hy sinh. Thái độ của họ đối với sự hy sinh được diễn tả tốt nhất bởi kẻ hoài nghi: “bởi v́ một con chó đang sống th́ tốt hơn một con sư tử đă chết. Bởi v́ người đang sống biết rằng họ sẽ chết: nhưng người chết th́ không biết ǵ… họ cũng sẽ măi măi không c̣n có phần-chia nào trong bất cứ cái ǵ vốn được làm dưới ánh mặt trời.” (8)

Kẻ cấp tiến và kẻ phản động đều ghê tởm hiện tại. Họ thấy nó như là một “sự lệch lạc” [aberration] và một sự đồi bại. Cả hai đều sẵn sàng đối xử một cách tàn nhẫn và liều lĩnh với hiện tại, và cả hai đều sẵn sàng đón nhận cái ư tưởng về sự hy sinh. Họ khác nhau ở chỗ nào? Chủ yếu, trong quan điểm của họ về tính dễ bị uốn nắn của bản chất con người. Kẻ cấp tiến có một đức tin mănh liệt vào khả-năng-có-thể-hoàn-thiện [perfectability] vô hạn của bản chất con người. Anh ta tin rằng, bằng cách thay đổi môi trường của con người và bằng cách hoàn thiện một kỹ thuật “cấu tạo linh hồn” [soul-forming], th́ một xă hội có thể được tạo dựng hoàn toàn mới và chưa từng có trước đó. Kẻ phản động không tin rằng, con người có bên trong ḿnh những tiềm năng chưa được thăm ḍ, mà sẽ mang đến sự tốt đẹp. Nếu muốn thiết lập một xă hội ổn định và lành mạnh, th́ nó phải được rập khuôn theo những mô h́nh đă được trắc nghiệm của quá khứ. Anh ta thấy tương lai như là một sự phục hồi vinh quang, hơn là một sự cách tân chưa có tiền lệ.

Trong thực tế, th́ cái ranh giới giữa kẻ cấp tiến và kẻ phản động là không luôn rạch ṛi. Kẻ phản động biểu lộ tính cấp tiến, khi y đi tới chỗ tái-tạo cái quá khứ lư tưởng của ḿnh. H́nh ảnh về quá khứ của y được đặt nền tảng trên cái mà nó đă là, hơn là trên cái mà y muốn tương lai sẽ trở thành. Y canh tân [innovate] hơn là tái-thiết [reconstruct]. Một sự dịch chuyển tương tự xảy ra trong trường hợp của kẻ cấp tiến, khi anh ta bắt tay vào việc xây dựng một thế giới mới của ḿnh. Anh ta cảm thấy cần có sự hướng dẫn thực tiễn, và bởi v́ anh ta đă từ khước và phá hủy hiện tại, nên anh ta bị buộc phải kết nối cái thế giới mới với một thời điểm nào đó trong quá khứ. Nếu anh ta phải dùng đến bạo lực trong việc định-h́nh cái mới, th́ quan điểm về bản chất con người của anh ta tối sầm lại [darken], và tiến gần đến quan điểm của kẻ phản động.

Sự pha trộn của kẻ phản động và kẻ cấp tiến, th́ đặc biệt rơ ràng trong những ai dấn thân vào một cuộc phục hưng mang tính dân tộc chủ nghĩa. Những người đi theo Gandhi tại Ấn Độ và những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái ở Palestine, thường làm sống lại một quá khứ huy hoàng và đồng thời, tạo ra một Utopia chưa có tiền lệ. Những nhà tiên tri, cũng là một sự ḥa trộn của kẻ phản động và kẻ cấp tiến. Họ rao giảng một sự trở lại với đức tin cổ xưa và cũng h́nh dung ra một thế giới mới và một đời sống mới.

 

53

Hiển nhiên là, thái độ phê phán của một phong trào quần chúng nhắm vào hiện tại ủng hộ những khuynh hướng của kẻ phẫn chí. Khi lắng nghe kẻ phẫn chí kết án hiện tại và tất cả những sản phẩm của nó, th́ cái khiến người ta ngạc nhiên, là niềm vui to lớn mà y thu được từ việc kết án đó. Cái niềm vui thích như thế không thể đến từ việc chỉ trút bỏ một mối bất b́nh. Phải có thêm cái ǵ đó – và quả thực là có. Bằng cách nói dông dài về sự đê tiện và sự xấu xa vô phương cứu chữa của thời đại, kẻ phẫn chí làm giảm nhẹ cái cảm nhận về sự thất bại và sự cô lập của ḿnh. Như thể là y muốn nói: “Không chỉ cái bản ngă nhơ nhuốc của chúng ta, mà cuộc đời của tất cả những kẻ đồng thời của chúng ta – ngay cả những người hạnh phúc và thành công nhất – đều vô giá trị và bị lăng phí.” Như thế, bằng cách phê phán hiện tại, y thủ đắc một cảm thức mơ hồ về sự b́nh đẳng.

Phương tiện mà một phong trào quần chúng dùng để làm cho hiện tại trở thành khó chấp nhận [tiết 48], chạm vào một sợi dây đàn nhạy cảm trong tâm hồn những kẻ phẫn chí. Sự làm chủ bản thân, được cần đến trong việc chế ngự những ham muốn, ban cho họ một ảo tưởng về sức mạnh. Họ cảm thấy rằng, trong việc làm chủ chính ḿnh, họ đă làm chủ thế giới. Sự cổ xúy của phong trào quần chúng về cái phi thực tế và cái bất-khả, cũng phù hợp với “khẩu vị” của họ. Những người thất bại trong những vụ việc thường nhật, tỏ ra có một xu hướng muốn vươn tới cái bất-khả. Nó là một chiêu thức để ngụy trang những khuyết điểm của ḿnh. Bởi v́ khi chúng ta thất bại trong nỗ lực làm cái khả-thi [the possible], th́ lỗi hoàn toàn là của chúng ta; nhưng khi chúng ta toan tính làm cái bất-khả [the impossible], th́ chúng ta được “biện minh”: không phải chúng ta bất tài, mà bởi v́ cái nhiệm vụ là quá lớn. Khi cố làm cái bất-khả, th́ cái nguy cơ bị mất uy tín sẽ nhỏ hơn, so với khi cố làm cái khả-thi. Do vậy, sự thất bại trong những vụ việc thường nhật thường hay nuôi dưỡng một sự gan dạ thái quá. Người ta có ấn tượng rằng, kẻ phẫn chí thu được nhiều sự thỏa măn – cũng nhiều bằng, nếu không nhiều hơn – từ những phương tiện mà một phong trào quần chúng sử dụng, so với từ những cứu cánh mà nó cổ xúy. Niềm vui thích của những kẻ phẫn chí đối với sự hỗn loạn và sự sụp đổ của những kẻ may mắn và những kẻ thịnh vượng, không phát sinh từ một sự nhận biết xuất thần rằng, họ đang chuẩn bị cho việc xây dựng “thiên đường dưới thế.” Trong tiếng kêu cuồng tín của họ, “có tất cả hay không có ǵ cả,” th́ có lẽ, cái thứ hai vang vọng một ước muốn nồng nàn hơn cái thứ nhất.

 

“NHỮNG SỰ-THỂ KHÔNG HIỆN HỮU.”

54

Một trong những qui luật mà nổi lên từ một nhận định về những yếu tố vốn phát huy sự hy sinh, là : chúng ta ít khi sẵn sàng chết cho cái mà chúng ta có hay [cái mà chúng ta] đang là; trái lại, chúng ta thường sẵn sàng chết cho cái mà chúng ta mong ước có, hay [cái mà chúng ta] muốn trở thành. Thật là một chân lư khó hiểu và không thú vị rằng, khi người ta đă có “một cái ǵ đó xứng đáng chiến đấu để đạt tới,” th́ họ không cảm thấy muốn chiến đấu. Những người sống cuộc sống đầy đủ, xứng đáng, th́ thường không sẵn sàng chết cho những quyền lợi của riêng ḿnh, hay của đất nước ḿnh, hay cho một “sự nghiệp thần thánh” (9). Ḷng khao khát, chứ không phải sự sở hữu, là mẹ của một sự quên ḿnh liều lĩnh.

“Quả thực, những sự-thể không hiện hữu,” th́ hùng mạnh hơn “những sự-thể đang hiện hữu” (10). Trong mọi thời đại, con người đă chiến đấu một cách kiên cường nhất cho những thành phố xinh đẹp chưa được xây dựng, và những khu vườn chưa được gieo trồng. Satan không lạc đề khi nói tất cả những ǵ mà hắn biết : “Tất cả những ǵ mà một người có, anh ta sẽ cho đi, để đổi lấy sinh mạng của ḿnh”(11). Tất cả những ǵ anh ta có – vâng. Nhưng anh ta thà chết, hơn là phải nhường lại bất cứ vật ǵ trong số những cái mà anh ta chưa có.

Quả vậy, thật kỳ lạ rằng, những ai ôm gh́ hiện tại và níu vào nó với tất cả sức mạnh của ḿnh, sẽ là kẻ ít có khả năng nhất trong việc bảo vệ nó. Và rằng, trái lại, những ai từ khước hiện tại và phủi tay khỏi nó, là những người sẽ có tất cả những món quà và kho báu của nó “mưa rào” xuống họ, mặc dù họ không cầu xin.

Những giấc mơ, những ảo ảnh, và những hy vọng cuồng nhiệt là những vũ khí hùng mạnh và những công cụ thực tiễn. Đầu óc thực tiễn của vị lănh tụ đích thực, nằm ở chỗ nhận ra cái giá trị thực tiễn của những công cụ này. Thế nhưng, sự nhận ra này xuất phát từ việc khinh bỉ hiện tại, mà có thể được truy nguyên như là một sự vụng về [của họ] trong những vụ việc thực tiễn. Nhà doanh nhân thành công, thường là một lănh tụ [cộng đồng] thất bại, bởi v́ đầu óc ông ta quen với “những sự-thể đang là” và trái tim ông ta tập trung trên cái mà có thể được thành tựu trong “thời chúng ta.” Sự thất bại trong việc quản lư những vụ việc thực tiễn, có vẻ như là một điều kiện cho sự thành công trong việc quản lư những vụ việc công cọng. Và, có lẽ thật may mắn rằng, một vài con người có bản chất kiêu ngạo, khi họ đau khổ v́ thất bại trong thế giới thực tiễn, không cảm thấy bị đè bẹp, mà bỗng nhiên được kích thích với cái xác tín rơ ràng là phi lư rằng, họ có năng lực trỗi vượt trong việc dẫn dắt vận mệnh của cộng đồng và dân tộc.

__________

Visions.

 

55

Không hoàn toàn phi lư rằng, người ta sẽ sẵn sàng chết cho một phù hiệu, một lá cờ, một từ ngữ, một quan niệm, một huyền thoại, vân vân. Ngược lại, cái điều ít hợp lư tính nhất, là việc hy sinh mạng sống cho một cái ǵ đó xứng đáng để sở hữu. Bởi v́, chắc chắn là, đời của mỗi người là cái thực nhất trong tất cả những ǵ thực, và không có nó, th́ không thể có việc sở hữu những cái đáng sở hữu. Sự hy sinh không thể là biểu hiện của sự t́m kiếm một thứ tư lợi sờ mó được. Ngay cả khi chúng ta sẵn sàng chết để không bị giết, th́ cái xung lực chiến đấu không khởi-phát từ tư lợi cho bằng từ những cái cảm nhận được, như truyền thống, danh dự, và trên hết, niềm hy vọng. Ở nơi nào không có niềm hy vọng, th́ người ta hoặc là chạy trốn, hoặc để cho ḿnh bị giết mà không chiến đấu. Họ sẽ níu vào sự sống như trong một cơn bàng hoàng mê mẩn. Có cách nào khác để giải thích sự kiện rằng, hàng triệu người châu Âu tự để cho ḿnh bị dẫn vào trong những trại thủ tiêu và những pḥng hơi ngạt? – mặc dù biết một cách chắc chắn rằng, họ đang bị dẫn vào chỗ chết. Sự kiện rằng, Hitler biết cách tát cạn mọi hy vọng nơi những đối thủ của ông, [ít nhất, tại lục địa châu Âu] cho thấy, đó là một sức mạnh khủng khiếp của ông. Xác tín cuồng tín của ông – rằng ông đang xây dựng một trật tự mới mà sẽ kéo dài một ngàn năm – chính cái xác tín đó tự lan truyền tới những kẻ ủng hộ lẫn những kẻ chống đối ông. Đối với những kẻ ủng hộ, th́ nó cho cảm nhận rằng, trong việc chiến đấu cho Đế chế thứ III, họ đang “liên minh” với vĩnh cửu, trong khi những kẻ chống đối, cảm thấy rằng, cuộc đấu tranh chống lại trật tự mới của Hitler, là thách đố cái số phận không thể lay chuyển được.

Thật đáng quan tâm rằng, những người Do Thái vốn thụ động nhận chịu sự tàn sát của Hitler tại châu Âu, lại chiến đấu một cách liều lĩnh khi được chuyển đến Palestine. Và mặc dù người ta nói rằng, họ chiến đấu tại Palestine là bởi v́ họ không có lựa chọn nào khác – họ phải chiến đấu hay bị người Ả Rập cắt cổ – th́, cũng đúng rằng, sự gan dạ và sự liều lĩnh sẵn sàng hy sinh, phát-khởi không phải từ nỗi tuyệt vọng, mà từ mối bận tâm nồng nàn của họ đối với sự phục sinh của một vùng đất cổ xưa và một dân tộc cổ xưa. Quả vậy, họ chiến đấu và chết cho những thành phố chưa được xây dựng, và những khu vườn chưa được gieo trồng.

 

NHỮNG HỌC THUYẾT

56

Sự sẵn sàng hy sinh là khả-dĩ, khi người ta không bị tác động bởi những thực tại của cuộc đời. Kẻ nào tự do rút ra những kết luận từ kinh nghiệm và sự quan sát cá nhân của ḿnh, th́ không thường “mặn mà” với ư tưởng về sự “tử đạo.” Bởi v́ sự hy sinh là một hành vi phi lư tính. Nó không thể là sản phẩm sau cùng [end-product] của một quá tŕnh thăm ḍ và suy tính. Do vậy, mọi phong trào quần chúng đều cố sức đặt một tấm màn “chống-sự-kiện” giữa kẻ trung thành và những thực tại của thế giới. Họ làm điều này bằng cách tuyên bố rằng, cái chân lư tối hậu và tuyệt đối đă được “hiện thân” trong học thuyết của họ, và rằng, không có chân lư và sự chắc chắn nào khác bên ngoài nó. Những sự kiện mà trên đó tín đồ đích thực đặt nền móng cho những kết luận của anh ta, không phải được xuất phát từ kinh nghiệm hay sự quan sát của anh ta, mà từ “Thánh kinh.” “Chúng ta níu quá chặt vào cái thế giới được mặc khải bởi Phúc Âm, đến nỗi mà, cho dẫu tôi thấy tất cả những Thiên thần của Thiên đường giáng xuống trên tôi, để nói cho tôi nghe về một cái ǵ đó khác [với Phúc Âm], th́ không những tôi không tin một lời nào của họ, mà tôi sẽ c̣n nhắm mắt và bịt tai, bởi v́ chúng sẽ không đáng được thấy hay được nghe”(12). Nương dựa vào bằng chứng của giác quan và của lư tính, là tà giáo và sự phản bội. Thật đáng ngạc nhiên khi nhận thức rằng, phải cần rất nhiều hoài nghi, để khiến cho sự tin tưởng là có thể được. Cái mà chúng ta biết như là đức tin mù quáng, th́ được nuôi dưỡng bởi vô số những hoài nghi. Những người Nhật cuồng tín tại Brazil không tin, trong nhiều năm, cái bằng chứng về cuộc chiến bại của Nhật. Người Cộng sản cuồng tín không tin bất cứ bản tường thuật hay bằng chứng bất lợi nào về nước Nga; anh ta cũng không bị vỡ mộng bởi việc thấy, với chính mắt ḿnh, cái sự khốn khổ tàn nhẫn bên trong “vùng đất hứa” Sô Viết.

Chính cái khả năng của tín đồ đích thực – khả năng “bịt tai và bịt mắt” trước những sự kiện không đáng được thấy và được nghe – là nguồn gốc của sự kiên cường và sự trung thành vô song. Anh ta không thể bị khiếp đảm bởi sự nguy hiểm, cũng không bị nản ḷng bởi trở ngại, hay bị bối rối bởi những mâu thuẫn, bởi v́ anh ta từ chối sự hiện hữu của chúng. Sức mạnh của đức tin, như Bergson đă chỉ ra, tự biểu hiện không phải trong việc dời non lấp biển, mà trong việc không thấy cái núi nào để dời, cái biển nào để lấp” (13). Và chính sự chắc chắn của cái học thuyết không thể sai lầm, là cái khiến cho tín đồ đích thực không thấy [bị ảnh hưởng bởi] những cái bấp bênh, những cái bất ngờ, và những thực tại không thú vị của cái thế giới xung quanh anh ta.

__________

Đây là một nhận xét rất sâu sắc. Không nên “vơ đũa cả nắm,” nhưng quả thật, không ít những “vị anh hùng, kiên cường, bất khuất” của thời đại chúng ta, chỉ là những kẻ cuồng tín, bị lừa gạt mà không tự biết.

 

Như thế, không nên phán đoán sự hữu hiệu của một học thuyết qua sự sâu sắc của nó, sự cao cả [ưu việt] hay hiệu lực của những chân lư mà nó “hiện thân”; sự hữu hiệu đó, phải được phán đoán bằng cách trả lời câu hỏi sau đây: “Nó làm ǵ để cách ly cá nhân khỏi chính ḿnh và cái thế giới như nó là?” Và, “sự cách-ly ấy có triệt để không?” Những ǵ mà Pascal nói về một tôn giáo hữu hiệu, th́ cũng đúng với bất cứ học thuyết hữu hiệu nào: Nó phải “trái ngược với tự nhiên, với lẽ thường, và với lạc thú.” (14)

 

57

Sự hữu hiệu của một học thuyết không đến từ cái ư nghĩa của nó, mà từ sự chắc chắn của nó. Không có học thuyết nào, bất luận nó sâu xa và cao cả đến đâu, sẽ hữu hiệu, trừ phi nó được tŕnh bày như là hiện thân của một, và chỉ một, chân lư duy nhất (15). Những cái phi lư thô thiển, những cái vớ vẩn tầm thường và những chân lư cao cả, đều có hiệu lực ngang nhau trong việc làm cho người ta sẵn sàng hy sinh, nếu chúng được chấp nhận như là chân lư duy nhất, vĩnh cửu.

Do vậy, thật hiển nhiên rằng, để hữu hiệu, th́ một học thuyết phải không được hiểu, nhưng phải được tin vào. Chúng ta chỉ có thể tuyệt đối chắc chắn về những sự-thể mà chúng ta không hiểu. Một học thuyết mà được hiểu, th́ sẽ bị mất đi sức mạnh của nó. Một khi chúng ta hiểu một sự-thể, th́ dường như nó đă bắt nguồn từ trong chúng ta. Và, rơ ràng, những ai được yêu cầu từ bỏ bản ngă và hy sinh nó, th́ không thể thấy sự chắc chắn vĩnh cửu trong bất cứ cái ǵ vốn bắt nguồn từ cái bản ngă đó. Khi người ta hiểu một sự-thể một cách đầy đủ, th́ điều đó làm phương hại đến cái hiệu lực và sự chắc chắn của nó trong mắt họ.

Kẻ “mộ đạo” [trung thành] luôn luôn được thúc giục t́m kiếm chân lư tuyệt đối với trái tim họ, chứ không phải với khối óc. “Chính trái tim ư thức về Thượng đế, chứ không phải lư tính” (16). Rudolph Hess, khi tuyên thệ trong toàn đảng Quốc Xă vào năm 1934, cổ vũ những thính giả của ông: “Đừng t́m kiếm Adolph Hitler với khối óc của bạn; tất cả các bạn sẽ t́m thấy Người với sức mạnh của trái tim bạn” (17). Khi một phong trào bắt đầu “lư tính hóa” [rationalize] học thuyết của ḿnh, và làm cho học thuyết đó có thể hiểu được, th́ đó là một dấu hiệu rằng, cái giai đoạn năng động của nó đă qua; nghĩa là, bây giờ nó chủ yếu quan tâm đến sự ổn định. Bởi v́, như sẽ được tŕnh bày về sau [tiết 106], sự ổn định của một chế độ đ̣i hỏi sự trung thành của giới trí thức, và chính v́ để thuyết phục họ, hơn là để vun đắp sự hy sinh, mà một học thuyết được làm cho có thể hiểu được.

Nếu một học thuyết là có thể hiểu được, th́ nó phải mơ hồ, và nếu nó có thể hiểu được và không mơ hồ, th́ nó phải không thể kiểm chứng được. Người ta phải lên thiên đàng hay tới một tương lai xa xôi để xác định chân lư của một học thuyết hữu hiệu. Khi phần nào đó của một học thuyết là tương đối đơn giản, th́ giữa những kẻ trung thành, có một khuynh hướng muốn phức tạp hóa và làm cho nó “mờ mịt” đi. Những lời nói giản dị được làm cho trở nên nhiều ư nghĩa và được làm cho có vẻ giống như những biểu tượng trong một thông điệp bí mật. Như thế, có một không khí “vô học” [illiterate] nơi một “tín đồ đích thực” có học thức nhất. Anh ta dùng những từ [ngữ] như thể anh ta không biết nghĩa thực của chúng. Hệ luận là, sở thích của anh ta về việc nói quanh, chẻ sợi tóc làm tư, và và sự ṿng vo có tính kinh-viện.

 

58

Sở hữu một chân lư tuyệt đối, là có một tấm lưới của sự quen thuộc trải ra qua suốt toàn bộ vĩnh cửu. Không có cái ǵ gây ngạc nhiên, cũng không có cái ǵ là “bất tri.” Mọi câu hỏi đă được trả lời, mọi quyết định đă được làm, mọi sự kiện tương lai đă được thấy trước. Tín đồ đích thực không có sự ngạc nhiên thán phục và sự lưỡng lự nào. “Kẻ nào biết Chúa Jesus, biết lư do của mọi sự-thể” (18). Học thuyết đích thực là một “ch́a khóa mẹ” để mở mọi vấn đề của thế giới. Với nó, thế giới có thể được tháo ra và ráp lại. Lịch sử chính thức của Đảng Cộng sản tuyên bố: “Sức mạnh của chủ nghĩa Mác-xít Lênin-nít nằm trong sự kiện rằng, nó làm cho Đảng có thể t́m thấy định hướng đúng trong bất cứ t́nh huống nào, hiểu sự nối kết bên trong của những biến cố hiện hành, thấy trước cái chiều hướng, quá tŕnh diễn biến của nó, và tri giác không những như thế nào và trong hướng nào mà chúng đang phát triển trong hiện tại, mà c̣n như thế nào và theo hướng nào, mà chúng tất yếu sẽ phát triển trong tương lai” (19). Tín đồ đích thực được động viên để nỗ lực làm cái vô tiền lệ và cái bất-khả, không những bởi v́ cái học thuyết [mà anh ta tin tưởng] ban cho anh ta một cảm thức về sự vạn năng, mà bởi v́ nó c̣n cho anh ta niềm tự tin vô hạn vào tương lai. [Xem tiết 4].

Một phong trào quần chúng năng động từ khước hiện tại và tập trung sự quan tâm của nó vào tương lai. Chính là từ thái độ này mà nó lấy sức mạnh của nó, bởi v́ nó có thể đối xử một cách liều lĩnh với hiện tại – với sức khỏe, tài sản và cuộc đời của những người ủng hộ nó. Nhưng nó phải hành động như thể nó đă đọc cuốn sách của tương lai cho đến chữ cuối cùng. Học thuyết của nó được công bố như là một ch́a khóa để mở cuốn sách đó.

 

59

Có phải những kẻ phẫn chí th́ dễ bị “nhồi sọ” hơn những kẻ không phẫn chí? Có phải họ cả-tin hơn? Pascal quan niệm rằng, “Người ta dễ dàng hiểu “thánh kinh” khi người ta ghét bỏ chính ḿnh” (20). Rơ ràng, có sự liên hệ nào đó giữa sự bất măn với chính ḿnh và một khuynh hướng cả-tin. Sự thúc giục trốn thoát khỏi cái bản ngă thực của chúng ta, cũng là một thúc giục trốn thoát khỏi cái hợp lư tính và cái hiển nhiên. Sự từ chối nh́n thấy chính ḿnh như chúng ta đang là, phát triển một sự ghét bỏ đối với những sự kiện và với cái logic lạnh lùng. Không có niềm hy vọng nào cho những kẻ phẫn chí trong cái “có thực” và cái khả-thi. Sự cứu rỗi đến với họ chỉ từ cái mầu nhiệm, vốn thấm [rỉ] qua kẽ nứt trong bức tường sắt của thực tại không thể lay chuyển. Họ yêu cầu được ai đó lừa dối. Những ǵ mà Stresemann nói về nước Đức, th́ cũng đúng với những kẻ phẫn chí nói chung: “Họ cầu nguyện không chỉ cho bánh ḿ hằng ngày, mà c̣n cho ảo-tưởng hằng ngày” (21). Có vẻ như điều sau đây là quy luật: những ai không thấy khó khăn trong việc tự lừa dối ḿnh, th́ dễ bị lừa gạt bởi kẻ khác. Họ dễ bị thuyết phục và dễ bị dắt đi.

__________

Holy writ: thánh kinh. Từ này, không viết hoa trong nguyên tác, nên h́nh như nó không trỏ vào Thánh Kinh [Bible] của Ki-tô giáo, mà nói về “thánh kinh” nói chung?

 

Một khía cạnh đặc trưng của sự cả-tin là, nó thường được kết nối bởi một khuynh hướng mạo danh. Sự kết hợp của sự cả-tin và sự dối trá, th́ không phải là đặc tính của riêng trẻ con. Sự thiếu khả năng và sự không sẵn ḷng nh́n sự vật như chúng là, phát huy sự cả-tin và sự bịp bợm.

 

SỰ CUỒNG TÍN

60

Trong tiết 1, chúng tôi đă gợi ư rằng, những phong trào quần chúng thường cần thiết cho việc thực hiện những thay đổi mạnh mẽ và bất ngờ. Có vẻ như kỳ lạ rằng, ngay cả những thay đổi thực tiễn và đáng mơ ước – chẳng hạn như sự canh tân của những xă hội tù đọng – sẽ đ̣i hỏi [cho sự thực hiện chúng] một bầu khí sục sôi nhiệt huyết và sẽ phải được đi kèm bởi tất cả những khuyết điểm và những cái dại dột [ngu xuẩn] của một phong trào quần chúng năng động. Sự ngạc nhiên giảm xuống khi chúng ta nhận thức rằng, mối quan tâm chính yếu của một phong trào quần chúng năng động, là dần dần tạo ra trong những người đi theo nó một điều kiện dễ dàng [facility] cho hành động hợp quần, bằng cách tước bỏ khỏi mỗi cá thể sự độc đáo và sự tự-trị của y, và biến y thành một phân tử vô danh, không có ư chí và sự phán đoán của riêng ḿnh. Sự tước bỏ ấy không những biến những kẻ đi theo thành một khối quần chúng chặt chẽ và không sợ hăi, mà c̣n biến họ thành một khối đồng-chủng, đàn hồi mà có thể được nhồi nặn tùy ư. Tính đàn hồi của con người th́ cần thiết cho sự thực hiện những thay đổi mạnh mẽ và bất ngờ, và do vậy, có vẻ như là một phó-sản của quá tŕnh hợp nhất hóa và của sự “nhồi sọ” một sự sẵn sàng cho sự hy sinh.

Điểm quan trọng là, sự “quay lưng khỏi” bản ngă – vốn là một điều kiện tiên quyết cho cả tính đàn hồi lẫn sự chuyển đổi [conversion] – hầu như luôn luôn tiến hành trong một bầu khí sục sôi nhiệt huyết. Bởi v́, sự khơi dậy ḷng nhiệt huyết không chỉ là một phương tiện hữu hiệu để phá vỡ một thế quân b́nh được xác lập giữa một người và bản ngă của anh ta, mà nó c̣n là phó-sản tất yếu của một sự xáo trộn như thế. Ḷng nhiệt huyết được phóng thích ngay cả khi sự “quay lưng” với bản ngă được gây ra bởi phương tiện ít có tính cảm xúc nhất. Chỉ có cá nhân nào mà đă “làm ḥa với” với bản ngă ḿnh, th́ mới có thể có thái độ “vô tư/khách quan” đối với thế giới. Một khi sự hài ḥa với bản ngă bị đảo lộn – và một người bị buộc phải từ khước, từ bỏ, nghi ngờ hay quên đi cái bản ngă của ḿnh – th́ anh ta trở thành một thực-thể có tính phản ứng cao. Giống như một nguyên tố hóa học không ổn định, anh ta khao khát được kết hợp với bất cứ cái ǵ đến trong tầm với của ḿnh. Anh ta không thể đứng riêng ra, quân b́nh và tự-đủ, mà phải gắn chặt ḿnh một cách toàn tâm toàn ư với phe này hay phe nọ.

Bằng cách nhen nhúm và quạt cho ngọn lửa nhiệt huyết bùng lên trong trái tim những người đi theo chúng, những phong trào quần chúng ngăn cản việc ổn định hóa một sự thăng bằng bên trong. Chúng cũng sử dụng những phương tiện trực tiếp để tạo ra một “sự quay lưng” bền vững đối với bản ngă. Chúng mô tả một hiện hữu tự-trị, tự túc không chỉ như là cằn cỗi và vô nghĩa, mà c̣n như là đồi trụy và xấu xa. Con người nào mà chỉ dựa vào chính ḿnh, là một sinh vật cô-thế, khốn khổ và tội lỗi. Sự cứu rỗi duy nhất của anh ta đến từ việc khước-từ cái bản ngă của ḿnh và t́m thấy một cuộc sống mới trong “bầu vú” của một tập thể thiêng liêng, chặt chẽ – bất luận nó là một giáo hội, một dân tộc hay một đảng phái. Đến lượt nó, việc phỉ báng cái bản ngă giữ cho ḷng nhiệt huyết luôn sôi sục.

 

61

Kẻ cuồng tín th́ măi măi bất an và không hoàn chỉnh. Y không thể làm phát sinh ḷng tự tin từ những tài nguyên cá nhân của ḿnh – từ cái bản ngă bị từ-khước của ḿnh – nhưng t́m thấy nó [ḷng tự tin] chỉ bằng cách níu chặt vào bất cứ cái chỗ dựa nào mà y t́nh cờ ôm choàng lấy. Sự luyến chấp mạnh mẽ là yếu tính của sự tận tụy và tính tôn giáo của y, và y thấy trong nó cái nguồn gốc của toàn bộ đức hạnh và sức mạnh. Mặc dù sự tận tụy của y là một sự bám víu vào cuộc sống thân yêu, nhưng y dễ dàng thấy ḿnh là kẻ đang ủng hộ và bảo vệ cái “sự nghiệp thần thánh” mà y đang bám víu vào. Và y sẵn sàng hy sinh đời ḿnh để tự chứng minh với chính ḿnh và những người khác rằng, đó quả thực là vai tṛ của ḿnh. Y hy sinh đời ḿnh để chứng tỏ giá trị của ḿnh.

Hiển nhiên là, kẻ cuồng tín xác tín rằng, cái sự nghiệp mà y níu vào là bền vững và vĩnh cửu – một viên đá tảng của những thời đại. Tuy nhiên, cảm thức của y về sự an ninh th́ xuất phát từ sự luyến chấp cuồng nhiệt, chứ không phải từ sự hoàn hảo ưu việt của cái lư tưởng của y. Kẻ cuồng tín, thực sự là một kẻ bám chặt vào nguyên tắc. Y ôm choàng lấy một “lư tưởng,” chủ yếu không phải v́ sự công chính và sự thánh thiện của nó, mà bởi v́ y hết sức cần có một cái ǵ đó để níu vào. Quả vậy, thường khi, chính nhu cầu về một sự đeo níu mănh liệt, là cái biến mọi sự nghiệp mà y ôm choàng thành một “sự nghiệp thần thánh.”

Người ta không thể làm cho kẻ cuồng tín dứt bỏ lư tưởng của ḿnh bằng cách kêu gọi đến lư tính của y, hay ư thức đạo đức của y. Y sợ sự giảm sút niềm tin, và không ai có thể thuyết phục y chứng minh sự xác thực và sự đúng đắn của cái “sự nghiệp thần thánh” của y. Nhưng y không thấy sự khó khăn nào trong việc đong đưa một cách đột ngột và cuồng nhiệt từ một “sự nghiệp thần thánh” này sang một “sự nghiệp thần thánh” nọ. Y không thể bị thuyết phục, mà chỉ có thể bị “chuyển đổi.” Sự đeo níu mănh liệt của y, th́ quan trọng hơn tính chất của cái sự nghiệp mà y đeo níu vào.

 

62

Mặc dù họ có vẻ ở những cực đối nghịch nhau, nhưng những kẻ cuồng tín đủ loại th́ thực sự tụ họp lại cùng nhau ở một phía. Chính kẻ cuồng tín và kẻ “ôn ḥa,” mới là ở hai thái-cực khác nhau, và không bao giờ gặp nhau. Những kẻ cuồng tín đủ mọi sắc độ, nh́n nhau với sự nghi ngờ và sẵn sàng “bay vào cổ họng” nhau. Nhưng họ là những kẻ láng giềng, và hầu như cùng một gia đ́nh. Họ ghét nhau với sự ghét bỏ của những người anh em. Họ cách biệt nhau và gần gũi nhau như Saul và Paul. Và một kẻ cuồng tín Cộng sản dễ được chuyển đổi sang chủ nghĩa Phát-xít, chủ nghĩa sô-vanh hay Công giáo, hơn là trở thành một kẻ có quan điểm tự do ôn ḥa. (22)

Kẻ đối lập của kẻ cuồng tín tôn giáo không phải là kẻ cuồng tín vô thần, mà là kẻ cynic ôn ḥa, vốn không quan tâm về việc có một Thượng đế hay không. Kẻ vô thần là một con người “tôn giáo.” Anh ta tin vào vô thần luận như thể nó là một tôn giáo mới (23). Anh ta là một kẻ vô thần với “ḷng mộ đạo” và nhiệt huyết. Theo Renan, th́ “Cái ngày khi mà thế giới sẽ không c̣n tin vào Thượng đế, th́ những kẻ vô thần sẽ là những kẻ khốn khổ nhất trong mọi con người” (24). Do vậy, đối lập với kẻ vô-vanh chủ nghĩa, không phải là một kẻ phản quốc, mà là một công dân chừng mực, anh ta yêu mến hiện tại và không thích sự “tử v́ đạo” và cử chỉ anh hùng. Kẻ phản bội [traitor] thường là một kẻ cuồng tín – cấp tiến hay phản động – anh ta đầu quân sang phía kẻ thù để đẩy nhanh sự sụp đổ của cái thế giới mà anh ta ghê tởm. Phần lớn những kẻ phản bội trong Thế chiến II đến từ nhánh cực hữu. “Dường như có một đường ranh giới mỏng manh giữa chủ nghĩa dân tộc cực đoan bạo động với sự phản quốc [treason].” (25)

__________

Cynic: Kẻ hoài nghi; kẻ theo chủ nghĩa hoài nghi.

 

Mối quan hệ họ hàng giữa kẻ phản động và kẻ cấp tiến đă được thảo luận ở tiết 52. Tất cả chúng ta, đă sống qua thập niên Hitler, biết rằng, kẻ phản động và kẻ cấp tiến có nhiều cái chung, so với với những cái chung mà họ có với kẻ có khuynh hướng tự do hay kẻ bảo thủ.

 

63

Thật đáng hoài nghi, liệu kẻ cuồng tín mà từ bỏ “lư tưởng thần thánh” của y – hoặc bất ngờ bị bỏ lại, mà không có một “lư tưởng thần thánh” – có bao giờ có thể tự thích nghi với một hiện hữu cá nhân tự-trị hay không. Anh ta sẽ vẫn cứ là một kẻ không nhà, đi quá giang trên những xa lộ của thế giới, quá giang một chuyến trên bất cứ lư tưởng vĩnh cửu nào mà “lăn” qua đó. Đối với kẻ cuồng tín, th́ một hiện hữu cá nhân, ngay cả khi có mục đích, đều có vẻ như vặt vănh, vô dụng, và tội lỗi. Sống mà không có sự hiến thân cuồng nhiệt, là trôi dạt và bị bỏ rơi. Y thấy trong sự khoan dung một dấu hiệu của sự yếu đuối, sự vớ vẩn và sự ngu dốt. Y khao khát sự bảo đảm sâu xa vốn đến từ sự từ-bỏ toàn diện – với sự đeo níu toàn tâm toàn ư vào cái tín điều và một lư tưởng. Cái quan trọng, không phải là nội dung của cái lư tưởng, mà là sự hiến dâng toàn bộ và sự hội-thông toàn bộ với một cộng đồng. Thậm chí, y sẵn sàng gia nhập một cuộc thánh chiến chống lại cái “lư tưởng thần thánh” trước kia của ḿnh, nhưng nó phải là một cuộc “thánh chiến” đích thực – không thỏa hiệp, bất khoan dung, công bố cái chân lư, chân lư duy nhất.

Như thế, hàng triệu những kẻ cuồng tín trước đây trong nước Đức và nước Nhật bại trận, th́ dễ đáp ứng hơn trước sự rao giảng của chủ nghĩa Cộng sản và Ki-tô giáo hiếu chiến; trái lại, học thuyết về lối sống dân chủ không dễ “lọt vào tai” họ. Thành công lớn hơn của tuyên truyền Cộng sản trong trường hợp này, th́ không phải là do kỹ thuật ưu việt của nó, mà do cái khuynh hướng đặc thù của những người Đức và những người Nhật, xưa kia họ đă từng là những kẻ cuồng tín. Những phát ngôn viên của dân chủ không cung ứng một “lư tưởng thần thánh” nào để cá nhân đeo níu vào, và một tổ chức chặt chẽ nào để cá nhân tự đánh mất ḿnh trong đó. Nước Nga Cộng sản có thể dễ dàng biến những tù nhân chiến tranh Nhật thành những người Cộng sản cuồng tín, trong khi không có tuyên truyền Mỹ nào, dù tinh vi và hoàn hảo đến đâu, có thể biến họ thành những người dân chủ yêu tự do.

 

NHỮNG PHONG TRÀO QUẦN CHÚNG VÀ QUÂN ĐỘI.

64

Ở điểm này, trước khi rời đề tài hy sinh, cũng cần có một cái nh́n về những tương tự và khác biệt giữa những phong trào quần chúng và những đội quân – một vấn đề mà đă xuất hiện trong tiết 35 và 47.

Những tương tự th́ nhiều: cả hai đều là những tổ chức tập thể; cả hai đều tước bỏ khỏi cá nhân sự tách rời và tính riêng biệt của anh ta; cả hai đều đ̣i hỏi sự hy sinh, sự tuân phục không nghi vấn và sự trung thành toàn tâm toàn ư; cả hai đều sử dụng rộng răi sự giả vờ để phát huy sự liều lĩnh và hành động hợp quần [xem tiết 47]; và cả hai đều đóng vai tṛ của một nơi trú ẩn cho kẻ phẫn chí, vốn không thể chịu đựng một hiện hữu độc lập, tự-trị. Một tổ chức quân sự, chẳng hạn như Chí nguyện quân Viễn chinh, lôi kéo nhiều trong số những loại người vốn thường lao vào gia nhập một phong trào mới. Cũng đúng rằng, viên sĩ quan tuyển quân, người Cộng sản kích động quần chúng, và kẻ truyền giáo, thường “câu cá” một cách đồng thời trong những hố phân dơ bẩn của khu Skid Row.

__________

Skid Row: Khu vực tụ họp bọn rượu chè lưu manh.

 

Nhưng những khác biệt là nền tảng: một quân đội không thể thỏa măn nhu cầu về một lối sống mới; nó không phải là một con đường đi tới sự cứu rỗi. Nó có thể được dùng như là một cây gậy trong bàn tay của một kẻ cưỡng bức, để áp đặt một lối sống mới và ấn nó xuống những cổ họng miễn cưỡng. Nhưng quân đội chủ yếu là một công cụ được chế tác để duy tŕ hoặc bành trướng một trật tự đă được xác lập – cũ hay mới. Nó là một công cụ tạm thời, mà có thể được ráp lại hay tháo ra tùy ư. Trái lại, một phong trào quần chúng dường như là một công cụ của vĩnh cửu, và những ai tham gia nó, làm như thế suốt đời. Một kẻ trước đây là binh sĩ, vẫn măi là một cựu chiến binh, thậm chí, một anh hùng; một kẻ trước đây là một “tín đồ đích thực,” vẫn măi là một kẻ bội giáo. Quân đội là một công cụ để nâng đỡ, che chở và bành trướng hiện tại. Phong trào quần chúng đến để phá hủy hiện tại. Nó chỉ quan tâm đến tương lai, và nó thu nhận khí lực và động lực của nó từ mối bận tâm này. Khi một phong trào quần chúng bắt đầu bận tâm với hiện tại, th́ có nghĩa là, nó “đă tới đích.” Lúc đó, nó thôi không c̣n là một phong trào, và trở thành một định chế, một tổ chức – một giáo hội, một chính phủ, hay một đội quân [binh sĩ hay công nhân]. Quân đội nhân dân, thường là thành phẩm của một phong trào quần chúng, lưu giữ nhiều trong số những “vật trang trí”  của phong trào – ngôn ngữ “ngoan đạo” rườm rà, những khẩu hiệu, những biểu tượng thiêng liêng; nhưng giống như bất cứ đội quân nào khác, nó được kết dính lại với nhau không phải bởi đức tin và ḷng nhiệt huyết, cho bằng bởi cơ chế lạnh lùng của sự diễn tập, tinh thần đồng đội, và sự cưỡng bức. Chẳng bao lâu, nó đánh mất vẻ khổ hạnh và nhiệt huyết của một công đồng thiêng liêng, và phô bày cái sự huyên náo và sở thích đối với những niềm vui của hiện tại, vốn là đặc tính của mọi đội quân.

__________

Trappings

 

Là một công cụ của hiện tại, một đội quân xử lư chủ yếu cái khả-thi. Những lănh tụ của nó không nương dựa vào những phép mầu. Ngay cả khi được kích động bởi đức tin nồng nàn, th́ họ vẫn dễ dàng thỏa hiệp. Họ cân nhắc khả-tính của chiến bại, và biết cách đầu hàng. Trái lại, lănh tụ của một phong trào quần chúng có một sự khinh bỉ to lớn đối với hiện tại – đối với tất cả những sự kiện và rắc rối không thể vượt qua của nó, ngay cả những bất lợi về địa lư và thời tiết. Ông ta nương tựa vào những phép mầu. Sự thù ghét của ông ta đối với hiện tại, [chủ nghĩa hư vô của ông] trở nên cực kỳ dữ dội khi t́nh huống trở nên tuyệt vọng. Ông ta thà hủy diệt đất nước và nhân dân ḿnh hơn là đầu hàng.

Tinh thần hy sinh quên ḿnh bên trong một đội quân, th́ được vun đắp bởi sự tận tụy với bổn phận, sự giả vờ, tinh thần đồng đội, sự diễn tập, đức tin vào lănh tụ, vào tinh thần thượng vơ, tinh thần mạo hiểm và ước mơ về sự vinh quang. Những yếu tố này – không giống như những yếu tố được sử dụng bởi một phong trào quần chúng – không xuất phát từ một sự phê phán nhắm vào hiện tại và sự ghê tởm đối với một bản ngă vô dụng. Do vậy, chúng có thể biểu hiện ra trong một bầu khí ôn ḥa. Người lính cuồng tín thường vốn là một kẻ cuồng tín, rồi sau đó mới trở thành người lính, hơn là ngược lại. Tinh thần hy sinh quên ḿnh của một đội quân th́ được diễn đạt một cách cao cả nhất trong những lời mà Sarpedon nói với Glaucus khi họ tập kích vào bức tường của Hy Lạp: “Hỡi bạn tôi, nếu chúng ta, khi rời bỏ cuộc chiến này, có thể thoát khỏi tuổi già và cái chết, th́ tôi sẽ không đang chiến đấu ở đây, trong đoàn quân tiên phong; nhưng bây giờ, bởi v́ nhiều h́nh thái của sự chết đang treo lơ lửng trên đầu chúng ta, mà không ai có hy vọng trốn tránh, th́ chúng ta hăy nhường tiếng thơm cho những người khác, hay giành lấy nó cho chính chúng ta.” (26)

Sự khác biệt rơ nét nhất giữa những phong trào quần chúng và những đội quân, là thái độ của chúng đối với đám đông và đám “tiện dân.” De Tocqueville quan sát thấy rằng, những người lính là “những người mà đánh mất đầu óc của họ một cách dễ dàng nhất, và thường chứng tỏ ḿnh yếu nhất vào những ngày của cách mạng” (27). Đối với vị tướng tiêu biểu, th́ quần chúng là một cái ǵ đó mà quân đội ông trở thành, nếu nó phải tan ră ra từng mảnh. Ông ta nhận biết nhiều về sự không trung thành của quần chúng và khuynh hướng “vô chính phủ” của họ, hơn là [nhận biết về] sự sẵn sàng của họ cho sự hy sinh quên ḿnh. Ông ta thấy họ [quần chúng] như là cái thành phẩm độc hại của một tổ chức tập thể đang sụp đổ, hơn là cái nhiên liệu cho một thế giới mới. Ông ta biết cách đàn áp quần chúng nhưng không biết cách thu phục họ. Trái lại, vị lănh tụ của phong trào quần chúng – từ Moses cho tới Hitler – đều lấy cảm hứng từ đại dương của những khuôn mặt ngước lên, và tiếng gào thét của quần chúng là tiếng nói của Thượng đế trong tai ông ta. Ông ta thấy một sức mạnh vô địch đang ở trong tầm với của ḿnh – một lực lượng mà chỉ ḿnh ông ta có thể tận dụng. Và với sức mạnh này, ông ta sẽ quét sạch những đế quốc và những đội quân và toàn bộ cái hiện tại hùng mạnh. Khuôn mặt của quần chúng là “khuôn mặt của đại dương, ” mà từ đó, giống Thượng đế trong ngày sáng thế, ông ta sẽ mang đến một thế giới mới.

=========

(1). See more on this subject in Section 90.

(2). Christopher Burney, The Dungeon Democracy (New York: Duell, Sloan & Pearce, 1946), p. 147. See also on the same subject Odd Nansen, From Day To Day (New York: G. P. Putnam’s Sons, 1949), p. 335; also Arthur Koestler, The Yogi and the Commissar (New York: Macmillan Company, 1945), p. 178.

(3). For another view of the subject, see Section 20.

(4). Ernest Renan, History of the People of Israel (Boston: Little, Brown & Company, 1888–1896), Vol. Ill, p. 416.

(5). John Buchan, Pilgrim’s Way (Boston: Houghton Mi􀁁in Company, 1940), p. 183.

(6). Ecclesiastes 1:10.

(7). Ibid., 1:9.

(8). Ibid., 9:4, 5, 6.

(9). There is an echo of this disconcerting truth in a letter from Norway written at the time of the Nazi invasion: “The trouble with us is that we have been so favored in all ways that many of us have lost the true spirit of self-sacrifice. Life has been so pleasant to a great number of people that they are unwilling to risk it seriously.” Quoted by J. D. Barry in the San Francisco News, June 22, 1940.

(10). I Corinthians 1:28.

(11). Job 2:4.

(12). Luther, “Table Talk, Number 1687.” Quoted by Frantz
Funck-Brentano, Luther (London: Jonathan Cape, Ltd., 1939), p. 246.

(13). Henri L. Bergson, The Two Sources of Morality and
Religion (New York: Henry Holt & Company, 1935).

(14). Pascal, Pensées.

(15). Thomas a Kempis, Of The Imitation of Christ (New York: Macmillan Company, 1937), Chap. III.

(16). Pascal, op. cit.

(17). Konrad Heiden, Der Fuehrer (Boston: Houghton Mi􀁁in Company, 1944), p. 758.

(18). Pascal, op. cit.

(19). History of the Communist Party (Moscow, 1945), p. 355. Quoted by John Fischer, Why They Behave Like Russians (New York: Harper & Brothers, 1947), p. 236.

(20). Quoted by Emile Cailliet, The Clue to Pascal (Toronto: Macmillan Company, 1944).

(21). Quoted by Michael Demiashkevich, The National Mind (New York: American Book Company, 1938), p. 353.

(22). See examples in Section 14.

(23). Fëdor Dostoyevsky, The Idiot, Part IV, Chap. 7.

(24). Ernest Renan, op. cit., Vol. V., p. 159.

(25). Harold Ettlinger, The Axis on the Air (Indianapolis: Bobbs-Merrill Company, 1943), p. 39.

(26). Homer, Iliad.

(27). Alexis de Tocqueville, Recollections (New York: Macmillan Company, 1896), p. 52.
 

 

Trở về Giới thiệu và Mục Lục

Xem tiếp Phần 3, Chương 14


 

art2all.net