ĐỖ TƯ NGHĨA

 

TÍN ĐỒ ĐÍCH THỰC ( THE TRUE BELIEVER)

Về bản chất của những phong trào quần chúng

Erich Hoffer / Đỗ Tư Nghĩa

==o))((o==

 

 PHẦN BA :

HÀNH ĐỘNG HỢP QUẦN VÀ SỰ HY SINH QUÊN M̀NH


CHƯƠNG XIV

NHỮNG TÁC NHÂN TẠO RA SỰ ĐOÀN KẾT HỢP NHẤT.

 

SỰ THÙ HẬN

65

          Sự thù hận là tác nhân dễ tiếp cận và bao quát nhất trong tất cả những tác nhân tạo ra sự đoàn kết. Nó lôi cuốn và kéo cá nhân ra khỏi cái bản ngă của chính ḿnh, khiến cho anh ta quên đi niềm hạnh phúc và tương lai của anh ta, và giải thoát anh ta khỏi những ganh tỵ và việc t́m kiếm tư lợi. Anh ta trở nên một phân-tử vô danh run rẩy với một khát khao muốn tan chảy và hợp nhất với những kẻ giống ḿnh vào trong một khối rực lửa. Heine gợi ư rằng, cái mà t́nh yêu Ki-tô giáo không thể làm, là bị tác động bởi một sự thù hận chung. (1)

Những phong trào quần chúng có thể nổi lên và lan rộng mà không có niềm tin vào một Thượng đế, nhưng không bao giờ không có niềm tin vào một tên quỷ sứ. Thường khi, sức mạnh của một phong trào quần chúng th́ tỷ lệ thuận với sự sống động và sự sờ mó được của tên quỷ sứ của nó. Khi Hitler được hỏi, ông có nghĩ rằng người Do Thái phải bị tiêu diệt hay không, th́ ông trả lời: “Không… Nếu tiêu diệt họ, th́ rồi, chúng ta cũng phải phát minh ra họ. Thật là cốt yếu để có một kẻ thù sờ mó được, chứ không phải chỉ là một kẻ thù trừu tượng” (2). F. A. Voigt kể về một phái bộ Nhật đến Berlin vào năm 1932, để nghiên cứu phong trào Đức Quốc Xă. Voigt hỏi một thành viên của phái bộ, anh ta nghĩ ǵ về phong trào. Anh ta đáp: “Nó thật ấn tượng. Tôi mong ước chúng ta có thể có một cái ǵ đó giống như nó tại Nhật, chỉ có điều là chúng ta không thể, bởi v́ chúng ta không có người Do Thái nào cả.” (3). Có lẽ, cũng đúng rằng, sự khôn khéo và thủ đoạn của những người biết cách khởi động một phong trào – hay biết cách giữ cho một phong trào diễn tiến – nằm ở chỗ, họ biết cách “nhặt lên” một kẻ thù xứng đáng, cũng như ở chỗ họ biết phải cổ xúy học thuyết nào và phải áp dụng chương tŕnh nào. Những lư thuyết gia của Kremlin hầu như không chờ đợi tiếng súng của Thế chiến II ngừng lại mới chọn phương Tây Dân chủ, và nhất là Hoa Kỳ, như là kẻ thù. Thật đáng ngờ, liệu cử chỉ thiện chí hay nhượng bộ nào từ phe chúng ta, sẽ thu hẹp cái dung lượng và ḷng thù hận, sự phỉ báng chống lại chúng ta phát xuất từ Kremlin.

Một trong những khuyết điểm trầm trọng nhất của Tưởng Giới Thạch, là sự thất bại của ông trong việc t́m ra một tên quỷ sứ thích hợp mới, một khi kẻ thù Nhật biến mất khỏi hiện trường, lúc chiến tranh kết thúc. Vị Tướng nhiều tham vọng nhưng “ngây thơ” này, có lẽ, quá quy-ngă để nhận thức rằng, không phải ông ta, mà quỷ sứ Nhật, là kẻ làm phát sinh ḷng nhiệt huyết, sự đoàn kết và sự sẵn sàng hy sinh của quần chúng Trung Quốc.

 

66

Sự thù hận chung liên kết những yếu tố hỗn tạp nhất. Chia sẻ một mối thù hận chung, thậm chí, với một kẻ thù, là gây cho anh ta một cảm thức về họ hàng, và như thế, xói ṃn sức kháng cự của anh ta. Hitler dùng chủ nghĩa bài Do Thái không chỉ để liên kết những người Đức, mà c̣n để xói ṃn sự kiên quyết của những nước ghét Do Thái: Ba Lan, Rumania, Hungary, và sau cùng, ngay cả Pháp. Ông cũng sử dụng chủ nghĩa chống Cộng một cách tương tự.

 

67

Có vẻ như, giống như một vị thần lư tưởng, th́ tên quỷ sứ lư tưởng phải là độc nhất, vô nhị. Hitler – kẻ lăo luyện hàng đầu về việc sử dụng “quỷ sứ” – nói rằng, thiên tài của một lănh tụ vĩ đại nằm ở chỗ, ông ta biết tập trung toàn bộ sự thù hận lên một kẻ thù duy nhất, và làm cho ngay cả những đối thủ rất khác biệt nhau, có vẻ như thuộc về cùng một phạm trù” (4). Khi Hitler chọn người Do Thái như là quỷ sứ của ḿnh, th́ ông ta đồng nhất hầu như toàn thế giới bên ngoài nước Đức với dân Do Thái (hoặc những ai làm việc cho họ). “Đứng đằng sau nước Anh, là Israel, và đằng sau nước Pháp, và đằng sau Hoa Kỳ....” (5). Stalin, nữa, cũng chọn một “tên quỷ sứ” duy nhất làm kẻ thù. Trước kia, tên quỷ sứ là một kẻ Phát-xít; bây giờ, hắn là một nhà tài phiệt Hoa Kỳ.

Một lần nữa, giống như một vị thần lư tưởng, th́ tên quỷ sứ lư tưởng phải toàn năng và có mặt khắp mọi nơi. Khi Hitler được hỏi, liệu ông có đang gán quá nhiều tầm quan trọng cho những người Do Thái hay không, th́ ông kêu lên: “Không, không, không! Thật khó mà diễn tả đầy đủ cái tính chất kinh khủng [đáng sợ] của người Do Thái như là một kẻ thù”(6). Mọi khó khăn và thất bại bên trong phong trào là đều do tên quỷ sứ đó, và mọi thành công, là một thắng lợi đối với mưu đồ xấu xa của hắn (7). Sau cùng, có vẻ như, tên quỷ sứ lư tưởng phải là một người nước ngoài. Để đủ điều kiện như là một tên quỷ sứ, th́ kẻ thù “nội địa” phải được gán cho một ḍng dơi ngoại bang. Hitler thấy dễ dàng “dán nhăn” cho những người Đức gốc Do Thái như là những người nước ngoài. Những kẻ sách động của Cách mạng Nga nhấn mạnh nguồn gốc ngoại bang [Varyag, Tartar, phương Tây] của giới quư tộc Nga (8). Trong Cách mạng Pháp, th́ những nhà quư tộc được xem như là “những hậu duệ của bọn người Đức mọi rợ, trong khi những người b́nh dân Pháp là hậu duệ của những người Gauls và La Mă văn minh”(9). Trong Cách mạng Thanh giáo, th́ những người theo phái bảo hoàng “được dán nhăn là những người Norman, hậu duệ của một nhóm ngoại bang xâm lược.” (10)

 

68

Khi chúng ta yêu thương, chúng ta thường không t́m kiếm những đồng minh. Quả vậy, khi ta và ai đó cùng yêu một người, th́ ta thường xem người đó là “địch thủ” và “kẻ xâm phạm.” Nhưng chúng ta luôn luôn t́m kiếm đồng minh khi chúng ta thù hận.

Thật có thể hiểu được rằng, chúng ta [thường] t́m kiếm những người khác để lôi họ vào phe ḿnh, khi chúng ta có một mối bất b́nh chính đáng và khao khát trả thù những ai làm hại chúng ta. Cái điều khó hiểu là, khi sự thù hận của chúng ta không bắt nguồn từ một mối bất b́nh khả thị, và có vẻ không được biện minh, th́ cái ước mơ có đồng minh lại càng trở nên bức xúc. Chính những mối thù hận “vô lư,” là cái thúc đẩy chúng ta hợp nhất với những ai thù hận như chúng ta, và chính loại thù hận này đóng vai một trong những tác nhân tạo ra sự kết dính một cách hữu hiệu nhất.

__________

Visible.

 

Những thù hận vô lư này đến từ đâu, và tại sao chúng có tác dụng gây ra sự đoàn kết? Chúng biểu thị một nỗ lực tuyệt vọng trong việc đè nén một sự nhận biết về sự bất cập của chúng ta, về sự vô giá trị, về cảm thức tội lỗi và những khiếm khuyết khác của bản ngă. Sự tự-khinh [self-contempt] ở đây được chuyển đổi thành sự thù ghét kẻ khác – và có một nỗ lực kiên quyết và dai dẳng nhất để ngụy trang sự chuyển đổi này. Hiển nhiên là, cái cách hữu hiệu nhất để làm việc này, là t́m thấy những người khác, càng nhiều càng tốt, những người cùng thù hận như chúng ta. Ở đây, hơn bất cứ nơi nào khác, chúng ta cần một sự đồng ư chung; và có lẽ, chúng ta mong muốn truyền đạt tới những người khác cái sự thù hận vô lư của chúng ta, hơn là [muốn truyền đạt tới họ] cái đức tin của ḿnh.

Ngay cả trong trường hợp của một mối bất b́nh chính đáng, th́, về cơ bản, sự thù hận của chúng ta không phát sinh từ một sự tổn thương mà chúng ta phải chịu; đúng hơn, sự thù hận đó phát sinh từ ư thức về sự cô thế của chúng ta, sự bất cập và sự hèn nhát của chúng ta – nói khác đi, từ sự tự-khinh. Khi chúng ta cảm thấy ḿnh “cao hơn” những kẻ tra tấn, th́ có khả năng là chúng ta sẽ khinh bỉ họ, thậm chí, thương hại họ, nhưng lại không thù ghét họ (11). Sự thù hận th́ không luôn nhằm chống lại những kẻ đă làm hại chúng ta; điều đó cho thấy rằng, mối quan hệ giữa sự bất b́nh và sự thù hận là không đơn giản và trực tiếp. Thường thường, khi chúng ta bị làm hại bởi một người, th́ chúng ta quay sự thù hận của ḿnh sang một người hay nhóm hoàn toàn không liên quan. • Những người Nga, bị bắt nạt bởi cảnh sát mật vụ của Stalin, th́ dễ dàng điên tiết chống lại “những kẻ gây chiến tư bản chủ nghĩa”; những người Đức, đau khổ v́ hiệp ước Versailles, tự trả thù bằng cách tiêu diệt những người Do Thái; những người Zulu, bị đàn áp bởi những người Boer, tàn sát những người Hindu; những người da trắng tồi tàn, bị bóc lột bởi những người Dixiecrat, hành h́nh những người Da đen.

__________

Tục ngữ Việt Nam: “Giận cá, chém thớt.”

 

Sự tự-khinh tạo ra trong con người “những cơn phẫn nộ vô lư và vô đạo đức nhất có thể tưởng tượng được, bởi v́ anh ta có một mối thù hận ghê gớm chống lại cái sự thật vốn trách cứ anh ta và gây cho anh ta sự xác tín về khuyết điểm của ḿnh. (12)

 

69

Sự kết nối thâm t́nh giữa thù hận và một lương tâm tội lỗi, cho thấy rằng, về cơ bản, sự thù hận bắt nguồn từ sự tự-khinh, hơn là từ một mối bất b́nh chính đáng. Có lẽ, không có cách nào chắc chắn hơn để gây cho một cá nhân một mối thù hận dữ dội đối với một người khác, hơn là bằng cách bắt anh ta phải chịu một sự bất công nghiêm trọng. Chúng ta thù ghét một người nhiều hơn, khi người ấy có một mối bất b́nh đối với chúng ta, so với khi chúng ta có một mối bất b́nh đối với người ấy. Khi chúng ta chỉ ra cho một người [thấy] cái tội lỗi của anh ta và khiến anh ta tự xấu hổ về chính ḿnh, th́ việc ấy không khiến cho anh ta khiêm cung và nhu ḿ. Có khả năng là, chúng ta khơi dậy sự kiêu ngạo của anh ta và khơi dậy trong anh ta một sự gây hấn liều lĩnh. Việc tự cho ḿnh là chính trực, là một tiếng ồn ầm ĩ, được tạo ra để át đi tiếng nói của tội lỗi bên trong chúng ta.

Nằm đằng sau mọi lời nói và hành vi trắng trợn – và đằng sau mọi biểu hiện để tỏ ra ḿnh là người chính trực – luôn luôn có một lương tâm tội lỗi.

 

70

Làm hại những ai mà chúng ta căm ghét, là thêm nhiên liệu vào sự thù hận của chúng ta. Ngược lại, đối xử với kẻ thù một cách độ lượng và cao thượng, tức là làm cùn nhụt đi sự thù hận của chúng ta đối với kẻ thù.

 

71

Cách hữu hiệu nhất để “làm câm miệng” cái lương tâm tội lỗi của chúng ta, là tự thuyết phục ḿnh và kẻ khác rằng, những ai bị chúng ta làm hại, quả thực họ là những sinh vật đồi bại, xứng đáng với mọi sự trừng phạt, ngay cả sự diệt trừ. Chúng ta không thể thương hại những ai mà chúng ta đă làm hại, chúng ta cũng không thể “trung tính” với họ. Chúng ta phải thù ghét và ngược đăi họ, hoặc để ngỏ cánh cửa của sự tự-khinh.

 

72

Một tôn giáo cao cả [sublime] tất yếu làm phát sinh một cảm nhận mạnh mẽ về tội lỗi. Có một tương phản không thể tránh giữa sự cao cả của đức tin và sự bất toàn của việc thực hành đức tin đó. Và, như người ta thường tin tưởng, cảm nhận về tội lỗi đẩy mạnh sự thù ghét và sự trơ trẽn [vô liêm sỉ]. Như thế, dường như đức tin càng cao cả, th́ sự thù hận mà nó nuôi dưỡng, càng dữ dội. 

__________

H́nh như nhận xét này chỉ đúng với “tín đồ” đích thực, một kẻ cuồng tín?

 

73

Dễ dàng căm ghét một kẻ thù với nhiều cái tốt trong hắn ta, hơn là một kẻ thù hoàn toàn xấu. Chúng ta không thể căm ghét những ai mà chúng ta khinh bỉ. Người Nhật có một thuận lợi hơn chúng ta, ở chỗ, họ ngưỡng mộ chúng ta hơn chúng ta ngưỡng mộ họ. Họ có thể căm ghét chúng ta dữ dội hơn là chúng ta có thể căm ghét họ. Người Mỹ là những người “không biết cách căm ghét” trong những vụ việc quốc tế, do cái cảm nhận về sự tự tôn bẩm sinh của họ đối với những người nước ngoài. Sự thù ghét của một người Mỹ đối với một người Mỹ đồng hương [đối với Hoover hay Roosevelt] th́ dữ dội hơn nhiều, so với bất cứ ác cảm nào mà anh ta có thể có đối với những người nước ngoài. Thật đáng lưu ư rằng, miền Nam chậm tiến cho thấy nhiều khuynh hướng bài ngoại hơn phần c̣n lại của đất nước. Nếu những người Mỹ bắt đầu căm ghét những người nước ngoài một cách không đội trời chung, th́ đó sẽ là một chỉ định rằng, họ đă đánh mất ḷng tự tin vào lối sống của chính họ.

Cái ḍng nước ngầm của sự ngưỡng mộ [tiềm ẩn] trong sự thù hận, tự biểu lộ trong khuynh hướng bắt chước những ai mà chúng ta căm ghét. Như thế, mọi phong trào quần chúng tự định h́nh chính ḿnh theo cái tên quỷ sứ đặc thù của nó. Ki-tô giáo, ở đỉnh cao của nó, đạt tới h́nh ảnh của Kẻ Chống Chúa. Những người Jacobins thực hiện mọi cái xấu xa của sự độc tài mà họ đứng lên để chống lại. Nước Nga Sô-viết th́ đang làm theo tấm gương của chủ nghĩa tư bản độc quyền. Hitler lấy Những nghi thức của Hiền nhân của chủ nghĩa Phục quốc Do Thái làm sách hướng dẫn và sách giáo khoa của ông; ông làm theo chúng “xuống tận từng chi tiết.”(13)

Thật đáng ngạc nhiên khi thấy, như thế nào mà những kẻ bị áp bức hầu như luôn luôn tự định h́nh chính họ theo h́nh ảnh của những kẻ áp bức họ, mà họ thù ghét. Những ai mà có lư do để căm ghét cái xấu ác, phần lớn họ tự định h́nh chính họ theo nó và như thế, duy tŕ nó lâu dài; sự kiện đó, một phần nào cắt nghĩa tại sao, mặc dù họ chống lại một cái xấu ác, nhưng họ vẫn nuôi dưỡng cái xấu ác. Do vậy, hiển nhiên là, ảnh hưởng của kẻ cuồng tín th́ nhất thiết phải không tương xứng với với những năng lực của y. Cả bằng cách “chuyển đổi” [convert] lẫn kích động sự chống đối, y định h́nh thế giới theo h́nh ảnh của chính ḿnh. Ki-tô giáo cuồng tín đặt cái dấu ấn của nó lên thế giới cổ đại, cả bằng cách chinh phục trái tim của những kẻ trung thành, lẫn bằng cách khơi dậy trong những đối thủ “ngoại đạo” [pagan] của nó một nhiệt huyết kỳ lạ và một sự tàn nhẫn mới. Hitler tự áp đặt lên thế giới, cả bằng cách phát huy chủ nghĩa Quốc Xă, lẫn bằng cách ép buộc những chính quyền dân chủ trở nên cuồng tín, bất khoan dung và tàn nhẫn. Nước Nga Cộng sản định h́nh cả những kẻ trung thành lẫn những đối thủ của nó theo h́nh ảnh của chính nó.

Như thế, mặc dù sự thù hận là một công cụ tiện lợi để huy động một cộng đồng cho việc tự vệ, th́ về lâu về dài, cái giá của nó là không rẻ. Chúng ta trả giá cho nó, bằng cách đánh mất tất cả hay nhiều trong số những giá trị mà chúng ta bắt tay vào để bảo vệ.

Cảm nhận được ḍng nước ngầm của sự ngưỡng mộ trong sự thù hận, Hitler rút ra một kết luận đáng chú ư. Ông nói, thật vô cùng quan trọng rằng, đảng viên Quốc Xă phải t́m kiếm và xứng đáng với sự thù hận mănh liệt của kẻ thù của anh ta. Sự thù hận như thế, sẽ là bằng chứng của sự ưu việt của đức tin Quốc Xă. “Cái thước đo tốt nhất cho giá trị của thái độ của y [đảng viên Quốc Xă] – cho sự thành khẩn của xác tín của y, và sức mạnh của ư chí y – là sự thù địch mà y tiếp nhận từ… kẻ thù.” (14)

 

74

Dường như là, khi chúng ta bị đè nặng bởi sự nhận biết về sự vô giá trị của ḿnh, th́ chúng ta không tự thấy ḿnh thấp hơn một số người và cao hơn những người khác, nhưng [chúng ta thấy ḿnh] thấp hơn kẻ thấp nhất của nhân loại. Rồi, chúng ta thù ghét toàn bộ thế giới, và chúng ta muốn rót sự phẫn nộ của ḿnh lên toàn thế giới.

Khi chứng kiến sự sụp đổ của kẻ may mắn và sự ô nhục của kẻ công chính, kẻ phẫn chí cảm thấy một sự yên tâm sâu xa. Trong sự sụp đổ đó, y thấy một lối đi tới t́nh huynh đệ của tất cả. Sự hỗn độn, giống như nấm mồ, là một bến đỗ của sự b́nh đẳng. Cái xác tín nóng bỏng rằng, phải có một cuộc sống mới và một trật tự mới – cái xác tín đó được nuôi dưỡng bởi sự nhận thức rằng, cái cũ sẽ phải bị san thành b́nh địa trước khi cái mới có thể được xây dựng. Sự la hét của những kẻ phẫn chí qua suốt một thiên niên kỷ, đều thấm đẫm một sự thù hận đối với tất cả những ǵ hiện hữu, và một khao khát về sự kết thúc của thế giới.

 

75

Sự thù hận mănh liệt có thể mang lại ư nghĩa và mục đích cho một cuộc sống trống rỗng. Như thế, những người bị ám ảnh bởi sự vô mục đích của đời ḿnh, cố t́m thấy một nội dung mới, không những bằng cách hiến ḿnh cho một “lư tưởng thần thánh,” mà c̣n bằng cách nuôi dưỡng một mối bất b́nh cuồng tín. Một phong trào quần chúng hiến tặng họ những cơ hội vô giới hạn cho cả hai.

 

76

Pascal nói rằng, “tất cả mọi người, do bản tính, đều thù ghét nhau.” Và ông nói thêm, t́nh yêu và ḷng bác ái chỉ là “một sự giả vờ và một h́nh ảnh giả tạo, bởi v́, ở tận đáy ḷng, đó chỉ là sự thù ghét” (15). Bất luận câu nói đó đúng hay sai, th́ người ta cũng không thể thoát khỏi ấn tượng rằng, sự thù ghét là một thành tố thấm nhuần, tỏa khắp trong những hỗn hợp [compounds] và tổ hợp [combinations] của đời sống nội tâm chúng ta. Tất cả những nhiệt huyết, những tận tụy, đam mê và hy vọng của chúng ta, khi chúng phân hủy, đều phóng thích sự thù ghét. Trái lại, có thể tạo ra một nhiệt huyết, một sự hiến dâng và một hy vọng, bằng cách kích hoạt sự thù ghét. Martin Luther nói: “Khi trái tim tôi lạnh và tôi không thể cầu nguyện như tôi nên làm thế, th́ tôi trừng phạt chính ḿnh với ư tưởng về sự bất kính [impiety] và sự vong ân của những kẻ thù của tôi: Giáo Hoàng, những kẻ ṭng phạm và bọn sâu mọt của ông ta , và Zwingli,  đến nỗi mà trái tim tôi căng phồng lên với sự căm phẫn và thù hận chính đáng, và tôi có thể nói một cách phẫn nộ và dữ dội: ‘Sáng danh Người, Vương quốc của Người sẽ đến, ư chí của Người sẽ được thực hiện!’ Và tôi càng trở nên giận dữ, th́ những lời cầu nguyện của tôi lại càng tha thiết hơn.”(16)

_________

Zwingli: Huldrych Zwingli : [1484-1531] Là một lănh tụ của Phong trào Cải Cách tại Thụy Sĩ

 

77

Sự hợp nhất và sự hy sinh quên ḿnh – trong trong tự thân chúng, ngay cả khi được nuôi dưỡng bởi phương tiện cao thượng nhất – tạo ra một điều kiện dễ dàng cho sự thù ghét. Thậm chí, khi những con người liên minh với nhau một cách hùng mạnh để phát huy sự khoan dung và ḥa b́nh trên trái đất, th́ rất có thể, họ trở thành bất khoan dung một cách bạo động đối với những ai không có cùng quan niệm như họ. •

__________

Đây cũng là một “nghịch lư,” nhưng lịch sử cho thấy, đúng là như vậy.

 

Sự “quay lưng với bản ngă” – mà nếu thiếu nó, sẽ không có sự “vô ngă,” cũng như một sự đồng hóa trọn vẹn của cá nhân vào trong một toàn thể chặt chẽ – tạo ra, như đă nói (17), một xu hướng thiên về những thái độ cuồng nhiệt, bao gồm sự thù hận dữ dội. Cũng có những yếu tố khác, mà tạo điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng của sự thù ghét trong một bầu khí của sự hợp nhất [unity] và sự vô ngă. Hành vi quên ḿnh có vẻ như ban cho chúng ta cái quyền được khắc nghiệt và tàn nhẫn đối với những người khác. Người ta thường có ấn tượng rằng, tín đồ đích thực – nhất là cá nhân có đức tin mănh liệt, giống như đức tin tôn giáo – là một người khiêm cung. Sự thật là, sự từ bỏ bản ngă và sự “khiêm cung” [của tín đồ đích thực], chính chúng, lại nuôi dưỡng sự kiêu hănh và sự ngạo mạn. Tín đồ đích thực có khuynh hướng thấy ḿnh như là một trong những kẻ được chọn, muối của đất, ánh sáng của thế gian, một quân vương ngụy trang trong sự nhu ḿ, kẻ được tiền định thừa kế thế gian, và cả nước trời, nữa. (18). Kẻ nào không cùng đức tin với y, là xấu ác; kẻ nào không nghe theo y, sẽ bị diệt vong.

Cũng có điều sau đây: Khi chúng ta từ bỏ cái bản ngă, và trở nên bộ phận của tập thể chặt chẽ, th́ chúng ta không những từ bỏ sự thuận lợi cá nhân, mà c̣n loại bỏ trách nhiệm cá nhân. Không thể kể hết những cực đoan của sự tàn nhẫn và tàn bạo mà một người sẽ đi tới, khi anh ta được giải phóng khỏi những sợ hăi, những lưỡng lự, những hoài nghi và những băn khoăn về “sự đứng đắn” [decency] vốn đi kèm với phán đoán cá nhân. Khi chúng ta đánh mất sự độc lập cá nhân của ḿnh trong cái tính hợp nhất chặt chẽ của một phong trào quần chúng, th́ chúng ta t́m thấy một sự tự do mới – tự do được thù ghét, bắt nạt, nói dối, tra tấn, ám sát và phản bội mà không xấu hổ hay hối hận. Chắc chắn là một phần của sự hấp dẫn của một phong trào quần chúng nằm ở chỗ này. Chúng ta t́m thấy ở đó “cái quyền được sỉ nhục,” mà theo Dostoievsky, có một sự mê hoặc không cưỡng lại được (19). Hitler coi thường sự tàn nhẫn của cá nhân tự-trị. “Bất cứ sự bạo động nào mà không khởi phát từ một cơ sở tinh thần vững chắc, sẽ lung lay và bấp bênh. Nó thiếu sự ổn định mà chỉ có thể được đặt nền tảng trên một thế giới quan cuồng tín.”(20)

Như thế, sự thù ghét không chỉ là một phương tiện của sự đoàn kết, mà c̣n là sản phẩm của nó. Renan nói rằng, từ thuở khai thiên, chúng ta chưa bao giờ nghe nói về một dân tộc nhân ái (21). Người ta có thể nói thêm rằng, chúng ta cũng chưa bao giờ nghe nói đến một giáo hội nhân ái, hay một đảng cách mạng nhân ái. Sự thù ghét và sự tàn bạo nào mà có nguồn gốc của nó trong sự ích kỷ, th́ không có tác dụng mạnh mẽ, so với cái ḷng thù hận và sự tàn nhẫn sinh ra từ sự “vô ngă.”

Khi chúng ta thấy sự lưu huyết, sự khủng bố và sự hủy diệt – được sinh ra từ những mối nhiệt huyết có tính khoan dung như t́nh yêu Thượng đế, t́nh yêu Christ, t́nh yêu dân tộc, ḷng trắc ẩn đối với kẻ bị áp bức, vân vân – th́ chúng ta thường trách cứ cái sự tàn ác đáng xấu hổ này, đổ lỗi cho một giới lănh đạo ích kỷ, ham quyền lực. Thực ra, chính là sự hợp nhất – khởi động bởi những mối nhiệt huyết này, hơn là những mánh khóe của giới lănh đạo – là cái đă biến đổi những xung lực cao cả thành một thực tại của thù hận và bạo động. Sự phi cá nhân hóa [deindividualization] – vốn là một điều kiện tiên quyết cho sự hợp nhất triệt để và sự hiến thân vô ngă – trong một mức độ đáng kể, cũng là một quá tŕnh phi nhân hóa [dehumanization].

 

SỰ BẮT CHƯỚC

78

Sự bắt chước là một tác nhân cốt tủy của việc hợp nhất hóa. Sự phát triển của một nhóm chặt chẽ, là không thể quan niệm được, nếu không có một sự khuyếch tán của sự đồng phục. Sự nhất trí và Gleichschaltung,  được đánh giá cao bởi mọi phong trào quần chúng, th́ được thành tựu bằng sự bắt chước, cũng như bằng sự tuân phục. Sự tuân phục, chính nó, nằm ở sự bắt chước một tấm gương, cũng như trong việc tuân theo một mệnh lệnh.

__________

Gleichschaltung: [chính quyền, chính trị, ngoại giao]: Lệnh chuẩn hóa và loại trừ đối lập trong các định chế [kinh tế, chính trị, văn hóa] của một nhà nước.

 

Mặc dù khả năng bắt chước hiện diện trong mọi con người, nhưng nó có thể mạnh mẽ trong một số người, hơn là trong những người khác. Những kẻ phẫn chí, như đă được gợi ư trong tiết 43, không chỉ có một khuynh hướng về hành động hợp quần, mà c̣n được được trang bị một cơ chế cho việc thực hiện nó. Câu hỏi là : “Phải chăng những kẻ phẫn chí thường chủ yếu là những kẻ hay bắt chước? Có chăng một liên hệ giữa sự phẫn chí và sự sẵn sàng bắt chước? Phải chăng, sự bắt chước, trong thể cách nào đó, là một phương tiện để thoát khỏi những rủi ro vốn bao vây kẻ phẫn chí?”

Gánh nặng của những kẻ phẫn chí, là sự ư thức về một bản ngă nhơ nhuốc, vô dụng, và ước mơ chính yếu của họ, là lột bỏ cái bản ngă vô dụng và bắt đầu một cuộc sống mới. Họ cố thực hiện ước mơ này, hoặc bằng cách t́m kiếm một “căn cước” mới, hoặc bằng cách làm mờ đi và ngụy trang [camouflage] sự độc đáo cá nhân của ḿnh; và cả hai mục đích này đều được đạt tới bằng sự bắt chước.

Càng ít thu được sự thỏa măn từ việc là chính ḿnh, th́ ước muốn giống như những người khác, lại trở nên càng lớn. Do vậy, chúng ta sẵn sàng bắt chước những ai khác chúng ta, hơn là [bắt chước] những ai gần giống ḿnh; bắt chước những ai mà chúng ta ái mộ, hơn là bắt chước những ai mà chúng ta khinh bỉ. Sự bắt chước của những kẻ bị áp bức [những người Da đen và những người Do Thái] là rất đáng chú ư.

Việc làm mờ đi và ngụy trang cái bản ngă, việc ấy chỉ [có thể] được đạt tới bằng sự bắt chước – bằng cách trở nên giống như những người khác, càng nhiều càng tốt. Ước mơ “được thuộc về,” một phần là một ước mơ được đánh mất chính ḿnh.

Sau cùng, sự thiếu ḷng tự tin, vốn là đặc tính của kẻ phẫn chí, cũng kích thích tính bắt chước của họ. Càng nghi ngờ sự phán đoán và sự may mắn của chính ḿnh, chúng ta càng sẵn sàng làm theo gương của những người khác.

 

79

Chỉ duy sự từ khước bản ngă – ngay cả khi không đi kèm với sự t́m kiếm một “căn cước” mới – cũng có thể dẫn đến tính bắt chước. Cái bản ngă bị từ khước không c̣n khẳng định sự độc đáo của nó, và không có ǵ để cưỡng lại cái khuynh hướng sao chép. Cái t́nh huống đó, th́ khá giống với cái t́nh huống được quan sát thấy ở trẻ con và những người lớn “vô bản sắc,”  nơi mà sự thiếu vắng một cá-tính độc đáo khiến cho tâm trí thiếu đi những “vệ sĩ” [để] chống lại sự xâm nhập của ảnh hưởng từ bên ngoài.

__________

Undifferentiated.

80

Một cảm nhận về ḷng tự tôn sẽ phản công chống lại sự bắt chước. Nếu hàng triệu những kẻ di trú đến đất nước này là những kẻ tự tôn – “tinh hoa” của đất nước họ – th́ có lẽ, đă không có một Hợp Chủng Quốc, mà chỉ là những nhóm văn hóa và ngôn ngữ được khảm lại với nhau. Chính là do sự kiện rằng, đa số những kẻ di trú đều ở trong số những người có địa vị thấp nhất và nghèo nhất, bị khinh bỉ và bị chối bỏ, mà hàng triệu người “tạp chủng” đă ḥa nhập quá nhanh chóng và triệt để như thế. Họ đến đây với ước mơ cháy bỏng, muốn lột bỏ cái “căn cước” trong giới cũ của ḿnh, và được tái sinh vào một cuộc sống mới; và họ tự động được trang bị [với] một năng lực vô giới hạn để bắt chước và làm theo cái mới. Sự kỳ lạ của đất nước mới hấp dẫn họ, hơn là làm cho họ khó chịu. Họ khao khát một căn cước mới và một cuộc sống mới – và thế giới càng kỳ lạ, th́ càng phù hợp với cái khuynh hướng của họ. Có lẽ, đối với những người phi Anglo-Saxon, th́ sự kỳ lạ của ngôn ngữ là một sự hấp dẫn bổ sung. Việc phải học để nói [một ngôn ngữ mới] càng làm gia tăng cái ảo tưởng rằng, ḿnh được tái sinh một lần nữa.

 

81

Sự bắt chước, thường khi, là một con đường tắt cho một giải pháp. Chúng ta sao chép khi chúng ta thiếu cái khuynh hướng, cái năng lực hay thời gian để t́m ra một giải pháp độc lập. Những người bận rộn, tất bật, sẽ sẵn sàng bắt chước hơn những người nhàn nhă. Như thế, sự bươn chải có khuynh hướng tạo ra sự “đồng phục.” Và trong cái sự ḥa tan cố ư của cá nhân vào trong một nhóm chặt chẽ, th́ hành động liên tục sẽ đóng một vai tṛ đáng kể. (22)

 

82

Sự hợp nhất, tự thân nó – bất luận được tạo ra bởi sự thuyết phục, sự cưỡng bức hay sự quên ḿnh tự phát – đều có khuynh hướng tăng cường tính bắt chước. Một thường dân được nhập ngũ vào trong quân đội, và trở thành một thành viên của một đơn vị quân sự chặt chẽ, trở nên dễ bắt chước nhiều hơn so với khi anh ta ở trong đời sống dân sự. Cá nhân đă được hợp nhất hóa [unified], th́ không có một bản ngă độc đáo; anh ta luôn luôn bất hoàn chỉnh và non nớt, và do vậy, không có sức kháng cự để chống lại những ảnh hưởng từ bên ngoài. Tính bắt chước rơ nét của người bán khai, có lẽ, chủ yếu không phải là do sự bán khai của họ; mà đúng hơn, là do sự kiện rằng, họ thường là thành viên của một thị tộc hay bộ tộc gắn bó chặt chẽ.

Việc sẵn sàng bắt chước của những người đi theo một phong trào quần chúng, th́ vừa là một thuận lợi, vừa là một hiểm họa đối với nó. Những kẻ trung thành dễ dàng bị dẫn dắt và uốn nắn, nhưng họ cũng đặc biệt dễ bị tác động bởi những ảnh hưởng “ngoại lai.” Người ta có ấn tượng rằng, một nhóm được hợp nhất hóa triệt để, th́ dễ dàng bị khuyến dụ và bị mua chuộc. Sự rao giảng của mọi phong trào quần chúng đầy rẫy những khuyến cáo chống lại việc sao chép những mô h́nh ngoại quốc và “làm theo tất cả những cái ghê tởm của họ.” Sự bắt chước những “kẻ bên ngoài” được dán nhăn như là sự phản quốc và bội tín [apostasy]. “Bất cứ ai bắt chước một kẻ ngoại bang, đều phạm tội làm nhục quốc thể [lèse-nation], giống như một gián điệp để cho một kẻ thù xâm nhập vào bằng một con đường bí mật” (23). Mọi chiêu thức được dùng để cắt đứt kẻ trung thành khỏi sự giao tiếp với những kẻ “vô tín.” Vài phong trào quần chúng đi tới những cực đoan, bằng cách dẫn dắt những người theo chúng vào nơi hoang dă, để họ ổn định “mẫu mực sống” mới, mà không bị ngoại cảnh quấy rầy.

Sự khinh bỉ thế giới bên ngoài, dĩ nhiên, là sự bảo vệ hữu hiệu nhất chống lại sự bắt chước có tính gây chia rẽ. Tuy nhiên, một phong trào quần chúng năng động đánh giá cao sự thù ghét hơn [là] sự khinh bỉ thụ động; và sự thù ghét thường không bóp chết sự bắt chước, mà thúc đẩy nó [xem tiết 73]. Chỉ trong trường hợp của những tập thể chặt chẽ nhỏ – bị lọt vào giữa một đại dương gồm có những kẻ ngoại bang, và kiên quyết duy tŕ bản sắc của họ – th́ sự khinh bỉ mới được dùng như là một vật cách điện. Nó dẫn đến một sự độc quyền, vốn không hiếu khách đối với những “kẻ tân ṭng.”

__________

Exclusiveness.

 

Tính bắt chước của những thành viên của một nhóm hoàn toàn hợp nhất, ban cho nó sự mềm dẻo và khả năng thích nghi to lớn. Nó có thể thực hiện sự canh tân và thay đổi cái định hướng của nó với sự dễ dàng đáng ngạc nhiên. Công cuộc hiện đại hóa nhanh chóng của một nước Nhật đoàn kết hay Thỗ Nhĩ Kỳ đoàn kết, tương phản rơ nét với sự thích nghi chậm chạp và khó khăn với những lối sống mới tại Trung Quốc, Iran và những nước không được kích động bởi một tinh thần đoàn kết. Một nước Nga Sô-viết hợp nhất hóa triệt để, có một cơ hội tốt hơn để hấp thu những phương pháp mới và một lối sống mới, so với cái nước Nga liên hợp một cách lỏng lẻo của các Nga Hoàng. Thật hiển nhiên là, một dân tộc bán khai với một cơ cấu tổ chức tập thể c̣n nguyên vẹn, có thể dễ sẵn sàng hiện đại hóa, hơn là một dân tộc với một khuôn mẫu cộng đồng hay bộ tộc đang sụp đổ. (24)

 

SỰ THUYẾT PHỤC & SỰ CƯỠNG CHẾ.

83

Ngày nay, chúng ta có khuynh hướng phóng đại tính hữu hiệu của sự thuyết phục như là một phương tiện để “nhồi sọ” quần chúng và định h́nh hành vi của họ. Chúng ta cho rằng, sự sự tuyên truyền là một công cụ ghê gớm. Và rằng, những thành công thần kỳ của những phong trào quần chúng trong thời đại chúng ta, là do việc tuyên truyền khéo léo, và chúng ta đi tới chỗ sợ lời nói, cũng nhiều như sợ thanh gươm vậy.

Thực ra, những hiệu quả thần kỳ được gán cho sự tuyên truyền là không có cơ sở vững chắc. Nếu sự tuyên truyền, chỉ một ḿnh nó, là có hiệu lực được 1/10 như người ta cố chứng minh như vậy, th́ những chế độ toàn trị của Nga, Đức, Ư và Tây Ban Nha có lẽ đă là những vụ việc nhẹ nhàng. Chúng sẽ ồn ào và trơ trẽn, nhưng đă không có sự tàn nhẫn gớm ghiếc của cảnh sát mật vụ, những trại tập trung và những vụ tàn sát hàng loạt.

Sự thật dường như là, sự tuyên truyền, một ḿnh nó, không thể chen chân vào trong những đầu óc không sẵn sàng tiếp nhận; nó cũng không thể “nhồi vào sọ” dân chúng một cái ǵ hoàn toàn mới; nó cũng không thể giữ cho người ta bị thuyết phục, một khi họ đă thôi không c̣n tin nữa. Nó chỉ xuyên thấu vào trong những đầu óc vốn đă mở ra; và thay v́ cấy dần những quan niệm, nó tŕnh bày khúc chiết và biện minh những quan niệm vốn đă tiềm tàng trong đầu óc của những người tiếp nhận nó. Nhà tuyên truyền tài ba, là kẻ làm cho sôi lên những ư tưởng và sự cuồng nhiệt vốn đă âm ỉ trong đầu óc những thính giả của ông ta. Ông ta khơi dậy những cảm nhận sâu thẳm nhất của họ. Nơi nào mà những quan niệm không bị cưỡng chế, th́ người ta chỉ có thể bị “thuyết phục” để tin vào cái mà họ đă “biết.”

Sự tuyên truyền thuần túy thành công chủ yếu với kẻ phẫn chí. Những sợ hăi, những hy vọng và sự cuồng nhiệt phập phồng của họ tụ tập ở những cánh cửa giác quan họ và len vào giữa họ và thế giới bên ngoài. Họ không thể thấy ǵ ngoài những ǵ mà họ đă tưởng tượng, và trong những lời sôi nổi của nhà tuyên truyền, họ nghe lại âm thanh của chính linh hồn ḿnh. Đúng là, thật dễ cho kẻ phẫn chí “phát hiện” ra những cái mà mà họ đă tưởng tượng và nghe tiếng vọng của những suy tư của họ, trong những lời nói nước đôi sôi nổi và những điệp khúc âm vang, hơn là trong những lời chính xác kết hợp với logic hoàn hảo.

Sự tuyên truyền, dù khéo léo đến đâu, không thể giữ cho người ta bị thuyết phục, một khi họ đă thôi không c̣n tin tưởng nữa. Để duy tŕ chính nó, một phong trào quần chúng phải xếp đặt những sự-thể vào trong một trật tự, sao cho, khi người ta không c̣n tin nữa, th́ nó sẽ ép buộc họ phải tin, bằng bạo lực. (25)

Như chúng ta sẽ thấy về sau [tiết 104], lời nói là một công cụ cốt tủy trong việc chuẩn bị miếng đất cho những phong trào quần chúng. Nhưng một khi phong trào đă được h́nh thành vững chắc, th́ lời nói, mặc dù vẫn c̣n hữu ích, đă không c̣n đóng một vai tṛ quyết định. Một bậc thầy của tuyên truyền, Dr Goebels, trong một khoảnh khắc “hớ hênh,” đă công nhận rằng, “một thanh gươm bén phải luôn luôn đứng đằng sau sự tuyên truyền, nếu người ta muốn nó có hiệu lực” (26). Ông cũng có vẻ “giả lả” [apologetic] khi ông khẳng định rằng, “không thể phủ nhận rằng, nhiều cái có thể được làm với sự tuyên truyền tốt, so với khi không có sự tuyên truyền nào cả.”(27)

 

84

Trái với những ǵ mà người ta thường tin tưởng, sự tuyên truyền trở nên càng mạnh mẽ và thúc bách, khi nó hoạt động phối hợp với sự cưỡng bách, so với khi nó phải nương dựa duy nhất vào sự hữu hiệu của riêng nó.

Cả những kẻ “chuyển đổi” người khác, lẫn những kẻ bị chuyển đổi bằng sự cưỡng bức, đều cần cái xác tín mạnh mẽ rằng, cái đức tin mà họ áp đặt, hay bị cưỡng bách phải chấp nhận, là cái đức tin chân thực duy nhất. Nếu không có niềm xác tín này, th́ kẻ “cải đạo” – nếu y không hoàn toàn mất hết nhân tính – có thể cảm thấy ḿnh là một tội phạm, và kẻ tân ṭng bị cưỡng bách, [có thể thấy ḿnh] là một kẻ hèn nhát, đánh đĩ linh hồn ḿnh để sống.

Như thế, sự tuyên truyền là để tự biện minh cho chính ḿnh hơn là để thuyết phục những người khác;  và khi chúng ta càng có nhiều lư do để cảm thấy tội lỗi, th́ sự tuyên truyền của chúng ta lại càng mạnh mẽ hơn.

__________

Đây là một ư tưởng rất đáng suy ngẫm.

 

85

Rất có thể, cũng đúng rằng, sự bạo động nuôi dưỡng sự cuồng tín, cũng như, sự cuồng tín tạo ra sự bạo động. Thường khi, không thể nói cái nào đến trước. Cả những ai sử dụng bạo động, lẫn những ai phải nhận chịu nó, đều có thể phát triển một tâm thái cuồng tín. Ferrero nói về những tên khủng bố của Cách mạng Pháp rằng, họ càng làm đổ máu, th́ “họ càng cần phải tin vào những nguyên lư của họ như là những nguyên lư tuyệt đối. Chỉ cái tuyệt đối mới có thể vẫn c̣n xá tội cho họ trong mắt của chính họ, và nuôi dưỡng cái năng lượng tuyệt vọng của họ. Họ cho rằng, họ không làm đổ toàn bộ cái khối lượng máu đó, bởi v́ họ tin vào quyền tối thượng của nhân dân [popular sovereignty] như là một chân lư tôn giáo; và họ cố tin vào quyền tối thượng của nhân dân như là một chân lư tôn giáo, bởi v́ nỗi sợ hăi của họ khiến cho họ làm đổ quá nhiều máu như vậy” (28). Tín đồ đích thực thực hành việc khủng bố không chỉ để dọa nạt và bóp chết những đối thủ của y, mà c̣n để củng cố và tăng cường đức tin của riêng ḿnh. Mọi sự hành h́nh tại miền Nam của chúng ta không chỉ để dọa nạt người Da đen, mà c̣n để củng cố cái xác tín cuồng tín về sự tối cao của người da trắng.

Trong trường hợp những người bị cưỡng bức, th́ sự bạo động cũng có thể làm sản sinh ra sự cuồng tín. Có bằng chứng rằng, kẻ tân ṭng bị cưỡng bức, thường khi, cũng cuồng tín trong sự trung thành với đức tin mới như kẻ tân ṭng bị thuyết phục, và đôi khi, c̣n hơn thế nữa. Không phải bao giờ cũng đúng rằng, “Ai phục ṭng trái với ư chí của ḿnh, th́ quan niệm riêng của họ không thay đổi.” Hồi giáo áp đặt niềm tin của nó bằng bạo lực, thế mà những người Hồi giáo bị cưỡng bức lại biểu lộ một sự hiến thân cuồng nhiệt cho đức tin mới, thậm chí, c̣n cuồng nhiệt hơn đức tin của những người Ả Rập đầu tiên dấn thân vào phong trào. Theo Renan, th́ Hồi giáo thu được từ kẻ tân ṭng bị cưỡng bức của nó “một đức tin mà có khuynh hướng ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn” (29). Tính “chính thống” cuồng tín [fanatical orthodoxy] trong mọi phong trào, là một sự phát triển muộn. Nó đến khi phong trào đă sở hữu quyền lực trọn vẹn và có thể áp đặt đức tin của nó bằng bạo lực cũng như bằng thuyết phục.

Như thế, sự cưỡng bức, khi kiên định và dai dẳng, có một sức thuyết phục vô song, và điều này không chỉ đúng với những linh hồn mộc mạc, mà c̣n đúng với những ai tự hào về sức mạnh và sự liêm khiết của trí năng họ. Khi một sắc lệnh độc đoán từ Kremlin ép buộc những nhà khoa học, những nhà văn và những nhà nghệ sĩ phải chối bỏ những xác tín của họ và thú nhận những sai lầm của họ, th́ có thể là, những chối bỏ và thú tội như thế, biểu thị những “sự chuyển đổi” đích thực, hơn là sự đăi bôi trên miệng lưỡi. Cần có đức tin cuồng tín để “hợp lư hóa” [rationalize] sự hèn nhát của chúng ta.

 

86

Hầu như không có một thí dụ nào cho thấy rằng, một phong trào quần chúng có thể thành tựu những quy mô rộng lớn và một tổ chức lâu bền, chỉ bằng sự thuyết phục thuần túy. Giáo sư K. S. Latourette, một sử gia Ki-tô giáo, phải thừa nhận rằng, “bất luận tinh thần của Chúa Jesus và lực lượng vũ trang có bất tương thích ra sao, và bất luận có khó chịu ra sao khi phải công nhận sự kiện nói trên, th́, như sử sách thường ghi lại, cái sau thường tạo điều kiện cho cái trước sống c̣n” (30). Chính cái thanh gươm “thế tục,” là cái đă khiến cho Ki-tô giáo trở thành một tôn giáo thế giới. Sự chinh phục [xâm lược] và sự cải đạo nắm tay nhau bước đi – cái sau thường đóng vai tṛ của một biện minh và một công cụ cho cái trước. Khi Ki-tô giáo thất bại trong việc giành được hay hay lưu giữ sự ủng hộ của quyền lực quốc gia, th́ nó không có được một điểm tựa rộng lớn cũng như lâu dài. “Tại Ba Tư… Ki-tô giáo đối mặt với một quốc giáo được nuôi dưỡng bởi nhà vua, và không bao giờ trở thành đức tin của nhiều hơn một thiểu số” (31). Trong sự lan tràn đáng kinh ngạc của Hồi giáo, th́ sự chinh phục [quân sự] là một nhân tố hàng đầu và sự tân-ṭng chỉ là một phó sản. “Những giai đoạn phát đạt nhất của Hồi giáo, là những giai đoạn mà thế lực chính trị của nó lớn nhất; và chính là vào những giai đoạn đó, mà nó đă sát nhập thêm nhiều đất đai nhất từ bên ngoài (32). Phong trào Cải Cách chỉ thành công rực rỡ nơi nào mà nó giành được sự ủng hộ của vị quân vương cầm quyền hay của chính quyền địa phương. Melanchthon, vị khâm sai khôn ngoan nhất của Luther, nói: “ Nếu không có sự can thiệp của nhà chức trách dân sự, th́ những huấn lệnh của chúng tôi sẽ trở thành cái ǵ? – những luật lệ trên lư thuyết (33). Nơi nào mà, như ở Pháp, chính quyền nhà nước chống lại nó, th́ nó bị ch́m trong máu và không bao giờ nổi lên được nữa. Trong trường hợp Cách mạng Pháp, th́ chính những đội quân của Cách mạng đă xuyên thấu qua suốt châu Âu, chứ không phải là những ư tưởng của nó (34). Không hề có sự “lây lan trí thức.” Dumouries nói rằng, người Pháp công bố luật lệ thiêng liêng của nó về tự do “hệt như người Hồi giáo rao giảng kinh Koran, với thanh gươm trong tay” (35). Mối đe dọa của chủ nghĩa Cộng sản hiện tại không đến từ sự tuyên truyền mạnh mẽ của nó, mà đến từ sự kiện rằng, nó được hậu thuẫn bởi một trong những đội quân hùng mạnh nhất trên trái đất.

Dường như nơi nào mà một phong trào quần chúng có thể thuyết phục hoặc cưỡng bức, th́ nó thường chọn cái sau. Sự thuyết phục th́ khó khăn và những kết quả của nó th́ bấp bênh. St Dominic người Tây Ban Nha, nói với những người Albigenses “tà đạo”: “Trong nhiều năm, tôi đă hoài công động viên các người, với sự nhẹ nhàng, sự rao giảng, cầu nguyện và khóc lóc. Nhưng theo câu tục ngữ của đất nước tôi : ‘nơi nào mà lời nguyện cầu không thể gặt hái được cái ǵ, th́ những trận đ̣n có thể là hữu ích.’ Chúng tôi sẽ nổi dậy chống lại các người, những quân vương và những giám mục, những kẻ mà, than ôi, sẽ trang bị vũ khí cho những dân tộc và những vương quốc chống lại vùng đất này… và như thế, những trận đ̣n sẽ hữu ích, nơi mà những lời cầu nguyện và sự dịu dàng đă bất lực.” (36)

 

87

Sự khẳng định rằng, một phong trào quần chúng không thể bị dập tắt bằng bạo lực, là không đúng một cách tuyệt đối. Bạo lực có thể dập tắt và bóp chết ngay cả phong trào mạnh mẽ nhất. Nhưng để làm như thế, th́ bạo lực phải tàn nhẫn và dai dẳng. Và đây là nơi mà đức tin bước vào như là một yếu tố không thể thiếu. Bởi v́ một sự bức hại tàn nhẫn và dai dẳng, chỉ có thể đến từ niềm xác tín cuồng tín. “Bất cứ sự bạo động nào mà không khởi-phát từ một cơ sở tinh thần vững chắc, sẽ bị lung lay và bấp bênh. Nó thiếu sự ổn định mà chỉ có thể dựa trên một nhân sinh quan cuồng tín” (37). Sự khủng bố nào mà phát xuất từ sự tàn nhẫn cá nhân, sẽ không đi đủ xa, cũng không kéo dài đủ lâu. Nó không ổn định, bởi v́ nó tùy thuộc vào những trạng thái tâm lư bốc đồng và những lưỡng lự. “Nhưng ngay khi bạo lực lung lay, và luân phiên với với sự nhẫn nhịn, th́ cái học thuyết cần phải bị trấn áp sẽ hồi sinh một cách lặp đi lặp lại, và nó sẽ ở trong một vị thế thuận lợi : cứ mỗi lần bị bức hại, nó lại càng được củng cố”(38). Chỉ duy sự khủng bố “thánh thiện”  mới không biết giới hạn nào, và cũng không bao giờ suy yếu.

__________

The holy terror: Sự khủng bố nhân danh một lư tưởng “thánh thiện”, như tổ chức IS hiện nay của những phần Hồi giáo cực đoan.


Như thế, có vẻ như, chúng ta cần đức tin mănh liệt, không những để có thể kháng cự lại sự cưỡng bức, (39) mà c̣n để có thể thực hành nó [sự cưỡng bức] một cách hữu hiệu.

 

88

Cái xung lực muốn “cải đạo” [proselytise] đến từ đâu?

Cường độ của xác tín không phải là yếu tố chính thúc đẩy một phong trào phổ biến đức tin của nó ra bốn góc của trái đất; “những tôn giáo nào mà có năng lực khơi gợi một đức tin có cường độ xác tín lớn, thường tự giới hạn vào việc khinh bỉ, hủy diệt, hay ít nhất, thương hại những ǵ không phải là chính chúng” (40). Cái xung lực muốn “cải đạo” cũng không phải là một biểu hiện của một sự dồi dào của sức mạnh mà, như Bacon nói, “giống như một cơn lũ lớn, mà chắc chắn sẽ tràn bờ” (41). Đúng hơn, sự cuồng tín của kẻ “truyền đạo” dường như là một biểu hiện của sự bối rối sâu xa, một cảm nhận bức xúc về sự bất cập tại trung tâm. Sự “truyền đạo” là một sự t́m kiếm cuồng nhiệt một cái ǵ đó chưa được t́m thấy, hơn là một ước muốn ban cho thế giới một cái ǵ đó mà chúng ta đă có. Nó t́m kiếm một sự chứng minh sau cùng và không thể bác bỏ rằng, chân lư tuyệt đối của chúng ta, quả thực, là chân lư độc nhất. Kẻ cuồng tín đang “truyền đạo,” củng cố đức tin của chính ḿnh bằng cách “cải đạo” những người khác. Cái tín điều mà sự chính đáng của nó dễ dàng bị thách thức nhất, th́ có khả năng phát triển cái xung lực muốn “truyền đạo” mạnh mẽ nhất. Thật đáng ngờ, liệu một phong trào mà không tuyên xưng một giáo điều vốn phi lư tính và vô lư một cách hiển nhiên, lại có thể sở hữu cái lực đẩy cuồng tín, mà “hoặc phải thu phục quần chúng, hoặc phải hủy diệt thế giới.” Cũng có thể đúng rằng, những phong trào với sự mâu thuẫn nội tại lớn nhất giữa đức tin và sự thực hành – nghĩa là, với một cảm nhận mạnh mẽ về tội lỗi – th́ có khả năng là những phong trào đó sẽ hăng hái nhất trong việc áp đặt đức tin của chúng lên những người khác. Chủ nghĩa cộng sản càng tỏ ra bất khả thi tại Nga – và những lănh tụ của nó càng bị bắt buộc phải “gia giảm” và “pha trộn” cái tín điều nguyên thủy – th́ sự tấn công của họ vào kẻ thù càng trơ trẽn và ngạo mạn. Những chủ nô của miền Nam trở nên càng gây hấn trong việc quảng bá lối sống của họ, th́ càng trở nên hiển nhiên rằng, cái vị thế của họ càng bấp bênh trong một thế giới hiện đại. Nếu xí nghiệp tự do [free enterprise] trở thành một “sự nghiệp thần thánh” mà nó đang muốn rao giảng, th́ đó sẽ là một dấu hiệu rằng, cái tính khả-thi và những thuận lợi của nó đă thôi không c̣n hiển nhiên nữa.

Sự cuồng nhiệt muốn “cải đạo” và sự cuồng nhiệt muốn thống trị thế giới, cả hai đều là những triệu chứng của sự thiếu sót trầm trọng tại trung tâm. Rất có thể đúng là – bất luận họ là một nhóm tông đồ hay conquistador,  hay một nhóm những kẻ tỵ nạn, đang lên đường tới một vùng đất xa xôi – họ đều muốn trốn thoát một t́nh huống mà họ không thể chịu được tại quê hương ḿnh. Và quả thực, ba loại người này thường xuyên gặp gỡ, ḥa trộn và hoán đổi những bộ phận của chúng cho nhau.

__________

Conquistadors: Những người Tây Ban Nha đi chinh phục Mexico và Peru vào thế kỷ 16.

 

SỰ LĂNH ĐẠO

89

Vai tṛ của lănh tụ trong sự nổi lên của một phong trào quần chúng, bất luận chúng ta nghĩ là nó thiết yếu ra sao, th́, không nghi ngờ ǵ, vị lănh tụ không thể tạo ra những điều kiện để làm nổi lên một phong trào quần chúng. Ông ta không thể “úm ba la” một phong trào từ khoảng chân không. Phải có một sự háo hức muốn đi theo và tuân phục, và một sự bất măn mănh liệt với những sự-thể như chúng là, trước khi một phong trào và một vị lănh tụ có thể xuất hiện. Khi những điều kiện chưa chín muồi, th́ vị lănh tụ tiềm năng – bất luận ông tài ba ra sao, và bất luận cái “sự nghiệp thần thánh” của ông có hùng mạnh ra sao – ông vẫn không có những người ủng hộ. Thế chiến I và cái hậu quả của nó đă chuẩn bị miếng đất cho những phong trào Bolshevik, Phát-xít, và Đức Quốc Xă. Nếu cuộc chiến tranh đă được ngăn chặn và hoăn lại 1 hay 2 thập niên, th́ số phận của Lenin, Mussolini và Hitler có lẽ đă khác với số phận của những “mưu sĩ” [plotters] và những kẻ sách động lỗi lạc của thế kỷ 19 – những người trong nhóm sau đă không bao giờ thành công trong việc làm chín muồi cái sự hỗn loạn và những khủng hoảng thường xuyên của thời đại họ, và biến chúng thành những phong trào quần chúng đúng kích thước. Họ bị thiếu một cái ǵ đó. Quần chúng châu Âu – măi cho đến khi xảy ra những biến cố chấn động của Thế chiến I – đă không hoàn toàn tuyệt vọng về hiện tại, và do vậy, không sẵn ḷng hy sinh nó cho một cuộc sống mới và một thế giới mới. Ngay cả những lănh tụ dân tộc chủ nghĩa, mặc dù họ có điều kiện tốt hơn những nhà cách mạng, cũng không thành công trong việc biến chủ nghĩa dân tộc thành một “sự nghiệp thần thánh” phổ biến, mà kể từ đó,  nó đă trở thành. Chủ nghĩa dân tộc hiếu chiến và chủ nghĩa cách mạng hiếu chiến có vẻ như xảy ra đồng thời với nhau.

__________

“Kể từ đó,” trong ngữ cảnh này, có nghĩa là “kể từ khi xảy ra những biến cố chấn động của Thế chiến I.”


Tại nước Anh, nữa, vị lănh tụ phải đợi cho thời cơ chín muồi trước khi ông ta có thể đóng vai tṛ của ḿnh. Trong những năm 1930, th́ vị lănh tụ tiềm năng [Churchill] đă nổi bật trong mắt dân chúng và công bố quan điểm của ḿnh, ngày lại ngày. Nhưng cái ư chí muốn đi theo không có ở đó. Chỉ khi thảm họa lay động đất nước này cho đến tận nền móng của nó – và làm cho những cuộc sống cá nhân tự-trị trở thành trống rỗng và vô nghĩa – th́ vị lănh tụ mới được công nhận.

Có một giai đoạn chờ đợi nơi cánh gà – thường là một giai đoạn dài – cho mọi vị lănh tụ có tầm cỡ, mà đối với chúng ta, th́ dường như sự xuất hiện của họ trên hiện trường là một thời điểm hệ trọng trong quá tŕnh diễn biến của một phong trào quần chúng. Những biến cố bất ngờ và những hoạt động của những con người khác, phải dựng sân khấu cho họ, trước khi họ có thể bước vào và khởi-sự màn tŕnh diễn của họ. “Kẻ chỉ huy trong một ngày trọng yếu, dường như là cái ‘diễn biến bất ngờ’ cuối cùng trong một chuỗi biến cố.” (42)

 

90

Một khi sân khấu đă được dựng lên, th́ sự có mặt của một lănh tụ là không thể thiếu. Không có ông ta, sẽ không có phong trào nào cả. Sự chín muồi của thời cơ, không tự động tạo ra một phong trào quần chúng; những cuộc bầu cử, những luật lệ, và một đơn vị hành chính, cũng không sản sinh ra một phong trào quần chúng. Chính Lenin là người thúc ép ḍng chảy của những biến cố vào trong những kênh của cách mạng Bolshevik. Nếu ông ta chết tại Thụy sĩ, hay đang trên đường tới Nga vào năm 1917, th́ hầu như chắc chắn rằng, những người Bolshevik xuất chúng khác có lẽ đă tham gia một chính phủ liên hiệp. Kết quả có thể là một nước cộng ḥa ít hay nhiều được điều hành bởi giai cấp tư sản. Trong trường hợp của Mussolini và Hitler, th́ cái bằng chứng lại càng có tính quyết định hơn: không có họ, sẽ không có một phong trào Phát-xít, cũng không có phong trào Quốc Xă.

__________

Admimistrative bureau.

 

Những biến cố tại Anh vào khoảnh khắc này, cũng chứng minh rằng, không thể thiếu một vị lănh tụ tài ba cho sự kết tinh của một phong trào quần chúng. Giá như có một lănh tụ đích thực [như Churchill, thuộc Đảng Xă hội] đứng đầu chính phủ Lao động, th́ có lẽ ông ta đă phát động những cải cách mạnh mẽ của việc quốc hữu hóa trong bầu khí của một phong trào quần chúng, chứ không phải trong cái sự đơn điệu buồn tẻ và khắc khổ của Đảng Xă hội. Có lẽ, ông ta đă ném người công nhân Anh vào vai tṛ của một kẻ sản xuất anh hùng và [trong vai tṛ của] một kẻ tiên phong trong chủ nghĩa công nghiệp [industrialism] thực sự khoa học. Có lẽ ông ta đă làm cho người Anh cảm thấy rằng, nhiệm vụ chính của họ, là chứng minh cho toàn thế giới – và nhất là Hoa Kỳ và Nga – thấy là một dân tộc văn minh có thể làm được cái ǵ với những phương pháp sản xuất hiện đại, khi thoát khỏi sự hỗn độn, sự lăng phí và sự tham lam của sự quản lư tư bản chủ nghĩa, cũng như của chủ nghĩa Byzantine,• sự man dă và ngu dốt của một chế độ quan liêu [hệ thống hành chính] Bolshevik. Có lẽ ông ta sẽ biết cách tiêm vào nhân dân Anh một niềm tự hào và hy vọng tương tự, vốn nuôi dưỡng họ trong những giờ phút đen tối nhất của chiến tranh.

__________

Byzantinism: Học thuyết chủ trương rằng, nhà nước là tối cao, ở trên giáo hội trong những vấn đề thuộc về giáo hội.

 

Cần có ư chí sắt đá, sự gan dạ và tầm nh́n của một vị lănh tụ xuất chúng để điều phối và huy động những thái độ và xung lực đang hiện hữu, biến chúng thành động lực tập thể của một phong trào quần chúng. Vị lănh tụ là hiện thân của sự chắc chắn của tín điều, sự thách thức và sự uy nghiêm của sức mạnh. Ông biểu đạt khúc chiết và biện minh cho sự phẫn hận, vốn bị giam hăm trong linh hồn của kẻ phẫn chí. Ông thắp lên viễn ảnh về một tương lai xán lạn, đầy phấn khởi để biện minh cho sự hy sinh cái hiện tại tạm thời. Ông dàn dựng thế giới của sự giả vờ, quá cần thiết cho việc thực hiện sự hy sinh và hành động hợp quần. Ông khơi dậy ḷng nhiệt huyết của sự hội thông – cảm thức về sự giải phóng khỏi một hiện hữu cá nhân nhỏ bé và vô nghĩa.

Đâu là những tài năng cần có cho một màn tŕnh diễn như thế?

Trí thông minh phi thường, tính cách cao thượng và sự độc đáo, có vẻ như không thiết yếu, và có lẽ, cũng không đáng ao ước. Những điều kiện bắt buộc dường như là: sự gan dạ, và một niềm vui trong sự thách đố; một ư chí sắt đá; một xác tín cuồng tín rằng, ông ta sở hữu chân lư, chân lư duy nhất; đức tin vào số phận và vận may của ông ta; một năng lực cho sự thù ghét cuồng nhiệt; một sự lượng giá khôn khéo về bản chất con người; một sự khinh bỉ đối với hiện tại; một sự ưa thích những biểu tượng [những cảnh tượng và những nghi lễ]; sự trơ tráo vô giới hạn vốn t́m thấy sự biểu đạt trong việc xem thường sự nhất quán và sự công bằng [fairness]; một sự công nhận rằng, niềm khao khát sâu thẳm nhất của những người đi theo phong trào, là sự khao khát được hội thông, mà họ khó ḷng có được; một năng lực cho việc giành được và nắm giữ sự trung thành tối đa của một nhóm những trợ lư có năng lực. Cái năng lực sau cùng, là quan năng cốt yếu và hiếm hoi nhất. Cái sức mạnh bí ẩn, thần kỳ của một lănh tụ không chỉ nằm ở năng lực thu hút quần chúng, mà c̣n ở năng lực thống trị và hầu như mê-hoặc một nhóm người có năng lực. Những người này phải tự hào, thông minh, không sợ hăi, và có năng lực tổ chức và điều hành những công tŕnh có quy mô lớn, và thế nhưng, họ phải tuân phục hoàn toàn ư chí của vị lănh tụ, lấy cảm hứng và động lực của họ từ ông ta, và t́m thấy sự vinh quang trong sự tuân phục này.

__________

Nguyên tác: “... unbounded brazennness which finds expression in a disregard of consistency and fairness;”


Tất cả những phẩm chất được liệt kê ở trên, chúng không cốt yếu một cách ngang nhau. Dường như phẩm chất quyết định nhất cho sự hữu hiệu của một phong trào quần chúng là : sự gan dạ, đức tin cuồng tín vào một “sự nghiệp thần thánh,” một sự nhận biết về tầm quan trọng của một tập thể chặt chẽ, và, trên hết, khả năng khơi dậy sự tận tụy nhiệt thành trong một nhóm những trợ lư có năng lực. Sự thất bại của Trotsky với tư cách là một lănh tụ, là do sự xao lăng, hay rất có thể, do sự thiếu năng lực trong việc tạo ra một bộ máy bao gồm những trợ lư có năng lực và trung thành. Ông không lôi cuốn được sự đồng cảm cá nhân, hoặc nếu có, không thể duy tŕ chúng. (43). Một khuyết điểm nữa, là sự kính trọng không thể nhổ rễ của ông đối với cá nhân, nhất là cá nhân sáng tạo. Ông không xác tín về tội lỗi và sự vô ích của một hiện hữu cá nhân tự-trị; và ông cũng không nắm được tầm quan trọng áp đảo của sự hội thông đối với một phong trào quần chúng. Tôn Dật Tiên “lôi cuốn đến với ông ta… một số lượng phi thường những kẻ đi theo có năng lực và trung thành, kích thích óc tưởng tượng của họ về viễn ảnh của một nước Trung Hoa mới, và khuyến dụ sự trung thành và sự hy sinh quên ḿnh” (44). Không giống ông ta, Tưởng Giới Thạch có vẻ như thiếu mọi phẩm tính cốt yếu của một lănh tụ phong trào quần chúng. Các lănh tụ của những đảng Cộng sản bên ngoài nước Nga – do sự lệ thuộc vào Stalin và Bộ Chính Trị – không thể đạt tới cái tầm vóc của những lănh tụ đích thực. Họ cứ vẫn là những trợ lư đắc lực. Hiện tại, để cho chủ nghĩa Cộng sản trở thành một phong trào quần chúng hữu hiệu tại bất cứ nước phương Tây nào, th́ một trong hai cái tương phản nhau phải xuất hiện. Hoặc là, cái nhân cách của Stalin phải được làm cho quá “sờ mó được” và trực tiếp, đến nỗi nó có thể đóng vai tṛ của một chất xúc tác, hoặc là đảng Cộng sản địa phương phải được cắt ĺa khỏi nước Nga, và, theo cách của Tito, phô trương sự thách thức của nó chống lại cả chủ nghĩa tư bản lẫn chủ nghĩa Stalin. Nếu Lenin đă là đặc phái viên [emissary] của một lănh tụ và một bộ chính trị đang ngồi tại một vùng đất ở nước ngoài, th́ thật đáng ngờ rằng, liệu ông có vận dụng được cái ảnh hưởng định mệnh của ông trên sự diễn biến của những biến cố tại Nga.

 

91

Những ư kiến thô thiển – được đề xướng bởi nhiều trong số những lănh tụ thành công của những phong trào quần chúng của thời đại chúng ta – khiến người ta có khuynh hướng cho rằng, một sự thô lỗ và non nớt về trí óc, là một “bửu bối” [asset] của nghệ thuật lănh đạo. Tuy nhiên, không phải sự thô lỗ trí thức của một Aimee Mcpherson hay một Hitler, là cái đă thu phục và thu hút những kẻ đi theo, mà chính niềm tự tin không giới hạn, là cái đă thúc đẩy những lănh tụ này “thả lỏng dây cương” cho những ư kiến điên rồ, ngớ ngẩn của họ. Một vị lănh tụ khôn ngoan thực sự, dám thực hiện đến cùng sự khôn ngoan của ông, sẽ có một cơ may thành công tương tự. Dường như phẩm chất của những ư kiến đóng một vai tṛ thứ yếu trong sự lănh đạo của một phong trào quần chúng. Cái quan trọng là : cử chỉ ngạo mạn, sự xem thường triệt để đối với quan niệm của những người khác, sự thách thức thế giới một cách đơn thương độc mă.

Sự bịp bợm, thủ đoạn, ở mức độ nào đó, là không thể thiếu cho sự lănh đạo hữu hiệu. Không thể có phong trào quần chúng nào, nếu không có sự cố ư thuyết minh sai lạc những sự kiện. Không có lợi ích bền vững, “sờ mó được” nào có thể thu hút một khối quần chúng đi theo và làm cho nó cuồng nhiệt và trung thành cho đến chết. Vị lănh tụ phải thực tế và là một “nhà duy thực” [a realist], thế nhưng, ông phải nói ngôn ngữ của “kẻ viễn tưởng” và “kẻ lư tưởng chủ nghĩa.”

__________

Nguyên tác: “Charlatanism of some degeee is indispensable to effective leadership.” Đây là ư tưởng rất đáng suy ngẫm.

 

Để lănh đạo một phong trào quần chúng lớn, th́ sự độc đáo [originality] của vị lănh tụ không phải là là điều kiện tiên quyết. Một trong những nét nổi bật nhất của vị lănh tụ một phong trào quần chúng lớn, là sự sẵn sàng của ông ta trong việc bắt chước cả bạn lẫn thù, cả những h́nh mẫu quá khứ lẫn đương đại. Cái sự gan dạ vốn cốt yếu cho loại lănh tụ này, nằm ở sự gan dạ trong việc bắt chước, cũng như thách thức thế giới. Có lẽ, cái manh mối [clue] của bất cứ sự nghiệp anh hùng nào, là một năng lực vô giới hạn cho sự bắt chước; một sự chuyên tâm trong việc sao chép một h́nh mẫu. Cái năng lực thái quá cho sự bắt chước này chỉ định rằng, vị anh hùng không có một bản ngă được phát triển và hiện thực hóa đầy đủ.• Có nhiều cái trong ông ta vẫn c̣n “sơ đẳng” [rudimentary] và bị đè nén. Sức mạnh của ông ta nằm trong những “điểm mù” [blind spots] của ông ta và trong việc bịt lại mọi lối thoát, trừ ra một lối thoát.

_________

Nguyên tác: “This excessive capacity for imitation indicates that the hero is without a fully developed and realized self”.

 

92

Sự từ bỏ toàn bộ một cái bản ngă riêng biệt [distinct], là điều kiện tiên quyết cho việc đạt tới cả sự hợp nhất lẫn sự hy sinh; và rất có thể, không có cách nào để trực tiếp thực hiện cái sự từ bỏ này, hơn là bằng cách “nhồi sọ” và tán dương thói quen tuân phục mù quáng. Khi Stalin cưỡng bức những nhà khoa học, những nhà văn và những nghệ sĩ ḅ lết trên bụng họ và chối bỏ sự thông minh cá nhân của họ, cảm thức về cái đẹp của họ, và ư thức đạo đức của họ, th́ ông không đang thỏa măn một xung lực sa-đích,• mà đang tôn vinh, trong một cách ấn tượng nhất, cái đức hạnh tối cao của sự tuân phục mù quáng. Mọi phong trào quần chúng đều xếp hạng sự tuân phục ngang với những đức hạnh cao nhất và đặt nó lên một tầm cao ngang với đức tin: “sự hợp nhất của những tâm trí đ̣i hỏi không những một sự ḥa hợp với một Đức Tin duy nhất, mà c̣n [đ̣i hỏi] sự tuân phục và vâng lời Giáo Hội và vị Giáo Hoàng La Mă – một sự tuân phục trọn vẹn của ư chí, giống như sự tuân phục đối với chính Thượng đế” (45). Sự tuân phục không những là luật đầu tiên của Thượng đế, mà c̣n là nguyên tắc [giáo điều] đầu tiên của một đảng cách mạng và của chủ nghĩa dân tộc cuồng tín. Việc “đừng lư luận tại sao,” được mọi phong trào quần chúng xem như là một dấu hiệu của một tinh thần mạnh mẽ và nồng nhiệt.

__________

• Sadistic impulse: xung lực sa-đích; xung lực bạo dâm.

 

Sự hỗn loạn, sự lưu huyết, và sự hủy diệt – vốn là dấu vết của một phong trào quần chúng đang nổi lên – dẫn chúng ta đến chỗ nghĩ rằng, những kẻ đi theo phong trào, trong bản chất, là những kẻ gây ầm ĩ mất trật tự và coi thường luật pháp. Thực ra, sự hung bạo hàng loạt không luôn luôn là tổng số của sự vô luật pháp của cá nhân. Sự hung hăn cá nhân chiến đấu chống lại hành động hợp quần. Nó thúc đẩy cá nhân chiến đấu cho chính ḿnh. Nó sản sinh ra kẻ tiên phong, kẻ phiêu lưu và tên lục lâm thảo khấu [bandit]. Tín đồ đích thực – bất luận những hành vi của anh ta có ồn ào và bạo động đến đâu – về cơ bản, là một cá nhân dễ bảo và tuân phục. Những kẻ tân ṭng Ki-tô giáo – vốn dàn dựng những cuộc cướp phá chống lại Đại học Alexandria và hành h́nh những vị giáo sư bị nghi là phi-chính thống – là những thành viên dễ bảo của một giáo hội chặt chẽ. Kẻ gây rối Cộng sản, là một thành viên khúm núm của một đảng. Cả những kẻ gây rối Nhật lẫn Quốc Xă, là những người có kỷ luật nhất mà thế giới từng thấy. Tại đất nước này, người chủ Mỹ thường thấy rằng, kẻ cuồng tín về sắc tộc của miền Nam chúng ta – có khuynh hướng tham gia các cuộc bạo động quần chúng – là một công nhân nhà máy khả kính và dễ bảo. Quân đội, nữa, thấy anh ta là một kẻ hết sức sẵn sàng phục tùng kỷ luật.

 

93

Dường như những người có cuộc sống cằn cỗi và bất an, đều biểu lộ một sự sẵn ḷng tuân phục lớn hơn, so với những người tự-túc  và tự tin. Đối với kẻ phẫn chí, th́ tự do thoát khỏi trách nhiệm hấp dẫn hơn là tự do thoát khỏi sự tù túng. Họ háo hức cho đi sự độc lập của ḿnh, để đổi lấy sự nhẹ nhơm : được trút bỏ những gánh nặng của việc ước muốn, quyết định và chịu trách nhiệm về một tương lai không thể tránh. Họ sẵn sàng nhường việc lèo lái đời ḿnh cho những ai muốn hoạch định, ra lệnh và gánh vác toàn bộ trách nhiệm. Vả lại, sự tuân phục một lănh tụ tối cao, là một lối đi tới cái lư tưởng [về sự] b́nh đẳng của họ.

__________

Self-sufficient: Tự túc; độc lập, không phụ thuộc vào những ảnh hưởng ngoại tại.

 

Trong thời kỳ khủng hoảng, trong những cơn lụt, động đất, dịch bệnh, suy thoái kinh tế và chiến tranh, th́ nỗ lực cá nhân riêng rẽ đều không có hiệu quả, và những người thuộc mọi hoàn cảnh, đều sẵn sàng tuân phục và đi theo một lănh tụ. Tuân phục, lúc ấy, là cái điểm vững chắc trong một hiện hữu hỗn độn của đời sống thường nhật.

 

94

Kẻ phẫn chí cũng rất có thể là “môn đệ” trung kiên nhất. Thật đáng chú ư rằng, trong một nỗ lực có tính hợp tác, th́ kẻ ít tự tin nhất, là kẻ ít bị nản ḷng nhất bởi thất bại. Bởi v́ họ liên kết với những người khác trong một dự án chung, chủ yếu không phải để bảo đảm sự thành công của một dự án mà họ hằng ấp ủ, nhưng để tránh việc phải gánh vác trách nhiệm cá nhân trong trường hợp thất bại. Khi cái dự án chung thất bại, th́ họ vẫn được “miễn trừ” một điều mà họ sợ nhất, cụ thể là, phô bày những khuyết điểm cá nhân của họ. Đức tin của họ vẫn nguyên vẹn, không bị hề hấn ǵ, và họ lại háo hức đi theo trong một nỗ lực mới.

Những kẻ phẫn chí đi theo lănh tụ, chủ yếu không phải do niềm tin của họ, rằng ông ta đang dắt họ đến một vùng đất hứa, mà bởi v́ cái cảm nhận trực tiếp của họ, rằng ông ta đang dẫn họ ra khỏi cái bản ngă vô dụng của họ. Sự tuân phục một lănh tụ không phải là một phương tiện cho một cứu cánh, mà là một thành tựu. Họ được dẫn đi đâu, cái đó không quan trọng ǵ cho lắm.

 

95

Rất có thể, có một khác biệt hệ trọng giữa một lănh tụ của phong trào quần chúng và một lănh tụ trong một xă hội tự do. Trong một xă hội ít nhiều tự do, th́ vị lănh tụ có thể duy tŕ sự thu hút của ông ta đối với quần chúng, chỉ khi nào ông ta có đức tin mù quáng vào sự khôn ngoan và sự tốt lành của họ. Nếu một lănh tụ hạng hai sở hữu đức tin này, th́ ông ta sẽ tồn tại lâu hơn vị lănh tụ hạng nhất mà không có nó. Điều này có nghĩa rằng, trong một xă hội tự do, th́ vị lănh tụ đi theo dân chúng, ngay cả khi ông dẫn dắt họ. Như ai đó nói, ông ta phải phát hiện ra, là dân chúng đang đi đâu, để mà ông có thể dẫn dắt họ. Khi vị lănh tụ trong một xă hội tự do trở nên khinh bỉ dân chúng, th́ không sớm th́ muộn, ông hành động theo cái lư thuyết sai lầm và chết người rằng, mọi con người đều là những đứa ngốc, và sau cùng, thất bại v́ cái sai lầm đó. Nơi nào mà vị lănh tụ có thể sử dụng sự cưỡng bức tàn nhẫn, th́ mọi sự sẽ khác đi. Nơi nào mà – như trong một phong trào quần chúng năng động – vị lănh tụ có thể cưỡng bức một sự tuân phục mù quáng, th́ ông ta có thể hoạt động theo cái lư thuyết “có hiệu lực” [sound] rằng, mọi con người đều là những kẻ hèn nhát, đối xử với họ theo cái lư thuyết đó, và gặt hái những kết quả.

Một trong những lư do tại sao những lănh tụ Cộng sản th́ đang thất bại trong những công đoàn của chúng ta,  là bởi v́, bằng cách đi theo đường lối và áp dụng những sách lược của đảng, họ đang có thái độ và sử dụng những sách lược của vị lănh tụ phong trào quần chúng trong một tổ chức được cấu thành bởi những con người tự do.

__________

“Của chúng ta,” trong ngữ cảnh này, là của Hoa Kỳ.

 

HÀNH ĐỘNG

96

Hành động là một tác nhân tạo ra sự đoàn kết. Có ít sự độc đáo cá nhân [individual distinctness] trong con-người-hành-động đích thực – người thợ xây, binh sĩ, nhà thể thao, và ngay cả nhà khoa học – so với trong nhà tư tưởng, hay trong một người mà tính sáng tạo của anh ta tuôn chảy từ sự hội thông với bản ngă. “Kẻ dám nghĩ dám làm” ưa gây hấn [go-gettter] và “kẻ bon chen” [hustler], thường không có bản sắc riêng của y. Người ta không bao giờ thực sự dấn thân vào hành động hợp quần, trừ phi người ta được lột bỏ khỏi một cái bản ngă riêng biệt và sai biệt. Như thế, một dân tộc năng động có khuynh hướng ngả về phía sự “đồng phục.” Thật đáng ngờ, liệu nếu không có hành động quy mô lớn có dính líu đến cuộc chinh phục một lục địa, th́ dân tộc chúng ta – bao gồm những kẻ di dân – đă có thể đạt tới cái sự thuần-nhất đáng kinh ngạc của nó, trong một thời gian quá ngắn như thế. Những ai [mà] đến đất nước này để hành động [để làm tiền], đều Mỹ-hóa một cách nhanh chóng và triệt để, so với những ai [mà] đến để thành tựu một lư tưởng cao cả nào đó. Loại người trước, cảm nhận một mối liên hệ họ hàng gần gũi với hàng triệu người đắm ḿnh trong một sự theo đuổi như nhau. Như thể là, họ đang gia nhập một giáo-đoàn. Họ nhận ra, một cách sớm sủa, rằng, để thành công, họ phải ḥa trộn với đồng bào của họ, làm như những người khác làm, học thổ ngữ của họ, và chơi tṛ chơi. Vả lại, cuộc xông lên điên cuồng mà trong đó họ tham gia, ngăn cản, không cho họ bộc lộ cái bản chất [being] của họ, đến nỗi mà, nếu không có một cá tính riêng biệt, th́ họ không thể – cho dẫu họ có khuynh hướng như thế – kháng cự một cách hữu hiệu chống lại ảnh hưởng của môi trường mới của ḿnh (46). Trái lại, những ai đến đất nước này để thực hiện một lư tưởng [tự do, công b́nh, b́nh đẳng], thường dùng cái lư tưởng của họ làm chuẩn mực để đo lường những thực tại của vùng đất mới, và thấy chúng chưa đáp ứng được cái lư tưởng đó. Họ cảm thấy tự tôn, và tất yếu tự cách ly để chống lại môi trường mới.

 

97

Những con-người-của-tư-tưởng hiếm khi làm việc ḥa hợp cùng nhau, trong khi đó, giữa những con-người-của-hành-động, thường dễ dàng có t́nh đồng chí. Sự làm việc theo nhóm th́ hiếm hoi trong những công tŕnh trí thức hay nghệ thuật, nhưng phổ biến và hầu như không thể thiếu giữa những con-người-của-hành-động. Lời hô hào: “Nào, chúng ta hăy đi xây một thành phố, và một cái tháp” (47) – luôn luôn là một lời kêu gọi người ta hợp lực để hành động. Một bộ trưởng bộ công nghiệp Cộng sản, có thể có nhiều cái chung với một kỹ nghệ gia tư bản chủ nghĩa, hơn là với một lư thuyết gia Cộng sản.

 

98

Mọi phong trào quần chúng đều sử dụng hành động như là một phương tiện của sự hợp nhất. Những xung đột – mà một phong trào quần chúng t́m kiếm và xúi giục – được dùng không chỉ để đánh ngă những kẻ thù của nó, mà c̣n để lột bỏ những người theo nó khỏi cá tính riêng biệt của họ, và làm cho họ dễ ḥa tan trong cái môi trường tập thể. Việc khai hoang đất, xây những thành phố, thám hiểm và những công tŕnh công nghiệp quy mô lớn, phục vụ một mục đích tương tự. Ngay cả việc chỉ diễu hành mà thôi, cũng có vai tṛ như là một tác nhân của sự hợp nhất. Những đảng viên Quốc Xă tận dụng cái chiêu thức “điên rồ” này. Ban đầu, Hermann Rauschning nghĩ rằng, sự diễu hành bất tận là một sự lăng phí vô nghĩa về thời gian và năng lượng; nhưng về sau, ông công nhận hiệu quả sâu sắc của nó. “Sự diễu hành làm xao lăng những ư tưởng của con người. Sự diễu hành giết chết những ư tưởng. Sự diễu hành kết liễu tính cá nhân.” (48)

Sự kêu gọi hành động của một phong trào quần chúng khơi dậy một sự đáp ứng trong kẻ phẫn chí. Bởi v́ những kẻ phẫn chí thấy trong hành động một liều thuốc cho tất cả những ǵ làm họ đau đớn. Nó mang lại sự quên ḿnh và cho họ một cảm thức về mục đích và giá trị. Quả thực, dường như là sự phẫn chí bắt nguồn chủ yếu từ một bất lực trong hành động. Kẻ phẫn chí cay đắng nhất, là những người mà những tài năng và tính khí của họ, một cách lư tưởng, trang bị họ cho một cuộc sống hành động, nhưng do hoàn cảnh, những tài năng ấy bị “hoen gỉ đi” trong sự nhàn rỗi. Có cách nào khác để giải thích sự kiện đáng ngạc nhiên rằng, những Lenin [the Lenins], những Trotsky, những Mussolini, và những Hitler, là những người trải qua phần tốt đẹp nhất của đời họ, nói thao thao bất tuyệt trong những quán cà phê và những cuộc mét-tinh, lại tự phát-lộ ḿnh, một cách bất ngờ, như là những con-người-của-hành-động có năng lực và không mệt mỏi nhất của thời đại họ?

 

99

Đức tin tổ chức và trang bị linh hồn con người cho hành động. Sở hữu một và một chân lư độc nhất và không bao giờ nghi ngờ sự “chính nghĩa” của ḿnh; cảm nhận rằng, người ta được ủng hộ bởi một sức mạnh huyền bí, bất luận đó là Thượng đế, định mệnh hay quy luật lịch sử; xác tín rằng, đối phương của ḿnh là hiện thân của cái xấu ác và phải được tiêu diệt; hân hoan trong sự xả thân, sự hiến thân và bổn phận – đây là những điều kiện tuyệt vời cho hành động cương quyết và tàn nhẫn trong bất cứ lănh vực nào. Những binh sĩ, những kẻ tiên phong, những doanh nhân và thậm chí, những nhà thể thao nào mà hát thánh ca [psalm-singing], đă tự chứng tỏ họ là những kẻ đáng sợ. Nhiệt huyết cách mạng và dân tộc chủ nghĩa, có hiệu quả giống nhau: Chúng cũng có thể biến những người nhu nhược, uể oải và ù ĺ, thành những chiến sĩ và những nhà xây dựng. Ở đây, là một lư do khác cho sự không thể thiếu và hiển nhiên của một phong trào quần chúng trong việc hiện đại hóa những đất nước chậm tiến và tŕ trệ.

Tuy nhiên, sự thích hợp phi thường của tín đồ đích thực cho cuộc sống hành động, có thể là một nguy hiểm cũng như là một hỗ trợ cho những viễn ảnh của một phong trào quần chúng. Bằng cách mở ra những lănh vực bao la của hành động cuồng nhiệt, một phong trào quần chúng có thể đẩy nhanh sự kết thúc của nó. Hành động thành công có khuynh hướng trở thành một cứu cánh trong chính nó. Nó tát cạn mọi năng lượng và nhiệt huyết vào trong những kênh của chính nó. Đức tin và “lư tưởng thần thánh,” thay v́ là mục đích tối cao, lại chỉ trở thành những chất bôi trơn cho bộ máy của hành động. Kẻ tín đồ đích thực nào thành công trong mọi cái mà anh ta làm, thu được sự tự tin và trở nên thỏa hiệp với bản ngă ḿnh và hiện tại. Anh ta không c̣n thấy sự cứu rỗi duy nhất của ḿnh trong việc đánh mất chính ḿnh trong cái nhất-thể của một đoàn thể dính kết chặt chẽ và trong việc trở thành một phân tử vô danh, không ư chí, không phán đoán, và không trách nhiệm. Anh ta t́m kiếm và t́m thấy sự cứu rỗi của ḿnh trong hành động, trong việc chứng tỏ cái giá trị của ḿnh và [trong việc] khẳng định sự ưu việt cá nhân của ḿnh. Mặc dù hành động không thể dẫn anh ta đến sự tự thực hiện, nhưng anh ta sẵn sàng t́m thấy trong nó sự tự biện minh. Nếu anh ta vẫn c̣n đeo bám vào đức tin của ḿnh, th́ nó chỉ là để nâng đỡ ḷng tự tin của anh ta, và chính thống hóa [legitimize] sự thành công của ḿnh. Như thế, việc nếm trải sự thành công liên tục, là một đe dọa cho tinh thần tập thể. Một dân tộc ch́m đắm trong hành động, có khả năng là dân tộc ít [có đức tin] tôn giáo nhất, ít cách mạng nhất, và ít sô-vanh nhất. Sự ổn định xă hội và sự khoan dung chính trị và tôn giáo của những dân tộc Anglo-Saxon, th́, phần nào do sự dồi dào tương đối của họ về ư chí, kỹ năng và những cơ hội cho hành động. Đối với họ, hành động đóng vai tṛ của một cái thay thế cho một phong trào quần chúng.

__________

Self-realization.


Dĩ nhiên, có sự nguy hiểm thường trực rằng, nếu những đại lộ của hành động bị phong tỏa triệt để bởi một suy thoái kinh tế nghiêm trọng hay sự thất bại trong chiến tranh, th́ sự phẫn chí – gây ra do sự phong tỏa ấy – có thể quá mănh liệt, đến nỗi, bất cứ phong trào quần chúng nào đang chiêu mộ thành viên, sẽ t́m thấy một t́nh huống chín muồi, “được làm sẵn” cho sự truyền bá của nó. T́nh huống bùng nổ tại Đức sau Thế chiến I, phần nào là do sự tê liệt bị áp đặt lên một khối quần chúng vốn biết rằng, chính họ được trang bị một cách tuyệt vời cho hành động. Hitler cho họ một phong trào quần chúng . Nhưng, rất có thể, cái quan trọng hơn, là ông ta mở ra trước họ những cơ hội vô giới hạn cho hành động cuồng nhiệt, liên miên, ngoạn mục. Không có ǵ lạ, họ đón chào ông như vị Cứu Tinh của họ.

 

SỰ NGỜ VỰC

100

Chúng ta đă thấy rằng, cái chất bài tiết khó chịu của đầu óc phẫn chí – mặc dù chủ yếu bao gồm sợ hăi và ác ư [ill will] – thế nhưng, nó tác động như một chất keo thần diệu, kết dính những kẻ phẫn chí và bất măn thành một toàn thể dính kết . Sự nghi ngờ cũng là một thành tố của cái chất keo khó chịu này, và nó cũng có thể là một tác nhân tạo ra sự “đoàn kết.”

Những kẻ phẫn chí nhận biết những ô uế và khuyết điểm cá nhân của họ. Do vậy, họ dễ dàng phát hiện ra ác ư và sự hèn hạ trong đồng bào ḿnh. Sự tự-khinh, bất luận nó mơ hồ ra sao, làm cho đôi mắt chúng ta trở nên tinh tường trong việc phát hiện ra những cái bất toàn của những người khác. Chúng ta thường t́m cách phát hiện ra trong những kẻ khác những ô uế mà chúng ta che giấu trong chính ḿnh. Như thế, khi những kẻ phẫn chí tụ họp lại trong một phong trào quần chúng, th́ bầu không khí trĩu nặng với sự ngờ vực. Có sự xoi mói và sự do thám, sự ḍm ngó cao độ và một sự nhận biết căng thẳng, rằng ḿnh đang bị ḍm ngó. Điều đáng ngạc nhiên là, cái sự ngờ vực có tính tâm bệnh này bên trong hàng ngũ, không dẫn đến sự bất đồng, mà dẫn đến sự đồng phục nghiêm ngặt. Biết rằng họ liên tục bị quan sát, kẻ trung thành phấn đấu thoát khỏi sự ngờ vực bằng cách tuân thủ một cách cuồng tín cách hành xử và quan niệm “đă được kê đơn.” Sự “chính thống” nghiêm ngặt cũng là kết quả của sự ngờ vực lẫn nhau, giống như đức tin cuồng nhiệt vậy.

Những phong trào quần chúng sử dụng rộng răi sự ngờ vực trong bộ máy thống trị của chúng. Những đảng viên thường  bên trong đảng Quốc Xă được làm cho cảm thấy rằng, họ liên tục bị quan sát và bị cầm giữ trong một trạng thái sợ hăi thường trực, một lương tâm bất ổn thường trực (49). Sự sợ hăi những láng giềng của ḿnh, bạn của ḿnh, và thậm chí kẻ thân thích của ḿnh, dường như là quy luật [the rule] bên trong những phong trào quần chúng. Thỉnh thoảng, những người vô tội bị cố t́nh cáo buộc và hy sinh, để giữ cho sự ngờ vực được sống. Sự ngờ vực được làm cho trở thành một lưỡi dao sắc cạnh, bằng cách kết nối mọi chống đối bên trong hàng ngũ với kẻ thù đang đe dọa phong trào từ bên ngoài. Kẻ thù này – tên quỷ sứ không thể thiếu của mọi phong trào quần chúng – có mặt ở khắp mọi nơi. Hắn ta âm mưu phá hoại, cả bên ngoài lẫn bên trong hàng ngũ những kẻ trung thành. Chính tiếng nói của hắn, là tiếng nói [mà] cất lên thông qua miệng của “kẻ bất đồng chính kiến” và “kẻ sai lập trường” – vốn là những “kẻ bù nh́n” [stooges] của hắn. Nếu có ǵ sai hỏng bên trong phong trào, th́ đó là do việc làm của hắn. Bổn phận thiêng liêng của tín đồ đích thực là phải ngờ vực. Y phải thường trực cảnh giác, để phát hiện ra những kẻ phá hoại, những gián điệp và những kẻ phản bội.

__________

The rank and file.

 

101

Sự hợp nhất tập thể không phải là kết quả của t́nh huynh đệ mà kẻ trung thành dành cho nhau. Tín đồ đích thực chỉ trung thành với cái-toàn-thể – giáo hội, đảng, dân tộc – và sự trung thành đó không dành cho những tín đồ đích thực khác, vốn là đồng chí của y. Sự trung thành đích thực giữa những cá nhân, chỉ xảy ra trong một xă hội lỏng lẻo và tương đối tự do. Như Abraham sẵn sàng hy sinh đứa con trai duy nhất của ḿnh, để chứng minh sự tận tụy của ông đối với Jehovah, th́ kẻ cuồng tín Cộng sản hay Quốc Xă phải sẵn sàng hy sinh những kẻ thân thích và bạn hữu, để chứng minh sự hiến ḿnh trọn vẹn của y cho “sự nghiệp thần thánh.” Phong trào quần chúng năng động thấy rằng, những sợi dây ràng buộc cá nhân của huyết thống và t́nh bạn, làm giảm sút sự kết dính chặt chẽ của chính nó. Như thế, sự ngờ vực lẫn nhau bên trong hàng ngũ không chỉ tương thích với sức mạnh kết dính, mà sự ngờ vực đó c̣n là một điều kiện tiên quyết của nó. “Những người có những xác tín mạnh mẽ và những cảm xúc cuồng nhiệt mạnh mẽ, th́ khi liên kết với nhau, họ canh chừng nhau với sự ngờ vực, và t́m thấy sức mạnh của họ trong sự canh chừng đó; bởi v́ sự ngờ vực lẫn nhau tạo ra sự sợ hăi lẫn nhau, nó ràng buộc họ như bằng một cái niềng sắt, ngăn ngừa sự đào ngũ, và động viên họ chống lại những khoảnh khắc yếu đuối.” (50)

Một phần của sự kinh khủng của một phong trào quần chúng đích thực, là : sự hy sinh quên ḿnh mà nó cổ vũ, cũng bao gồm một hy sinh phần nào cái ư thức đạo đức vốn làm tê liệt và câu thúc bản chất chúng ta. “Ḷng nhiệt huyết đích thực của chúng ta làm nên những chuyện thần kỳ, khi nó ủng hộ khuynh hướng [tiêu cực] của chúng ta : sự thù hận, sự tàn nhẫn, tham vọng, sự tham lam, sự dèm pha, sự nổi loạn.”(51)

 

NHỮNG TÁC DỤNG CỦA SỰ HỢP NHẤT HÓA.

102

Sự hợp nhất hóa triệt để – bất luận được tạo ra bởi sự hiến ḿnh tự phát, sự thuyết phục, sự cưỡng bức, sự cần thiết, hoặc thói quen thâm căn cố đế, hoặc một tổng hợp của những cái này – đều có khuynh hướng tăng cường những khuynh hướng và những thái độ vốn cổ vũ cho sự hợp nhất. Chúng ta đă thấy rằng, sự hợp nhất tăng cường khuynh hướng thù hận [tiết 77] và năng lực bắt chước [tiết 82]. Cũng đúng rằng, một cá nhân “hợp nhất hóa”  th́ cả tin và dễ bảo hơn một tín đồ đích thực tiềm năng, mà vẫn là một cá nhân tự-trị. Mặc dù cũng đúng rằng, giới lănh đạo của một tập thể thường giữ cho sự thù hận sôi sục, động viên sự bắt chước và sự cả tin, và nuôi dưỡng sự tuân phục, nhưng sự kiện vẫn là, sự hợp nhất – một ḿnh nó, ngay cả khi không được hỗ trợ bởi những vận động của giới lănh đạo – cũng tăng cường những phản ứng vốn vận hành như là những tác nhân gây ra sự đoàn kết.

__________

The unified individual: “Cá nhân hợp nhất hóa,” là một cá nhân đă hoàn toàn hợp nhất với đoàn thể của ḿnh : giáo hội, đảng… – bằng cách từ bỏ hết mọi mọi tính cá nhân, vốn làm cho anh ta khác biệt với những thành viên khác.


Thoạt nh́n, điều này là một sự kiện đáng ngạc nhiên. Chúng ta đă thấy rằng, những yếu tố gây đoàn kết nhất, bắt nguồn từ sự ghê tởm của một cá nhân phẫn chí đối với một bản ngă vô dụng và một hiện hữu trống rỗng. Nhưng tín đồ đích thực – nghĩa là một kẻ hoàn toàn bị đồng hóa với một tập thể chặt chẽ – th́ không c̣n phẫn chí. Y đă t́m thấy một “căn cước” mới, và một cuộc sống mới. Y là một trong những kẻ được chọn, được nâng đỡ và che chở bởi những sức mạnh vô địch, và được tiền định là kẻ thừa kế trái đất. Tâm trạng của y là tâm trạng đối nghịch với tâm trạng của cá nhân phẫn chí; thế nhưng, y phô bày, với cường độ ngày càng gia tăng, tất cả những phản ứng vốn là triệu chứng của sự căng thẳng và bất an nội tâm.

Cái ǵ xảy ra cho “cá nhân hợp nhất”?

Sự hợp nhất là một quá tŕnh của sự giảm bớt hơn là thêm vào. Để được đồng hóa với một môi trường tập thể, th́ một người phải được lột bỏ cái tính độc đáo [distinctness] cá nhân của anh ta. Anh ta phải bị tước bỏ sự lựa chọn và phán đoán độc lập. Nhiều trong số những khuynh hướng và xung lực tự nhiên của anh ta, phải bị đè nén và làm cho cùn nhụt. Tất cả những cái này đều là những hành vi giảm thiểu. Những thành tố mà có vẻ như được thêm vào – đức tin, ḷng tự hào, ḷng tự tin – đều tiêu cực từ nguồn gốc. Sự phấn khởi của tín đồ đích thực không tuôn chảy từ những trữ lượng của sức mạnh và sự minh triết, mà từ một cảm thức về sự giải thoát: anh ta được giải thoát khỏi những gánh nặng vô nghĩa của một hiện hữu tự-trị. “Chúng ta, những người Đức, quá hạnh phúc. Chúng ta thoát khỏi tự do”(52). Niềm hạnh phúc và sự kiên cường của anh ta đến từ việc anh ta không c̣n là chính ḿnh. Những cuộc tấn công chống lại bản ngă, không thể chạm vào anh ta. Sức chịu đựng của anh ta – khi rơi vào tay một kẻ thù không đội trời chung, hoặc khi đối mặt với những hoàn cảnh không thể chịu đựng nổi – th́ ưu việt hơn sức chịu đựng của một cá nhân tự-trị. Nhưng sự bất khuất này tùy thuộc vào chiếc phao cứu sinh, vốn kết nối anh ta với cái-toàn-bộ có tính tập thể. Chừng nào mà anh ta c̣n cảm thấy ḿnh là một phần của cái toàn thể đó và không là ǵ khác, th́ anh ta bất tử và không thể bị hủy diệt. Tất cả nhiệt huyết và sự cuồng tín của anh ta, do vậy, được tập hợp xung quanh cái phao cứu sinh này. Sự phấn đấu cho sự hợp nhất triệt để, th́ mănh liệt hơn niềm mong ước mơ hồ của kẻ phẫn chí, về một sự trốn thoát khỏi một bản ngă không thể biện minh được. Cá nhân phẫn chí vẫn c̣n một chọn lựa: anh ta có thể t́m thấy một cuộc sống mới, không những bằng cách trở nên bộ phận của một tập thể chặt chẽ, mà c̣n bằng cách thay đổi môi trường của ḿnh, hoặc bằng cách ném ḿnh một cách toàn tâm toàn ư vào một công tŕnh hấp dẫn nào đó. Cá nhân được hợp nhất, trái lại, không có lựa chọn nào khác. Anh ta phải, hoặc đeo bám vào tập thể, hoặc giống như một chiếc lá rụng, héo tàn và phai nhạt. Thật đáng ngờ, liệu một giáo sĩ bị rút phép thông công, người Cộng sản bị khai trừ, và nhà sô vanh chủ nghĩa phản bội, có bao giờ có thể t́m thấy lại sự b́nh an tâm hồn với tư cách là những cá nhân tự-trị. Họ không thể đứng trên đôi chân của ḿnh [độc lập], mà phải “ôm gh́” một sự nghiệp mới và gắn ḿnh vào một nhóm mới.

Tín đồ đích thực, th́ măi măi không hoàn chỉnh, măi măi bất an.

 

103

Thật đáng quan tâm, để ghi nhận cái phương tiện, mà qua đó một phong trào nhấn mạnh và duy tŕ sự bất hoàn chỉnh cá nhân của những kẻ trung kiên của nó. Bằng cách nâng cao giáo điều lên trên lư tính, sự thông minh cá nhân bị ngăn cản, sao cho nó không thể trở nên tự tin, độc lập. Sự lệ thuộc về kinh tế được duy tŕ bằng cách trung ương hóa [centralize] sức mạnh kinh tế và bằng cách cố ư tạo ra sự khan hiếm của những nhu yếu phẩm của cuộc sống. Sự tự-túc xă hội th́ bị ngăn chặn bởi chỗ ở đông đúc hoặc những khu chung cư, hoặc bởi sự tham gia cưỡng bức [hằng ngày] vào những nhiệm vụ công cộng. Sự kiểm duyệt độc đoán [tàn bạo] về văn học, nghệ thuật, âm nhạc và khoa học, ngăn cản ngay cả một thiểu số cá nhân sáng tạo, không cho họ sống cuộc đời tự-túc [độc lập]. Sự hiến thân cho giáo hội, đảng, đất nước, lănh tụ, và tín điều – được nhồi sọ vào dân chúng – cũng duy tŕ một trạng thái bất hoàn chỉnh. Bởi v́ mọi sự hiến thân là một cái ổ cắm điện, vốn đ̣i hỏi sự “cắm vào” của một phần bổ sung từ bên ngoài.

Như thế, những người được nuôi dạy và trưởng thành trong bầu không khí của một phong trào quần chúng, đều được uốn nắn thành những con người bất hoàn chỉnh và lệ thuộc, ngay cả khi họ có bên trong chính ḿnh cái cấu-tố tiềm năng của những thực thể tự-túc. Mặc dù họ không phẫn chí và không có mối bất b́nh nào, thế nhưng, họ vẫn phô bày những nét đặc trưng của những người khao khát tự đánh mất chính ḿnh và muốn loại bỏ một sự hiện hữu vốn bị hỏng một cách không thể văn hồi.



=========

(1). Heinrich Heine, Religion and Philosophy in Germany (London: Trubner & Company, 1882), p. 89.

(2). Hermann Rauschning, Hitler Speaks (New York: G. P. Putnam’s Sons, 1940), p. 234.

(3). Fritz August Voigt, Unto Caesar (New York: G. P. Putnam’s Sons, 1938), p. 301.

(4). Adolph Hitler, Mein Kampf (Boston: Houghton Mi􀁁in Company, 1943), p. 118.

(5). Quoted by Hermann Rauschning, Hitler Speaks (New York: G. P. Putnam’s Sons, 1940), p. 234.

(6). Ibid., p. 235.

(7). See Section 100.

(8). Crane Brinton, The Anatomy of Revolution (New York: W.W. Norton & Company, Inc., 1938), p. 62.

(9). Ibid.

(10). Ibid.

(11). When John Huss saw an old woman dragging a fagot to add to his funeral pyre, he said: “O sancta simplicitas!” Quoted by Ernest Renan, The Apostles (Boston: Roberts Brothers, 1898), p. 43.

(12). Pascal, Pensées.

(13). Hermann Rauschning, Hitler Speaks (New York: G. P. Putnam’s Sons, 1940), p. 235.

(14). Adolph Hitler, op. cit., p. 351.

(15). Pascal, op. cit.

(16). Luther, “Table Talk, Number 2387 a-b.” Quoted in Frantz Funck-Brentano, Luther (London: Jonathan Cape, Ltd., 1939), p.319.

(17). See Section 60.

(18). Matthew 5.

(19). Fëdor Dostoyevsky, The Possessed, Part II, Chap. 6.

(20). Adolph Hitler, op. cit., p. 171.

(21). Ernest Renan, History of the People of Israel (Boston: Little, Brown & Company, 1888–1896), Vol. I, p. 130.

(22). See Sections 96 and 98.

(23). The Italian minister of education in 1926. Quoted by Julien Benda, The Treason of the Intellectuals (New York: William Morrow Company, 1928), p. 39.

(24). For another view on the subject, see Section 33.

(25). Niccolo Machiavelli, The Prince, Chap. VI.

(26). The Goebbels Diaries (Garden City: Doubleday & Company, Inc., 1948), p. 460.

(27). Ibid., p. 298.

(28). Guglielmo Ferrero, Principles of Power (New York: G. P. Putnam’s Sons, 1942), p. 100.

(29). Ernest Renan, The Poetry of the Celtic Races (London: W. Scott, Ltd., 1896), essay on Islamism, p. 97.

(30). Kenneth Scott Latourette, The Unquenchable Light (New York: Harper & Brothers, 1941), p. 33.

(31). Kenneth Scott Latourette, A History of the Expansion of Christianity (New York: Harper & Brothers, 1937), Vol. I, p. 164.

(32). Charles Reginald Haines, Islam as a Missionary Religion (London: Society for Promoting Christian Knowledge, 1889), p. 206.

(33). Quoted by Frantz Funck-Brentano, op. cit., p. 260.

(34). Guglielmo Ferrero, The Gamble (Toronto: Oxford University Press, 1939), p. 297.

(35). Crane Brinton, A Decade of Revolution (New York: Harper & Brothers, 1934), p. 168.

(36). “Dominic,” Encyclopaedia Britannica.

(37). Adolph Hitler, op. cit., p. 171.

(38). Ibid., p. 171.

(39). See Section 45.

(40). Jacob Burckhardt, Force and Freedom (New York: Pantheon Books, 1943), p. 129.

(41). Francis Bacon, “Of Vicissitude of Things,” Bacon’s Essays, Everyman’s Library edition (New York: E. P. Dutton & Company, 1932), p. 171.

(42). John Morley, Notes on Politics and History (New York: Macmillan Company, 1914), pp. 69–70.

(43). Angelica Balabanoff, My Life as a Rebel (New York: Harper & Brothers, 1938), p. 156.

(44). Frank Wilson Price, “Sun Yat-sen,” Encyclopaedia of the Social Sciences.

(45). Leo XIII, Sapientiae Christianae. According to Luther, “Disobedience is a greater sin than murder, unchastity, theft and dishonesty….” Quoted by Jerome Frank, Fate and Freedom (New York: Simon and Schuster, Inc., 1945), p. 281.

(46). See Sections 78 and 80.

(47). Genesis 11:4.

(48). Hermann Rauschning, The Revolution of Nihilism (Chicago: Alliance Book Corporation, 1939), p. 48.

(49). Ibid., p. 40.

(50). Ernest Renan, Antichrist (Boston: Roberts Brothers, 1897), p. 381.

(51). Montaigne, Essays, Modern Library edition (New York: Random House, 1946), p. 374.

(52). A young Nazi to I. A. R. Wylie shortly before the Second World War. I. A. R. Wylie, “The Quest of Our Lives,” Reader’s Digest, May, 1948, p. 2.
 

 

Trở về Giới thiệu và Mục Lục

Xem tiếp Phần 4, Chương 15


 

art2all.net