ĐỖ TƯ NGHĨA

 

TÍN ĐỒ ĐÍCH THỰC ( THE TRUE BELIEVER)

Về bản chất của những phong trào quần chúng

Erich Hoffer / Đỗ Tư Nghĩa

==o))((o==

 

 PHẦN BỐN :

SỰ KHỞI ĐẦU VÀ SỰ KẾT THÚC

CỦA MỘT PHONG TRÀO QUẦN CHÚNG


CHƯƠNG XV

NHỮNG CON NGƯỜI CỦA LỜI NÓI

104

          Hầu hết những phong trào quần chúng không thường nổi lên, cho đến khi cái trật tự hiện hành đă bị làm cho mất uy tín. Việc làm mất uy tín không phải là kết quả của những sai lầm nghiêm trọng và những lạm dụng quyền lực của những kẻ cầm quyền, mà là công việc của những con-người-của-lời-nói, với một mối bất b́nh. Nơi nào mà những nhà hùng biện vắng mặt, hoặc không có một mối bất b́nh, th́ cái hệ thống quyền lực, cho dẫu bất lực và thối nát đến đâu, vẫn có thể tiếp tục nắm quyền cho đến khi nó ngă xuống và tự sụp đổ. Trái lại, một hệ thống quyền lực cường tráng và có tài năng, vẫn có thể bị quét phăng đi, nếu nó thất bại trong việc giành được sự ủng hộ của một thiểu số có tài hùng biện. (1)

Như đă được vạch ra trong tiết 83 và 86, sự xây dựng và duy tŕ một phong trào quần chúng tùy thuộc vào bạo lực [force]. Một phong trào quần chúng phát triển đầy đủ, là một vụ việc tàn bạo, và việc quản lư nó nằm trong tay những kẻ cuồng tín tàn bạo, họ sử dụng lời nói chỉ để tạo ra một sự tự phát giả tạo, cho một sự “đồng thuận” [consent] đạt được bằng sự cưỡng bức. Song những kẻ cuồng tín này [chỉ] có thể bước vào và chỉ huy, sau khi cái trật tự hiện hành đă bị làm cho mất uy tín và đánh mất sự ủng hộ của quần chúng. Công việc trù bị của việc xói ṃn những định chế hiện hữu – làm cho quần chúng quen thuộc với ư tưởng về sự thay đổi, và tạo ra một điều kiện thuận lợi cho việc tiếp nhận một đức tin mới – chỉ có thể được làm bởi những người mà, trước hết và chủ yếu, là những “người nói” [talkers] hoặc những nhà văn có uy tín. Chừng nào mà trật tự hiện hành c̣n vận hành trong một thể cách ít hay nhiều có trật tự, th́ quần chúng, về cơ bản, vẫn giữ nguyên t́nh trạng bảo thủ. Họ có thể nghĩ đến sự cải cách, chứ không nghĩ đến sự canh tân toàn diện. Đối với họ, th́ kẻ cực đoan cuồng tín, bất luận hùng biện ra sao, đều nguy hiểm, phản bội, phi thực tế, hoặc thậm chí, điên rồ. Họ sẽ không nghe theo anh ta. Chính Lenin đă nhận ra rằng, nơi nào mà miếng đất chưa sẵn sàng, th́ những người Cộng sản “thấy khó mà tiếp cận với quần chúng… và, thậm chí, khó thuyết phục cho họ lắng nghe”(2). Vả lại, nhà cầm quyền, ngay cả khi yếu ớt và khoan dung [tolerant], có thể phản ứng một cách bạo động chống lại những sách lược kích động của kẻ cuồng tín, và có thể nói, có khả năng thu được một khí lực mới, từ những hoạt động của y.

Nhưng trong trường hợp của loại người-của-lời-nói, th́ sự thể lại khác. Quần chúng lắng nghe anh ta, bởi v́ họ biết rằng, những lời nói của anh ta – bất luận có tính thuyết phục đến đâu – cũng không thể có những kết quả tức th́. Giới cầm quyền hoặc phớt lờ anh ta, hoặc dùng những phương pháp để bịt miệng anh ta. Như thế, một cách tinh tế, con người-của-lời-nói xói ṃn những định chế, làm mất uy tín những kẻ cầm quyền, làm yếu đi những niềm tin và ḷng trung thành hiện hành, và dàn dựng sân khấu cho sự nổi lên của một phong trào quần chúng.

Sự phân biệt giữa những con-người-của-lời-nói, những kẻ cuồng tín và những con-người-của-hành-động [có đầu óc] thực tiễn, như sẽ được phác thảo trong các tiết sau đây, th́ không có tính tuyệt đối. Những người như Gandhi và Trotsky, ban đầu, có vẻ như là những con-người-của-lời-nói “vô dụng,” nhưng về sau, lại biểu lộ những tài năng phi thường như là những nhà hành chính hoặc những vị tướng. Một người như Mohammed, khởi sự như là một người-của-lời-nói, phát triển thành một kẻ cuồng tín không khoan nhượng, và sau cùng, biểu lộ một cảm thức tuyệt vời về thực tế. Một kẻ cuồng tín như Lenin, là một bậc thầy của khẩu ngữ, và là một con-người-của-hành- động. Cái mà sự phân loại cố gợi ư, là, việc chuẩn bị đất cho một phong trào quần chúng, th́ được làm một cách tốt nhất bởi những người, mà sự xuất sắc chính của họ, là kỹ năng của họ trong việc sử dụng ngôn ngữ, nói hay viết; rằng việc sản sinh ra một phong trào có hiệu quả, đ̣i hỏi cái tính khí và những tài năng của kẻ cuồng tín; và rằng, sự củng cố sau cùng của phong trào, một phần lớn là công việc của con-người-hành-động có đầu óc thực tiễn.

Sự nổi lên của một thiểu số có tài hùng biện, nơi mà trước đó không có ai, là một bước đi tiềm năng có tính cách mạng. Những cường quốc phương Tây là những kẻ kích động gián tiếp và không cố ư của những phong trào quần chúng tại châu Á – không chỉ bằng cách khơi dậy ngọn lửa phẫn hận [xem tiết 1], mà c̣n bằng cách tạo ra một thiểu số có tài hùng biện thông qua công việc giáo dục, mà phần lớn là có tính từ thiện [philanthropic]. Nhiều trong số những lănh tụ cách mạng tại Ấn Độ, Trung Quốc, và Indonesia – đều được thụ huấn tại những cơ sở giáo dục bảo thủ tại phương Tây. Đại học Mỹ tại Beirut – vốn được điều hành và ủng hộ bởi những người Mỹ “sợ Thượng đế,” bảo thủ – là một trường học cho những nhà cách mạng tại thế giới thất học của Ả Rập. Cũng không nghi ngờ ǵ, rằng những giáo viên “sợ Chúa,” truyền giáo tại Trung Quốc, một cách không cố ư, đều ở trong số những người chuẩn bị miếng đất cho cuộc cách mạng Trung Quốc.

 

105

Có thể chia những con-người-của-lời-nói thành nhiều loại khác nhau. Họ có thể là những giáo sĩ, những nhà báo, những nhà tiên tri, những nhà văn, những giáo sư, những sinh viên, và những nhà trí thức nói chung. Nơi nào mà, như tại Trung Quốc, việc đọc và viết là một nghệ thuật khó khăn, th́ chỉ cần biết đọc biết viết, cũng có thể ban cho người ta vị thế của một con-người-của-lời-nói. Một t́nh huống tương tự thịnh hành tại Ai Cập cổ đại, nơi mà nghệ thuật “chữ tượng h́nh” [picture writing] là độc quyền của một thiểu số.

Bất luận họ thuộc loại nào, th́ hầu hết mọi con-người-của-lời-nói đều có chung một sự khao khát thâm căn cố đế, vốn quy định thái độ của họ đối với trật tự hiện hành. Đó là sự khao khát muốn được công nhận; một sự khao khát muốn có một địa vị nổi bật, ở trên đám “phàm phu” [the common run] của nhân loại. Napoleon nói: “Sự tự phụ” [vanity] đă tạo ra Cách mạng; sự tự do chỉ là một cái cớ mà thôi.” Dường như có một sự bất an vô phương cứu chữa ở tại cốt lơi của mọi nhà trí thức, bất luận anh ta có tính sáng tạo hay không. Ngay cả người tài ba và dồi dào sáng tạo nhất, th́ dường như anh ta sống một cuộc đời với sự tự-nghi vĩnh cửu, và mỗi ngày lại phải tự chứng tỏ giá trị của ḿnh. Những ǵ mà de Rémusat nói về Thiers, có lẽ cũng đúng với hầu hết mọi con-người-của-lời-nói: “Anh ta có nhiều sự tự phụ hơn tham vọng; và anh ta thích sự nể trọng hơn sự tuân phục, và thích cái “vẻ bên ngoài” [appearance] của quyền lực hơn chính quyền lực. Hăy tham vấn anh ta một cách thường trực, và rồi cứ việc làm như bạn thích. Anh ta sẽ chú ư đến cái sự kính nể của bạn đối với anh ta, hơn là những hành động của bạn.” (3)

Trong sự nghiệp của hầu hết mọi con-người-của-lời-nói ưa chỉ trích, có một khoảnh khắc, khi mà một cử chỉ kính nể hay thỏa hiệp từ những người nắm quyền lực có thể kéo anh ta về phe của họ. Ở một giai đoạn nào đó, th́ phần lớn những con-người-của-lời-nói đều sẵn sàng trở thành những kẻ xu thời [timeserver] và những nịnh thần [courtier]. Chính Chúa Jesus, có thể đă không rao giảng một Phúc Âm mới, nếu những người Pharisees có quyền thế đă không đưa Ngài vào trong “chuồng trại” [the fold] của họ, gọi Ngài là Rabbi, và lắng nghe Ngài với sự kính trọng. Một chức giám mục được ban cho Luther ở khoảnh khắc thích hợp, th́ có lẽ đă làm nguội lạnh cái nhiệt huyết của ông cho một cuộc Cải Cách. Có lẽ, chàng trai Karl Marx đă bị lôi kéo về phía đế quốc Phổ, nếu được phong cho một chức danh và một chức vụ quan trọng trong chính phủ; và Lassalle, được phong cho một chức danh và một chức vụ quan trọng triều đ́nh. Đúng là, một khi con-người-của-lời-nói đă thiết lập một triết lư và một chương tŕnh, th́ có khả năng là anh ta sẽ bảo vệ chúng, và được miễn nhiễm khỏi những lời a dua và những lời xúi giục.

Cho dẫu con-người-của-lời-nói tin rằng, ḿnh là chiến sĩ chiến đấu cho những kẻ bị chà đạp và bị ngược đăi, th́ mối bất b́nh vốn kích động anh ta, với rất ít ngoại lệ, là riêng tư và có tính cá nhân. Ḷng tự thương hại ḿnh, thường được sản sinh ra từ ḷng thù hận đối với những quyền lực hiện hành” (4). “Chỉ có một vài người hiếm hoi và ngoại lệ, mới có loại t́nh yêu đó đối với nhân loại nói chung, khiến cho họ không thể kiên nhẫn chịu đựng cái khối xấu ác và đau khổ chung, bất luận nó liên quan ra sao tới cuộc đời của chính họ.” (5)

Thoreau tŕnh bày sự kiện với sự phóng đại quyết liệt: “Tôi tin rằng, cái mà làm buồn ḷng nhà cải cách, không phải là mối đồng cảm với đồng bào của ḿnh đang đau khổ; cho dẫu anh ta là đứa con trai thánh thiện nhất của Thượng đế – nhưng đó là cái nỗi khổ riêng tư của anh ta. Hăy chữa lành nó …và anh ta sẽ bỏ rơi những bạn đồng hành hào phóng của ḿnh mà không có một lời xin lỗi”(6). Khi địa vị thượng đẳng [superior] của anh ta được công nhận một cách thích đáng bởi những kẻ cầm quyền, th́ con-người-của-lời-nói thường t́m thấy đủ loại lư do để đứng về phía kẻ mạnh chống lại kẻ yếu. Một Luther, ban đầu, khi ông thách thức giáo hội, nói một cách cảm động về “kẻ nghèo, kẻ mộc mạc, người dân b́nh thường” (7) ; nhưng về sau – khi đă liên minh với những tiểu vương Đức – ông tuyên bố rằng, “Thượng đế thà chịu để cho chính quyền tồn tại, cho dẫu nó xấu ác đến đâu, c̣n hơn là cho phép đám tiện dân gây rối, bất luận sự gây rối đó có chính đáng tới đâu (8). Một Burke – khi được bảo trợ bởi những lănh chúa và những nhà quư tộc – nói về “đám đông tởm lợm,” và khuyên người nghèo nên “kiên nhẫn, lao động, điềm tĩnh [chừng mực], đạm bạc, và ngoan đạo” (9). Những con người của lời nói – được o bế và tâng bốc tại nước Đức của Quốc Xă và tại nước Nga Bolshevik – không cảm thấy sự thúc đẩy nào để đứng về phía những kẻ bị bức hại và bị khủng bố, để chống lại những lănh tụ tàn bạo và cảnh sát mật vụ của họ.

 

106

Bất cứ khi nào chúng ta t́m thấy một thể chế [mà] tồn tại vượt quá cái thời lượng mà năng lực của nó cho phép, th́ hoặc là có sự vắng mặt hoàn toàn của một giai cấp có ăn học, hoặc là có một liên minh thâm t́nh giữa những kẻ nắm quyền và những con-người-của-lời-nói. Nơi nào mà mọi con người có học thức đều là những giáo sĩ, th́ không có sức mạnh nào có thể tấn công giáo hội. Nơi nào mà mọi con người có học thức đều là những kẻ thư lại – hoặc nơi nào mà sự giáo dục ban cho một người một địa vị thượng đẳng và được mọi người công nhận – th́ trật tự hiện hành có khả năng thoát khỏi những phong trào phản kháng.

Giáo hội Công giáo sa xuống mức thấp nhất của nó vào thế kỷ thứ 10, ở thời của giáo hoàng John XII. Lúc bấy giờ, nó thối nát và bất tài so với thời của Phong trào Cải Cách. Nhưng trong thế kỷ thứ 10, th́ mọi con người có học thức đều là giáo sĩ; trái lại, trong thế kỷ thứ 15 – như là kết quả của việc du nhập nghề in và nghề làm giấy – sự học vấn đă không c̣n là độc quyền của giáo hội. Chính những nhà nhân bản chủ nghĩa phi tăng lữ, là những người tạo thành đội tiền phong của Phong trào Cải Cách. Những người trong số những học giả liên kết với giáo hội – hay những người, như tại Ư, hưởng sự bảo trợ của những Giáo Hoàng – đều biểu lộ một tinh thần khoan dung, trên đại thể, đối với những định chế hiện hành, bao gồm những tệ đoan của giáo hội; và, nói chung, họ ít quan tâm về việc đám tiện dân sẽ bị bỏ lại bao lâu trong bóng tối mê tín, vốn phù hợp với tâm thái của đám quần chúng đó” (10).

Sự ổn định của Đế quốc Trung Hoa – giống như sự ổn định của Ai Cập cổ đại – là do một sự liên minh thâm t́nh giữa giới thư lại và giới có học thức. Thật đáng chú ư rằng, cuộc biến động Thái B́nh Thiên Quốc – phong trào quần chúng hữu hiệu duy nhất trong khi Đế quốc vẫn vận hành một cách vô thời hạn – được khởi xướng bởi một học giả, ông ta thất bại liên miên trong cuộc thi quốc gia để ra làm quan, một chức quan có đẳng cấp cao nhất (11).

Sự tồn tại lâu dài của Đế quốc La Mă, ở mức độ nào đó, là do sự hợp tác toàn tâm toàn ư giữa những nhà cầm quyền La Mă và những con-người-của-lời-nói Hy Lạp. Những người Hy Lạp bị chinh phục cảm thấy rằng, họ mang lại luật lệ và nền văn minh cho những kẻ chinh phục. Thật là khó chịu khi đọc thấy, Nero – biến chất và đồi bại, nhưng lại ngưỡng mộ Hy Lạp một cách thái quá – được chào đón một cách hết sức cuồng nhiệt bởi những người Hy Lạp, trong chuyến viếng thăm của ông vào năm 67 sau công nguyên.  Họ xem ông như là một nhà trí thức và nghệ sĩ bằng hữu. “Để làm vừa ḷng ông, mọi cuộc thi đấu đều được dồn vào một năm. Mọi thành phố gửi cho ông những giải thưởng mà họ đă đoạt trong những cuộc tranh tài của họ. Những hội đồng liên tục phục vụ ông, khẩn khoản mời ông đến và hát khắp mọi nơi” (12). Và ông, đến lượt ḿnh, chồng chất lên họ những đặc quyền và công bố tự do của Hy Lạp tại giải điền kinh toàn Hy Lạp [Corinth].

_______________

 Nguyên tác: “... in 67, A;D.” Chúng tôi tạm dịch : “... năm 67, sau công nguyên,” là theo cách dịch thông thường. Đúng ta, phải dịch : “năm 67, công nguyên” th́ mới đúng.

 

Trong A Study of History, giáo sư A. Y. Toybee trích dẫn những câu thơ Latin sáu vần [hexameters] mà Claudian của Alexandria viết để ca ngợi La Mă, hầu như 100 năm sau khi Caesar đặt chân lên đất Ai Cập, và Toybee nói thêm một cách nuối tiếc: “Thật sẽ dễ dàng chứng minh rằng, nền cai trị của nước Anh, trên nhiều phương diện, đă là một định chế “nhân từ” [benevolent] và cũng có lẽ, bác ái [benificent] hơn Đế Quốc La Mă, nhưng thật khó mà t́m thấy một Claudian trong bất cứ Alexandria nào của Ấn Độ” (13). Bây giờ, không hoàn toàn khiên cưỡng để giả định rằng, nếu những nhà cầm quyền Anh tại Ấn Độ – thay v́ nuôi dưỡng những cuộc chiến tranh tại Nizams, Mahararas, Nawabs, Geka, vân vân – đă làm một nỗ lực để thu phục nhà trí thức Ấn Độ; nếu họ đối xử với anh ta như là một kẻ ngang hàng, động viên anh ta trong công việc của anh ta, và cho phép anh ta hưởng một phần của cuộc sống xa hoa, th́ có lẽ, họ đă duy tŕ cái nền cai trị của ḿnh ở đó một cách vô thời hạn. Có thể nói, những người Anh vốn cai trị Ấn Độ, là loại người hoàn toàn thiếu cái năng khiếu sống ḥa hợp với những người trí thức trong bất cứ vùng đất nào, và nhất là tại Ấn Độ. Họ là những con-người-của-hành-động thấm nhuần một niềm tin vào cái “tính thượng đẳng bẩm sinh” của người Anh. Phần lớn, họ khinh bỉ người trí thức Ấn Độ, với tư cách là một người-của-lời-nói, và như là một người Ấn Độ. Người Anh tại Ấn Độ cố gắng duy tŕ cái lănh vực hành động cho chính họ. Ở mức độ nào đó, họ không động viên những người Ấn Độ trở thành kỹ sư, chuyên viên nông nghiệp, hay nhà kỹ thuật. Những định chế giáo dục mà họ thiết lập, sản sinh ra những con người-của-lời-nói “phi thực tế;” và thực là một sự mỉa mai của số phận rằng, hệ thống giáo dục này, thay v́ bảo vệ nền cai trị của nước Anh, đă đẩy nhanh sự kết thúc của nó.

Sự thất bại của Anh tại Palestine, cũng một phần do sự thiếu quan hệ mật thiết giữa giới quan chức thuộc địa Anh tiêu biểu và những con-người-của-lời-nói bản xứ. Đa số những người Do Thái ở Palestine – mặc dù đắm ḿnh sâu trong hành động, nhưng do sự giáo dưỡng và truyền thống – là những con-người-của-lời-nói, và nhạy cảm trước một khuyết điểm [của kẻ cai tri. ND]. Họ nhức nhói trước thái độ khinh bỉ của quan chức Anh – vốn xem họ như là một lũ những “tên lư sự cùn” [quibblers] hèn nhát, vong ân – và dễ dàng trở thành những con mồi cho những người Ả Rập hiếu chiến, một khi nước Anh rút lui bàn tay che chở của nó. Những người Do Thái ở Palestine cũng oán hận sự giám hộ của những quan chức [Anh] tầm thường – những kẻ “thấp hơn” họ, cả về kinh nghiệm lẫn trí thông minh. Nếu những quan chức người Anh ở Palestine có tầm vóc [năng lực] của Julian Huxley, Harold Nicolson hay Richard Crossman, th́ có lẽ, Palestine đă không tuột khỏi tay Đế quốc Anh.

Trong cả chế độ Bolshevik lẫn Đức Quốc Xă, đều có một sự nhận biết rơ ràng về mối quan hệ có tính quyết định giữa những con-người-của-lời-nói và nhà nước. Tại nước Nga, giới văn nhân, nghệ sĩ, và học giả, chia sẻ những đặc quyền của nhóm cầm quyền. Họ là những công chức cao cấp. Và mặc dù bị buộc phải vâng theo đường lối đảng, họ chỉ tuân phục cùng một kỷ luật được áp đặt lên phần c̣n lại của giới tinh hoa [the elite]. Trong trường hợp của Hitler, th́ có một chủ nghĩa duy thực “ma quỷ” [độc ác] trong kế hoạch của ông ta – cái kế hoạch biến sự học vấn thành lănh vực độc quyền của nhóm tinh hoa, mà sẽ thống trị cái đế chế theo h́nh dung của ông ta, và cầm giữ đám quần chúng vô danh ở trong t́nh trạng gần như thất học.
 

107

Những con-người-của-lời-nói của thế kỷ 18 tại Pháp, là một thí dụ quen thuộc nhất về những nhà trí thức đi tiên phong, mở đường cho một phong trào quần chúng. Một khuôn mẫu phần nào tương tự, có thể được phát hiện trong những giai đoạn đi trước sự nổi lên của phần lớn những phong trào quần chúng. Miếng đất cho Phong trào Cải Cách, được chuẩn bị bởi những người vốn chỉ trích và tố giác giới tăng lữ trong những tập sách bướm và bởi những văn nhân giống như Johann Reuchin, họ chiến đấu và làm mất uy tín của curia La Mă.  Sự lan truyền nhanh chóng của Ki-tô giáo trong thế giới La Mă, một phần là do sự kiện rằng, những giáo phái “ngoại đạo” mà nó t́m cách thay thế, đă hoàn toàn bị làm cho mất uy tín. Việc làm mất uy tín này đă được làm, trước và sau sự khai sinh của Ki-tô giáo, bởi những triết gia Hy Lạp – họ chán sự ấu trĩ của những giáo phái và tố giác, giễu cợt chúng trong những trường học và trên những đường phố của các đô thị. Ki-tô giáo thu được ít kết quả trong việc chống lại Do Thái giáo, bởi v́ đạo này có sự ủng hộ nhiệt thành của những người-của-lời-nói Do Thái. Những rabbi• và môn đệ của họ hưởng địa vị cao quư trong cuộc sống Do Thái của thời đó, nơi mà trường học và sách thay thế đền thờ và tổ quốc. Trong bất cứ trật tự xă hội nào, mà ở đó quyền thống trị của những con-người-của-lời-nói là quá tối cao, th́ không sự chống đối nào có thể phát triển bên trong nó, và không phong trào quần chúng ngoại lai nào có thể giành được một điểm tựa vững chắc.

________

 Curia : Triều đ́nh và chính quyền của Giáo Hoàng, thuộc Giáo Hội Công giáo La Mă

• Rabbi: Giáo sỹ Do Thái.

 

Các phong trào quần chúng của thời hiện đại, bất luận là xă hội chủ nghĩa hay dân tộc chủ nghĩa, đều luôn được đề xướng bởi những nhà thơ, nhà văn, sử gia, học giả, triết gia, và những người đại loại như thế. Không cần phải nhấn mạnh sự kết nối giữa những lư thuyết gia trí thức và những phong trào cách mạng. Nhưng cũng đúng là, mọi phong trào dân tộc chủ nghĩa – từ sự sùng bái tổ quốc• trong cách mạng Pháp cho tới cuộc nổi dậy dân tộc chủ nghĩa gần đây nhất tại Indonesia – đều được “thai nghén” không phải bởi những con-người-của-hành-động, mà bởi những nhà trí thức ưa chỉ trích. Những vị tướng, những nhà công nghiệp, những địa chủ và doanh nhân, được xem như là những trụ cột của chủ nghĩa ái quốc, đều là những “kẻ đến muộn” – họ gia nhập phong trào sau khi nó đă có cơ sở vững chắc. Nỗ lực cam go nhất của giai đoạn sớm sủa nhất của mọi phong trào dân tộc chủ nghĩa, nằm ở việc thuyết phục và giành được sự ủng hộ của những trụ cột tương lai này. Sử gia Czec, Palacky, nói rằng, nếu trần nhà của một căn pḥng mà trong đó ông và một nhúm bạn đang ăn tối một đêm nọ bị sập, th́ có lẽ đă không có phong trào dân tộc chủ nghĩa Czec nào (14). Những nhúm những con-người-của-lời-nói phi thực tế như thế, có mặt ở khởi đầu của mọi phong trào dân tộc chủ nghĩa. Những nhà trí thức Đức, là những kẻ khởi xướng của chủ nghĩa dân tộc Đức, hệt như những nhà trí thức Do Thái, là những kẻ khởi xướng của chủ nghĩa phục quốc Do Thái. Chính nỗi khao khát sâu đậm của con-người-của-lời-nói, về một t́nh trạng cao quư, mà đă khiến cho anh ta hết sức nhạy cảm trước bất cứ sự nhục nhă nào bị áp đặt lên giai cấp hay cộng đồng (sắc tộc, ngôn ngữ hay tôn giáo), mà anh ta thuộc về, dù lỏng lẻo đến đâu. Chính sự lăng nhục của Napoleon đối với những người Đức, nhất là người Phổ, mà đă đẩy Fichte và các trí thức Đức kêu gọi quần chúng Đức đoàn kết lại thành một dân tộc hùng mạnh, mà sẽ thống trị châu Âu. Theodor Herzel và các nhà trí thức Do Thái bị đẩy tới chủ nghĩa phục quốc Do Thái bởi những lăng nhục bị chồng chất lên hàng triệu người Do Thái tại Nga, và bởi những lời vu khống mà những người Do Thái phải nhận chịu trong phần c̣n lại của châu Âu lục địa, vào cuối thế kỷ 19. Tới một mức độ nào đó, th́ phong trào dân tộc chủ nghĩa vốn ép buộc những nhà cai trị Anh phải ra khỏi Ấn Độ, có mầm mống của nó trong sự nhục nhă của một con-người-của-lời-nói gầy g̣, đeo mắt kiếng, tại Nam Phi.

___________

• The cult of la patrie.

 

108

Thật dễ thấy, như thế nào mà, con-người-của-lời-nó ưa chỉ trích – bằng sự giễu cợt và tố giác dai dẳng – lay động những niềm tin và ḷng trung thành hiện hành, và làm cho quần chúng quen thuộc với ư tưởng về sự thay đổi. Cái mà không hiển nhiên, là cái quá tŕnh mà qua đó, việc làm mất uy tín của định chế hiện hành, và niềm tin vào chúng, lại tạo điều kiện cho sự nổi lên của một đức tin cuồng tín mới. Thật đáng chú ư rằng, con-người-của-lời-nói hiếu chiến – anh ta “thăm ḍ trật tự đă xác lập cho tới nguồn gốc của nó, để khẳng định rằng, nó thiếu thẩm quyền và sự công bằng” (15) – thường chuẩn bị miếng đất, không phải cho một xă hội của những cá nhân có tư duy tự do, mà cho một xă hội dính kết [corporate] vốn trân quư sự hợp nhất tối đa và đức tin mù quáng. Một sự khuếch tán rộng lớn của sự hoài nghi và bất kính như thế, thường hay dẫn đến những kết quả bất ngờ. Sự bất kính của phong trào Phục Hưng là một khúc khai tấu [prelude] cho sự cuồng tín mới của Phong trào Cải Cách và Phong trào Chống Cải Cách. Những người Pháp của phong trào Khai Sáng – lật tẩy giáo hội, vua chúa, và rao giảng lư tính và sự khoan dung – gây ra một sự bùng nổ của sự cuồng tín có tính cách mạng và dân tộc chủ nghĩa, một sự cuồng tín mà cho tới nay, vẫn chưa giảm bớt. Marx và những môn đệ của ông làm mất uy tín của tôn giáo, chủ nghĩa dân tộc và sự theo đuổi kinh doanh cuồng nhiệt, và đẻ ra sự cuồng tín của chủ nghĩa xă hội, của chủ nghĩa dân tộc Stalinist, và niềm đam mê về sự thống trị thế giới.

Khi chúng ta lật tẩy một đức tin hay một thành kiến cuồng tín, th́ chúng ta không tấn công vào gốc rễ của sự cuồng tín. Chúng ta chỉ tránh, không cho nó ṛ rỉ ở một thời điểm nào đó, với kết quả là, nó có thể sẽ ṛ rỉ ở một thời điểm nào khác. Như thế, bằng cách hạ bệ những niềm tin và những t́nh cảm trung thành hiện hành, con-người-của-lời-nói hiếu chiến, một cách không cố ư, tạo ra trong quần chúng tỉnh mộng một sự đói khát về đức tin. Bởi v́ đa số người không thể chịu đựng sự trống rỗng và sự vô dụng của đời họ, trừ phi họ có một sự hiến dâng nào đó, hay một sự theo đuổi cuồng nhiệt nào đó, mà trong đó, họ có thể đánh mất chính ḿnh. Như thế, dù không cố ư, con-người-của-lời-nói ưa khinh bỉ, lại trở thành kẻ tiên phong của một đức tin mới.

Con-người-của-lời-nói đích thực, chính anh ta có thể sống mà không có đức tin vào những cái tuyệt đối. Anh ta đánh giá cao sự t́m kiếm chân lư cũng nhiều như chính tự thân chân lư. Anh ta hân hoan trong sự va chạm của tư tưởng và trong cái “cho và nhận” [give and take] của cuộc tranh căi. Nếu anh ta xây dựng một triết lư và một học thuyết, th́ chúng là việc “triển lăm” sự sáng chói và một thao tác trong phép biện chứng, hơn là một chương tŕnh hành động và những giáo điều của một đức tin. Đúng là, sự tự phụ [vanity] của anh ta, thường thúc đẩy anh ta bảo vệ những suy tưởng của ḿnh với sự tàn bạo và thậm chí, thù hận; nhưng anh ta thường dựa vào lư tính chứ không phải đức tin. Tuy vậy, rất có thể, những kẻ cuồng tín và quần chúng đói khát đức tin sẽ gán cho những suy tưởng như thế sự chắc chắn của Kinh Thánh, và biến chúng thành cội nguồn của một đức tin mới. Chúa Jesus không phải là một người Ki-tô giáo, và Marx, cũng không phải là một nhà Marxist.

Tóm lại, con-người-của-lời-nói hiếu chiến chuẩn bị miếng đất cho sự nổi lên của một phong trào quần chúng, bằng cách: 1/ làm mất uy tín của những giáo điều và những định chế hiện hành và [bằng cách] làm cho quần chúng mất niềm tin đối với chúng. 2/ gián tiếp tạo ra một sự đói khát niềm tin trong trái tim của những ai vốn không thể sống không có nó, để mà, khi đức tin mới được rao giảng, th́ nó sẽ t́m thấy một sự đáp ứng nhiệt thành trong số quần chúng vỡ mộng; 3/ bằng cách cung cấp học thuyết và những khẩu hiệu của đức tin mới; 4/ bằng cách xói ṃn những xác tín của những người có thể sống mà không có đức tin, để mà, khi sự cuồng tín mới xuất hiện, th́ họ sẽ không có năng lực để kháng cự nó. Họ không thấy nghĩa lư nào trong việc chết cho những xác tín và những nguyên tắc; họ cũng không bao giờ khuất phục trật tự mới mà không có cuộc chiến đấu nào. (16)

Như thế, khi nhà trí thức bất kính đă làm xong công việc của anh ta: [th́]:

Kẻ tinh hoa nhất, thiếu mọi xác tín, trong khi kẻ tồi tệ nhất th́ đầy cuồng nhiệt.

Chắc chắn, sự mặc khải nào đó đă sẵn sàng,

Chắc chắn Cuộc giáng thế thứ Hai đă sẵn sàng. (17)

Bây giờ, sân khấu đă được dựng lên cho những kẻ cuồng tín.
 

109

Những nhân vật bi đát trong lịch sử của một phong trào quần chúng, thường là những nhà trí thức tiên phong, họ sống đủ lâu để thấy sự sụp đổ của trật tự cũ bởi hành động của quần chúng.

Người ta thường có ấn tượng rằng, những phong trào quần chúng, và nhất là những cuộc cách mạng, đều được sinh ra từ cái quyết tâm của quần chúng trong việc lật đổ một chế độ độc tài thối nát, áp bức và giành cho ḿnh tự do hành động, tự do ngôn luận, và tự do lương tâm. Nhưng thực ra, cái ấn tượng đó có nguồn gốc trong những lời nói ầm ĩ, vốn được “phóng thích” bởi những nhà trí thức khởi xướng phong trào, trong những cuộc đụng độ của họ với cái trật tự hiện hành. Những phong trào quần chúng, khi chúng nổi lên, thường biểu lộ ít tự do cá nhân (18), so với cái trật tự mà nó thay thế; nguyên nhân của sự kiện nói trên, thường được quy về cho cái thủ đoạn lừa gạt của một tập đoàn thèm khát quyền lực, mà đă “bắt cóc” phong trào ở một giai đoạn hệ trọng và lừa gạt quần chúng, không cho họ hưởng sự tự do đang bắt đầu ló dạng. Nhưng thực ra, những người duy nhất bị lừa gạt trong quá tŕnh cách mạng, là những nhà trí thức tiên phong. Họ nổi lên chống lại trật tự đă được xác lập, chế giễu sự phi lư và sự bất lực của nó, tố giác tính phi chính nghĩa và sự áp bức của nó, và kêu gọi tự do tự biểu đạt và tự thực hiện. Họ mặc nhiên cho rằng, quần chúng – những người đáp lời kêu gọi của họ, và xếp hàng đằng sau họ – cũng khao khát cùng những điều như họ. Tuy nhiên, sự tự do mà quần chúng khao khát, không phải là tự do tự biểu đạt và tự thực hiện, mà là tự do được thoát khỏi cái gánh nặng không thể chịu nổi của một hiện hữu tự-trị. Họ muốn tự do thoát khỏi cái “gánh nặng đáng sợ của sự lựa chọn tự do,” (19) tự do khỏi cái trách nhiệm cam go của việc thực hiện cái bản ngă vô dụng của họ và gánh vác trách nhiệm về cái “sản phẩm nhơ nhuốc” đó. Cái mà họ muốn, không phải là tự do lương tâm, mà là đức tin mù quáng, độc đoán. Họ quét phăng cái trật tự cũ, không phải để tạo ra một xă hội của những con người tự do và độc lập, mà là để thiết lập sự đồng phục, sự vô danh cá nhân và một mẫu mực mới của sự hợp nhất tuyệt đối. Không phải sự độc ác của chế độ cũ, là cái đă khiến họ nổi lên chống lại, mà là sự yếu đuối của nó; không phải sự áp bức của nó, mà là sự thất bại của nó trong việc cột họ lại với nhau trong một cái-toàn-bộ hùng mạnh, vững chắc. Sức thuyết phục của nhà trí thức mị dân không nằm trong việc thuyết phục dân chúng về sự đê hèn của trật tự cũ, cho bằng [trong việc] chứng minh sự bất lực của nó. Kết quả tức th́ của một phong trào quần chúng, thường tương ứng với những ǵ mà dân chúng muốn. Họ không hề bị lừa gạt trong quá tŕnh cách mạng.

Lư do cắt nghĩa cho cái số phận bi đát – mà gần như luôn luôn đổ xuống những “bà đỡ” trí thức của một phong trào quần chúng – là, bất luận họ rao giảng và tôn vinh nỗ lực hợp quần nhiều ra sao, th́ về bản chất, họ vẫn là những người cá nhân chủ nghĩa. Họ tin vào khả-tính của hạnh phúc cá nhân và giá trị [validity] của quan niệm và sáng kiến cá nhân. Nhưng một khi phong trào bắt đầu lăn bánh, th́ quyền lực lại rơi vào tay những kẻ vốn không có đức tin nào, cũng không có sự kính nể nào, đối với cá nhân. Và họ thắng thế, không phải bởi v́ sự coi thường của họ đối với cá nhân mang đến cho họ năng lực trong việc thực hiện hành vi sự tàn bạo, mà là, thái độ của họ th́ hoàn toàn phù hợp với sự cuồng nhiệt mănh liệt của quần chúng.


=========

1. See examples in Section 106.

2. G. E. G. Catlin, The Story of the Political Philosophers (New York: McGraw-Hill Book Company, 1939), p. 633.

3. Quoted by Alexis de Tocqueville, Recollections (New York: Macmillan Company, 1896), p. 331.

4. Multatuli, Max Havelaar (New York: Alfred A. Knopf, Inc., 1927). Introduction by D. H. Lawrence.

5. Bertrand Russell, Proposed Roads to Freedom (New York: Blue Ribbon Books, 1931). Introduction, p. viii.

6. Henry Thoreau, Waiden, Modern Library edition (New York: Random House, 1937), p. 70.

7. In his letter to the Archbishop of Mainz accompanying his theses. Quoted by Frantz Funck-Brentano, Luther (London: Jonathan Cape, Ltd., 1939), p. 65.

8. Quoted by Jerome Frank, Fate and Freedom (New York: Simon and Schuster, Inc., 1945), p. 281.

9. Ibid., p. 133.

10. “Reformation,” Encyclopaedia Britannica.

11. René Fülöp Miller, Leaders, Dreamers and Rebels (New York: The Viking Press, 1935), p. 85.

12. Ernest Renan, Antichrist (Boston: Roberts Brothers, 1897), p. 245.

13. Arnold J. Toynbee, A Study of History. Abridgement by D. C. Somervell (Toronto: Oxford University Press, 1947), p. 423.

14. Carlton J. H. Hayes, The Historical Evolution of Modern Nationalism (New York: R. R. Smith, 1931), p. 294.

15. Pascal, Pensées:

16. Demaree Bess quotes a Dutch banker in Holland in 1941: “We do not want to become martyrs any more than most modern people want martyrdom.” “The Bitter Fate of Holland,” Saturday Evening Post, Feb. 1, 1941.

17. William Butler Yeats, “The Second Coming,” Collected Poems (New York: Macmillan Company, 1933).

18. See Section 27.

19. Fëdor Dostoyevsky, The Brothers Karamazov, Book V, Chap. 5.

 

Trở về Giới thiệu và Mục Lục

Xem tiếp Phần 4, Chương 16


 

art2all.net