ĐỖ TƯ NGHĨA

 

TÍN ĐỒ ĐÍCH THỰC ( THE TRUE BELIEVER)

Về bản chất của những phong trào quần chúng

Erich Hoffer / Đỗ Tư Nghĩa

==o))((o==

 

 PHẦN BỐN :

SỰ KHỞI ĐẦU VÀ SỰ KẾT THÚC

CỦA MỘT PHONG TRÀO QUẦN CHÚNG


CHƯƠNG XVI

NHỮNG KẺ CUỒNG TÍN

110

          Khi khoảnh khắc đă chín muồi, th́ chỉ có kẻ cuồng tín mới có thể “đẻ” ra một phong trào quần chúng đích thực. Không có y, th́ sự chán ghét được tạo ra bởi những người-của-lời-nói hiếu chiến, vẫn thiếu sự chỉ đạo, không có phương hướng, và sự chán ghét ấy chỉ có thể bùng ra trong những cuộc gây rối vô mục đích và dễ dàng bị dập tắt. Không có y, th́ những cải cách đă được khởi xướng, dù mạnh mẽ đến đâu, vẫn không làm cho lối sống cũ thay đổi, và bất cứ sự thay đổi nào trong chính phủ, cũng không vượt quá một chuyển giao quyền lực – từ một ê-kíp những con-người-của-hành động này sang một ê-kíp những con-người-của-hành-động khác. Không có y, th́ có lẽ, sẽ không có một khởi đầu mới nào.

Khi trật tự cũ bắt đầu ră ra từng mảnh, th́ nhiều trong số những con-người-của-lời-nói ầm ĩ – vốn đă mong đợi quá lâu cái ngày đó – trở nên hoảng sợ. Cái thoáng nh́n đầu tiên về khuôn mặt của “t́nh trạng vô chính phủ” [anarchy] làm cho họ vô cùng khiếp đảm. Họ quên béng tất cả những ǵ mà họ đă nói về “quần chúng nghèo khổ, mộc mạc,” và chạy đến cầu cứu những con-người-của-hành-động mạnh mẽ – những quân vương, những vị tướng, những nhà hành chánh, những chủ ngân hàng, những điền chủ – là những người biết cách xử lư đám tiện dân và biết cách lèo lái cơn thủy triều của sự hỗn loạn.

Kẻ cuồng tín th́ không như vậy. Sự hỗn loạn là thành tố cấu thành y. Khi trật tự cũ bắt đầu rạn vỡ, th́ y “lội vào,” công kích dữ dội, với hết sức mạnh của ḿnh và sự liều lĩnh để thổi bay cái hiện tại đáng ghét lên trời. Y vui sướng hân hoan trước cảnh tượng của một thế giới đang đi tới một kết thúc đột ngột. Cóc cần những cuộc cải cách! Tất cả những ǵ đă hiện hữu chỉ là rác rưởi, và không có nghĩa lư ǵ trong việc cải cách rác rưởi. Y biện minh cho cái ư chí, cái khuynh hướng vô chính phủ của ḿnh với sự khẳng định “có vẻ hợp lư” rằng, sẽ không thể có sự khởi đầu mới nào, bao lâu mà cái cũ vẫn c̣n nhan nhản. Y đẩy sang một bên những con-người-của-lời-nói đang sợ hăi, nếu họ vẫn c̣n lẩn quẩn gần đó – mặc dù y tiếp tục tán dương những học thuyết của họ và hô to những khẩu hiệu của họ. Chỉ ḿnh y biết sự khao khát thâm sâu nhất của quần chúng đang hành động: niềm khao khát sự hội thông, việc tập hợp đám đông, sự giải tan của tính cá nhân đáng nguyền rủa, để ḥa vào cái uy nghiêm và cao đại của một cái toàn thể hùng mạnh. Hậu thế là vua; và khốn nạn thay cho những ai, bên trong và bên ngoài phong trào mà vẫn c̣n ôm gh́ và đeo níu vào hiện tại.

 

111

Những kẻ cuồng tín đến từ đâu? Phần lớn từ hàng ngũ của những con-người-của-lời-nói phi sáng tạo. Sự phân chia có ư nghĩa nhất giữa những con-người-của-lời-nói, là giữa những người mà có thể t́m thấy sự măn nguyện trong công việc sáng tạo và những người không thể. Con-người-của-lời-nói sáng tạo – bất luận anh ta chỉ trích và giễu cợt trật tự hiện hành một cách cay đắng ra sao – th́ anh ta thực sự gắn chặt với hiện tại. Niềm đam mê của anh ta là sự cải tổ, chứ không phải sự hủy diệt. Khi phong trào vẫn hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của anh ta, th́ anh ta biến nó thành một vụ việc ôn ḥa. Những cải cách mà anh ta khởi xướng, đều chỉ là trên bề mặt, và cuộc sống cứ tiếp tục mà không có sự gián đoạn bất ngờ. Nhưng một sự phát triển như thế chỉ có thể xảy ra, khi hành động “vô chính phủ” của quần chúng không vào cuộc – hoặc bởi v́ trật tự cũ tự thoái vị mà không có một cuộc chiến đấu, hoặc bởi v́ con-người-của-lời-nói tự liên minh với những con-người-của-hành-động mạnh mẽ, vào khoảnh khắc mà sự hỗn loạn đe dọa sẽ “sổ lồng.” Khi cuộc chiến đấu với trật tự cũ là cam go và hỗn loạn, và sự thắng lợi chỉ có thể giành được bởi sự hợp nhất tối đa và sự hy sinh quên ḿnh, th́ con-người-của-lời-nói sáng tạo thường bị đẩy sang một bên, và việc quản lư những vụ việc rơi vào tay của những con-người-của-lời-nói phi sáng tạo – những kẻ bất thích nghi vĩnh viễn và những kẻ cuồng tín, khinh bỉ hiện tại (1).

Kẻ nào [mà] muốn viết một cuốn sách vĩ đại, vẽ một bức tranh vĩ đại, sáng tạo một tuyệt tác về kiến trúc, trở thành một khoa học gia vĩ đại, và biết rằng, anh ta sẽ măi măi không bao giờ có thể thành tựu điều này, ước mơ sâu thẳm nhất của ḿnh – một con người như thế, sẽ không t́m thấy b́nh an trong một trật tự xă hội ổn định, cũ hay mới. Anh ta thấy đời ḿnh như là bị hỏng một cách không thễ văn hồi, và thế giới măi măi ở trong sự hỗn loạn. Anh ta chỉ cảm thấy “như ở nhà” trong t́nh trạng hỗn loạn. Ngay cả khi anh ta tuân phục hay áp đặt một kỷ luật sắt, th́ anh ta chỉ đang tuân phục hay đang tạo ra cái công cụ không thể thiếu cho việc đạt tới một trạng thái biến dịch vĩnh viễn. Chỉ khi nào dấn ḿnh vào sự thay đổi, th́ anh ta mới có một cảm thức về tự do và cái cảm nhận rằng, anh ta đang tăng trưởng và đang phát triển. Chính là bởi v́ anh ta không bao giờ có thể thỏa hiệp với cái bản ngă của ḿnh, mà anh ta sợ sự dứt khoát [finality] và trật tự ổn định của sự vật. Marat, Robespierre, Lenin, Mussolini và Hitler là những thí dụ nổi bật của những kẻ cuồng tín nổi lên từ hàng ngũ của những con-người-của-lời-nói phi sáng tạo. Peter Viereck chỉ ra rằng, phần lớn những “ông lớn” [bigwigs] Đức Quốc Xă đều có những tham vọng về nghệ thuật và văn học, mà họ đă không thể thành tựu. Hitler thử sức với hội họa và kiến trúc; Goebbels, kịch, tiểu thuyết và thi ca; Rosenberg, kiến trúc và triết học; von Shirach, thi ca; Funk, âm nhạc; Streicher, hội họa. “Hầu như tất cả đều là những kẻ thất bại, không chỉ theo tiêu chuẩn thông thường, thô thiển của sự thành công, mà c̣n theo tiêu chuẩn nghệ thuật của chính họ.” Những tham vọng nghệ thuật và văn học của họ, “từ khởi thủy, là sâu xa hơn những tham vọng chính trị, và là bộ phận không thể thiếu của nhân cách họ.” (2)

Con-người-của-lời-nói sáng tạo, th́ bất an trong bầu khí của một phong trào năng động. Anh ta cảm thấy rằng, cái sự quay cuồng và nhiệt huyết của nó tát cạn năng lượng sáng tạo của ḿnh. Bao lâu mà anh ta vẫn c̣n có ư thức về cái ḍng chảy sáng tạo bên trong ḿnh, th́ anh ta sẽ không t́m thấy sự măn nguyện trong việc lănh đạo hàng triệu người và giành những thắng lợi. Kết quả là, một khi phong trào khởi sự lăn bánh, th́ anh ta, hoặc rút lui một cách tự nguyện, hoặc bị đẩy sang một bên. Vả lại, bởi v́ con-người-của-lời-nói đích thực không bao giờ có thể, một cách toàn tâm toàn ư và lâu dài, đè nén cái năng lực phê phán của ḿnh; do vậy, một cách không thể tránh được, anh ta bị ném vào trong vai tṛ của “kẻ tà đạo.” Như thế, trừ phi con-người-của-lời-nói sáng tạo bóp chết [dập tắt] cái phong trào sơ sinh bằng cách tự liên minh với những người-của-hành-động mạnh mẽ – hoặc trừ phi anh ta chết vào khoảnh khắc thích hợp – th́ sau cùng, anh ta có khả năng trở thành một kẻ ẩn dật bị xa lánh, hoặc bị lưu đày, hoặc phải đối mặt với một đội hành quyết.

 

112

Cái nguy hiểm mà kẻ cuồng tín gây ra cho một phong trào, là anh ta không thể nào tự đưa ḿnh vào thế ổn định. Một khi phong trào đă giành được thắng lợi, và trật tự mới bắt đầu kết tinh, th́ kẻ cuồng tín trở thành một yếu tố của sự căng thẳng gây chia rẽ. Sự ưa thích cảm xúc mạnh đẩy y tới chỗ t́m kiếm những bí ẩn chưa được phát lộ và những cánh cửa bí mật chưa được mở. Y tiếp tục quờ quạng t́m kiếm những cực đoan. Như thế, một khi đă giành được chiến thắng, th́ phần lớn những phong trào quần chúng thấy ḿnh trong ở trong ṿng kiềm tỏa của sự bất ḥa, tranh chấp. Sự cuồng nhiệt, mà ngày hôm qua t́m thấy một lối thoát trong cuộc tranh đấu sinh tử với những kẻ thù vĩnh cửu, th́ bây giờ tuôn ra trong những tranh chấp và va chạm bạo động của những bè phái. Sự thù hận trở thành một thói quen. Không c̣n kẻ thù nào để tiêu diệt, những kẻ cuồng tín biến nhau thành kẻ thù. Hitler – chính ông ta là một kẻ cuồng tín – có thể chẩn đoán, với sự chính xác, tâm trạng của những kẻ cuồng tín, vốn âm mưu chống lại ông ta bên trong hàng ngũ của đảng Quốc Xă. Trong mệnh lệnh cho thủ trưởng mới được bổ nhiệm của SA sau cuộc thanh trừng Rohm vào năm 1934, ông nói về những ai mà sẽ không ổn định, đứng ngồi không yên: “Không nhận thức điều đó, họ đă t́m thấy trong chủ nghĩa hư vô cái tín điều tối hậu của đức tin… sự bồn chồn và bất an của họ chỉ có thể t́m thấy sự thỏa măn trong hoạt động âm mưu của tâm trí, và măi măi âm mưu làm tan ră bất cứ cái mưu đồ nào t́nh cờ diễn ra trong khoảnh khắc đó” (3). Thường khi, những cáo buộc của Hitler chống lại những đối thủ [bên trong và bên ngoài Đế chế] chính là một sự tự bộc lộ [self-revelation] con người của chính ông. Nhất là trong những ngày cuối cùng của đời ḿnh, ông t́m thấy trong chủ nghĩa hư vô [nihilism] “triết lư tối hậu và những lời từ biệt tối hậu của ông” (4)

Nếu được phép làm theo cách của ḿnh, th́ kẻ cuồng tín có thể làm phân hóa một phong trào thành những nhóm ly khai [schism] và những “tà thuyết” [heresies], vốn đe đọa sự hiện hữu của nó. Ngay cả khi những kẻ cuồng tín không nuôi dưỡng sự bất ḥa, th́ họ có thể phá hủy phong trào bằng cách đẩy nó tới chỗ nỗ lực làm cái bất-khả. Chỉ có sự bước vào của một con-người-của-hành-động [có đầu óc] thực tiễn, th́ mới có thể cứu văn những thành quả của phong trào.



=========

1. See Section 37.

2. Peter Viereck, Metapolitics (New York: Alfred A. Knopf, 1941), pp. 156 and 170.

3. Hans Bernd Gisevius, To the Bitter End (Boston: Houghton Mifflin Company, 1947), pp. 121–122.

4. H. R. Trevor-Roper, The Last Days of Hitler (New York: Macmillan Company, 1947), p. 4.

 

 

Trở về Giới thiệu và Mục Lục

Xem tiếp Phần 4, Chương 17


 

art2all.net