ĐỖ TƯ NGHĨA

 

TÍN ĐỒ ĐÍCH THỰC ( THE TRUE BELIEVER)

Về bản chất của những phong trào quần chúng

Erich Hoffer / Đỗ Tư Nghĩa

==o))((o==

 

 PHẦN BỐN :

SỰ KHỞI ĐẦU VÀ SỰ KẾT THÚC

CỦA MỘT PHONG TRÀO QUẦN CHÚNG


CHƯƠNG XVII

NHỮNG CON-NGƯỜI-CỦA-HÀNH-ĐỘNG CÓ ĐẦU ÓC SÁNG SUỐT

113


          Một phong trào được [tiên phong] khởi xướng bởi những con-người-của-lời-nói, được hiện-thực-hóa bởi những kẻ cuồng tín, và được củng cố bởi những con-người-của-hành-động [có đầu óc sáng suốt].

Thường là một thuận lợi cho một phong trào – và có lẽ, là một điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại lâu dài của nó – nếu những vai tṛ này được đóng bởi những con người khác nhau, kế tục nhau như hoàn cảnh đ̣i hỏi. Khi cùng một người [hay những người, hay cùng một mẫu người] lănh đạo phong trào từ lúc mới “thai nghén” cho tới khi chín muồi, th́ nó thường chấm dứt trong thảm họa. Những phong trào Phát-xít và Đức Quốc Xă, không có một sự thay đổi kế tục trong sự lănh đạo, và cả hai đều kết thúc trong thảm họa. Chính là sự cuồng tín của Hitler, sự bất lực của ông trong việc thích nghi với t́nh huống mới, và [bất lực trong việc] đóng vai tṛ của con-người-của-hành-động [có đầu óc] sáng suốt, là cái đă mang đến sự đổ vỡ cho phong trào của ông. Nếu Hitler đă chết vào khoảng giữa những năm 1930, th́ có ít sự nghi ngờ rằng, một con-người-của-hành động thuộc loại của Goering có lẽ đă kế tục sự lănh đạo, và phong trào có lẽ đă sống sót.

Dĩ nhiên, có khả-tính của một thay đổi về tính chất. Một con-người-của-hành-động có thể biến thành một kẻ cuồng tín đích thực, hoặc thành một con-người-của-hành động [có đầu óc] thực tiễn. Thế nhưng, bằng chứng chỉ ra rằng, những chuyển đổi như thế thường tạm bợ, và rằng, không sớm th́ muộn, có một sự quay ngược trở lại mẫu người nguyên thủy. Trotsky, về bản chất, là một con-người-của-lời-nói tự phụ, thông minh, và cá nhân chủ nghĩa từ trong cốt lơi. Sự sụp đổ tan tành của một Đế Quốc và cái ư chí áp đảo mang ông ta vào trong trận doanh của những kẻ cuồng tín. Trong cuộc nội chiến, ông phô bày những tài năng vô song như là một nhà tổ chức và một vị tướng. Nhưng cái khoảnh khắc khi mà sự căng thẳng được nới lỏng ở cuối cuộc nội chiến, th́ ông trở lại là một con-người-của-lời-nói, không có sự tàn bạo và những ngờ vực đen tối, đặt sự tin cậy của ḿnh vào lời nói hơn là bạo lực tàn nhẫn, và tự cho phép ḿnh bị đẩy sang một bên bởi Stalin, một kẻ cuồng tín và thủ đoạn.

Stalin, chính ông ta, là một kết hợp của một kẻ cuồng tín và một con-người-của-hành động, với sự thống trị của nét cuồng tín. Những sai lầm nghiêm trọng chết người của ông – sự thủ tiêu những kulaks [phú nông] và hậu duệ của họ, sự khủng bố của những cuộc thanh trừng, ḥa ước với Hitler, sự can thiệp vụng về vào công việc sáng tạo của những nhà văn, những nghệ sĩ, và những nhà khoa học – là những sai lầm nghiêm trọng của một kẻ cuồng tín. Có ít cơ may cho những người Nga nếm được những niềm vui của hiện tại trong khi Stalin, kẻ cuồng tín, đang nắm quyền lực.

Hitler cũng chủ yếu là một kẻ cuồng tín, và sự cuồng tín của ông làm hỏng những thành quả đáng chú ư của ông như là một con-người-của-hành-động.

Dĩ nhiên, có những lănh tụ hiếm hoi như Lincoln, Gandhi, ngay cả F.D.R, Churchill và Nehru. Các vị này không do dự trong việc khai thác những khao khát và sợ hăi của con người để biến quần chúng thành một khối chặt chẽ và làm cho họ cuồng nhiệt cho đến chết trong việc phụng sự một “sự nghiệp thần thánh”; nhưng không giống một Hitler, một Stalin, hay ngay cả một Luther và Calvin, (1) các vị không bị cám dỗ tới chỗ sử dụng cái chất bùn [slime] của những linh hồn phẫn chí như chất hồ vữa, để xây dựng một thế giới mới. Ḷng tự tin của những lănh tụ hiếm hoi này được xuất phát từ, và ḥa trộn với, đức tin của họ vào nhân-tính [humanity] – bởi v́ họ biết rằng, không ai có thể đáng kính trừ phi anh ta tôn vinh nhân-loại [mankind].

 

114

Con-người-của-hành-động  [có đầu óc sáng suốt] sẽ tránh cho phong trào những bất ḥa có tính tự sát và sự liều lĩnh của những kẻ cuồng tín. Nhưng sự xuất hiện của anh ta thường đánh dấu sự kết thúc của giai đoạn năng động của phong trào. Cuộc chiến đấu với hiện tại đă qua. Con-người-của-hành-động đích thực không quyết tâm canh tân thế giới, mà quyết tâm sở hữu nó. Trong khi hơi thở sống của giai đoạn năng động là sự phản đối và một ước mơ về sự thay đổi mạnh mẽ, th́ giai đoạn sau cùng, chủ yếu quan tâm đến việc quản lư và duy tŕ cái quyền lực đă giành được.

_____

 Chú ư: “con-người-của-hành-động” có thể chia thành 2 loại: “con-người-của-hành-động cuồng tín,” và “con-người-của-hành-động có đầu óc sáng suốt.” Loại trước, là những người như Hitler, Stalin... Loại sau, như Gandhi, Neru, Lincoln, Churchill...

 

Với sự xuất hiện của con-người-của-hành-động [có đầu óc thực tiễn], th́ cái khí lực bùng nổ của phong trào được “ướp xác,” phong kín trong những định chế đă được hợp thức hóa. Một phong trào tôn giáo kết tinh trong một đẳng trật và một nghi thức hành lễ; một phong trào cách mạng, trong những cơ quan cảnh giác [organs of vigilance] và hành chính; một phong trào dân tộc chủ nghĩa, trong những định chế chính quyền. Việc thiết lập một giáo hội đánh dấu sự kết thúc của tinh thần phục hưng; những cơ quan của một cuộc cách mạng thắng lợi, thủ tiêu cái tâm thái và kỹ thuật cách mạng; những thiết chế chính quyền của một dân tộc mới, hay được phục hưng, kết thúc cái sự hiếu chiến sô-vanh chủ nghĩa. Những định chế “đông đặc lại” [freeze] thành một mẫu mực của hành động hợp quần. Trong một tập thể định-chế-hóa, th́ các thành viên của nó được mong đợi sẽ hành động như là một người, thế nhưng, họ phải đại diện cho một tập hợp lỏng lẻo, hơn là một hợp-sinh [coalescence] tự phát. Họ phải được hợp nhất chỉ thông qua sự trung thành bất-khả-nghi-vấn của họ với những định chế. Sự tự phát là đáng ngờ, và bổn phận được đánh giá cao hơn sự hiến thân.

 

115

Mối bận tâm chính của một con-người-của-hành-động, khi anh ta tiếp quản một phong trào “đă tới,” là ổn định hóa và duy tŕ sự thống nhất và sự sẵn sàng hy sinh quên ḿnh. Lư tưởng của anh ta là một cái-toàn-thể chặt chẽ, vô địch, vận hành một cách tự động. Để thành tựu việc này, anh ta không thể dựa vào ḷng nhiệt huyết, bởi v́ ḷng nhiệt huyết th́ phù du. Sự thuyết phục, cũng khó đoán trước. Do vậy, anh ta có khuynh hướng dựa chủ yếu vào sự nhồi sọ và sự cưỡng chế. Anh ta thấy sự khẳng định rằng, mọi con người đều là kẻ hèn nhát, dễ được chấp nhận hơn sự khẳng định rằng, mọi con người đều là kẻ xuẩn ngốc,  và như lời của Sir John Maynard, có khuynh hướng sáng lập ra cái trật tự mới trên cổ dân chúng hơn là trong trái tim họ (2). Con người-của-hành-động đích thực, không phải là con người của đức tin, mà là con người của luật lệ.

__________

 Coward: Kẻ hèn nhát; Fool: kẻ xuẩn ngốc; kẻ khờ. Tác giả muốn nói: Không phải ai cũng xuẩn ngốc, nhưng ai cũng dễ trở thành kẻ hèn nhát – nghĩa là, họ dễ sợ hăi. Do vậy, chỉ cần biết cách làm cho họ sợ hăi, là có thể cai trị họ. 

 

Tuy nhiên, anh ta không thể không bị khiếp đảm bởi những thành quả to lớn của đức tin và sự tự phát trong những ngày đầu của phong trào, khi một công cụ hùng mạnh của quyền lực được “úm ba la” từ khoảng chân không. Kư ức về nó vẫn c̣n cực kỳ sống động. Do vậy, anh ta hết sức quan tâm đến việc duy tŕ, trong những định chế mới, một cái “mặt tiền” của đức tin, và duy tŕ một lưu lượng vô tận của sự tuyên truyền cuồng nhiệt, mặc dù anh ta dựa chủ yếu vào sự “thuyết phục” của bạo lực. Những mệnh lệnh của anh ta được diễn đạt trong những từ ngữ “sùng đạo” [pious], và những công thức và khẩu hiệu cũ, vẫn liên tục ở trên môi anh ta. Những biểu tượng của đức tin được nâng lên cao, và được sùng kính. Những người-của-lời-nói và những kẻ cuồng tín của giai đoạn đầu đều được “phong thánh.” Mặc dù những ngón tay sắt của sự cưỡng chế hoành hành khắp nơi, và sự “nhồi sọ” máy móc được nhấn mạnh, song những câu nói “sùng đạo” và sự tuyên truyền cuồng nhiệt gán cho sự cưỡng chế một cái “tựa như” sự thuyết phục, và khoác vào bộ áo của một cái “tựa như” sự tự phát. Người ta không từ nan nỗ lực nào để tŕnh bày cái trật tự mới như là sự hoàn tất vinh quang của những hy vọng và những đấu tranh của những ngày đầu tiên.

Con-người-của-hành-đông th́ chiết trung  trong những phương pháp mà anh ta dùng để mang đến cho cái trật tự mới sự ổn định và sự thường hằng. Anh ta vay mượn gần và xa, và từ bạn bè và kẻ thù. Thậm chí, anh ta đi trở lại cái trật tự cũ – vốn đă hiện hữu trước khi có phong trào – và “chiếm đoạt” từ nó nhiều kỹ thuật cho sự ổn định, và như thế, một cách không cố ư, thiết lập sự liên tục với quá khứ. Cái định chế của một nhà độc tài tuyệt đối, vốn đặc trưng cho giai đoạn này, là sự vận dụng cố ư một chiêu thức, hơn là sự biểu hiện của sự thèm khát quyền lực đơn thuần. Có lẽ, chủ nghĩa Byzantinism có mặt một cách lộ liễu, cả ở giai đoạn khai sinh lẫn ở giai đoạn suy tàn của một tổ chức. Nó biểu đạt một ao ước về một mẫu mực ổn định, và nó có thể được dùng, hoặc là để tạo h́nh thể cho cái chưa định h́nh, hoặc để gắn kết lại cái mà có vẻ như đang tan ră. Sự bất-khả-sai-lầm của vị giám mục La Mă, được đề xuất bởi Irenaeus [thế kỷ II] trong những ngày sớm sủa nhất của triều đại của giáo hoàng và bởi Pius IX vào năm 1870, khi mà triều đại của giáo hoàng có vẻ như đang ở trên bờ vực diệt vong.

______

 Electic: hỗn tạp.

 

Như thế, cái trật tự được khai triển bởi một con-người-của-hành-động, là một “tấm vải chắp vá” [patchwork]. Nước Nga của Stalin là một sự chắp vá của chủ nghĩa Bolshevik, chế độ Nga hoàng, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa pan-Slavism,• chủ nghĩa độc tài và những vay mượn từ Hitler, và chủ nghĩa tư bản độc quyền. Đế chế thứ III [Third Reich] của Hitler là một khối hỗn hợp của chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa sắc tộc, chủ nghĩa quân phiệt Phổ, chủ nghĩa độc tài và những vay mượn từ chủ nghĩa Phát-xít, chủ nghĩa Bolshevik, Thần đạo [Shintonism], Công giáo và Do Thái giáo cổ đại. Ki-tô giáo – sau những xung đột và bất ḥa của vài thế kỷ đầu tiên, kết tinh thành một giáo hội độc đoán – là một sự chắp vá của cái cũ và cái mới, và của những cái vay mượn từ bạn và thù. Nó “mô h́nh hóa” [patterned] cái đẳng trật của nó theo hệ thống hành chánh của Đế quốc La Mă, áp dụng một vài phần của nghi thức cổ xưa, phát triển cái định chế của một lănh tụ tuyệt đối, và dùng mọi phương tiện để thu hút mọi thành tố hiện hành của cuộc sống và quyền lực. (3)

__________

• Pan-slavism: Sự cổ xúy việc hợp nhất mọi dân tộc thuộc giống người Slave trong một tổ chức chính trị.

 

116

Trong bàn tay của một con-người-của-hành-động, th́ phong trào quần chúng thôi không c̣n là một nơi tị nạn để thoát khỏi những thống khổ và những gánh nặng của một hiện hữu cá nhân; nó trở thành một phương tiện cho sự tự-thực-hiện của kẻ đầy tham vọng. Sự hấp dẫn không thể cưỡng lại – mà bây giờ phong trào tác động trên những ai bận tâm với sự nghiệp cá nhân của họ – là một dấu chỉ rành rọt, cho thấy sự thay đổi mạnh mẽ trong tính chất của nó và sự thỏa hiệp của nó với hiện tại. Cũng rơ ràng rằng, sự tràn vào của những con người ham địa vị [carreer men] này đẩy nhanh sự chuyển hóa của phong trào thành một “doanh nghiệp.” Hitler – kẻ có một tầm nh́n rơ ràng về toàn bộ diễn biến của một phong trào ngay cả khi ông đang nuôi dưỡng đảng Quốc Xă của ông, khi nó c̣n “bé dại” – cảnh báo rằng, bao lâu mà nó không thể hiến tặng cái ǵ trong hiện tại, ngoài “danh dự và danh thơm trong mắt hậu thế,” và rằng, khi nó bị xâm lăng bởi những ai muốn tận dụng hiện tại, th́ cái ‘sứ mạng’ [khởi thủy] của một phong trào, đă kết thúc.” (4) Ở giai đoạn này, phong trào vẫn bận tâm đến những kẻ phẫn chí, nhưng không phải để khai thác sự bất măn của họ thành một cuộc đấu tranh sinh tử với hiện tại, mà là để làm cho họ thỏa hiệp với nó; làm cho họ kiên nhẫn và nhu ḿ. Nó hiến tặng cho họ niềm hy vọng xa xôi, giấc mơ và viễn ảnh xa vời [the vision] (5). Như thế, ở cuối cái giai đoạn cường tráng của nó, th́ phong trào là một công cụ của quyền lực cho kẻ thành công, và là một chất ma túy cho kẻ phẫn chí.

 

=========

1. Both Luther and Calvin “aimed to set up a new church authority which would be more powerful, more dictatorial and exacting, and far more diligent in persecuting heretics, than the Catholic Church.” Jerome Frank, Fate and Freedom (New York: Simon and Schuster, Inc., 1945), p. 283.

2. John Maynard, Russia in Flux (London: Victor Gollancz, Ltd., 1941), p. 19.

3. John Addington Symonds, The Fine Arts “Renaissance in Italy” series (London: Smith, Elder & Company, 1906), pp. 19–20.

4. Adolph Hitler, Mein Kampf (Boston: Houghton Miffin Company, 1943), p. 105.

5. See Section 25.

 

Trở về Giới thiệu và Mục Lục

Xem tiếp Phần 4, Chương 18


 

art2all.net