ĐỖ TƯ NGHĨA

 

TÍN ĐỒ ĐÍCH THỰC ( THE TRUE BELIEVER)

Về bản chất của những phong trào quần chúng

Erich Hoffer / Đỗ Tư Nghĩa

==o))((o==

 

 PHẦN BỐN :

SỰ KHỞI ĐẦU VÀ SỰ KẾT THÚC

CỦA MỘT PHONG TRÀO QUẦN CHÚNG


CHƯƠNG XVII

NHỮNG BẤT LỢI VÀ TÍNH “VÔ SINH” CỦA GIAI ĐOẠN NĂNG ĐỘNG.

117


          Cuốn sách này quan tâm chủ yếu đến giai đoạn năng động của những phong trào quần chúng – giai đoạn được định h́nh và thống trị bởi “tín đồ đích thực.” Chính trong giai đoạn này, mà những phong trào quần chúng đủ loại thường hay biểu lộ những nét chung, mà chúng ta đă cố gắng phác họa. Bây giờ, có vẻ như đúng là, bất luận cái mục đích nguyên thủy của một phong trào có cao cả bao nhiêu – và bất luận cái kết quả sau cùng có lợi lạc đến đâu – th́ giai đoạn năng động tất yếu gây cho chúng ta ấn tượng rằng, nó không thú vị, nếu không nói là xấu ác. Kẻ cuồng tín, vốn là hiện thân của giai đoạn này, thường thuộc mẫu người “khó ưa.” Y tàn bạo, tự-thị, cả tin, ưa tranh chấp, nhỏ mọn và thô lỗ. Y thường sẵn sàng hy sinh những thân thích và bạn hữu cho cái sự nghiệp “thiêng liêng” của ḿnh. Cái sự hợp-nhất [unity] tuyệt đối và sự sẵn sàng hy sinh – vốn mang đến cho một phong trào năng động cái sức mạnh vô địch, và làm cho nó có thể đảm trách cái bất khả – thường được đạt tới bằng việc hy sinh nhiều thứ thú vị và quư giá trong cá nhân tự-trị. Không có phong trào quần chúng nào – bất luận đức tin của nó cao cả đến đâu, và mục đích của nó xứng đáng đến đâu – có thể tốt lành, nếu giai đoạn năng động của nó quá dài, và, nhất là, nếu nó được tiếp tục sau khi phong trào đă sở hữu quyền lực một cách vững chắc. Những phong trào quần chúng mà chúng ta xem là ít nhiều “nhân từ” [beneficient] – phong trào Cải Cách, cuộc Cách mạng Thanh giáo, Cách mạng Pháp, và Cách mạng Hoa Kỳ, và nhiều trong số những phong trào dân tộc chủ nghĩa của 100 năm qua – đă có những giai đoạn năng động tương đối ngắn, mặc dù trong khi chúng c̣n tồn tại, th́, ở một mức độ lớn hơn hay nhỏ hơn, chúng mang dấu ấn của một kẻ cuồng tín. Vị lănh tụ phong trào quần chúng nào mà làm lợi cho dân chúng của ông ta và nhân loại, th́ không chỉ biết cách khởi động một phong trào, mà, giống như Gandhi, c̣n biết khi nào phải chấm dứt giai đoạn năng động của nó.

Nơi nào mà một phong trào quần chúng duy tŕ [trong nhiều thế hệ] cái mẫu mực được định h́nh bởi cái giai đoạn năng động của nó [như trường hợp của giáo hội hiếu chiến trong suốt thời Trung Cổ], hoặc nơi nào mà – bởi sự kế tục của những “kẻ tân ṭng” cuồng tín, cái “tính chính thống” của nó được liên tục củng cố [như trong trường hợp của Hồi giáo] (1) – th́ kết quả là, một kỷ nguyên của tŕ trệ, một thời đại tăm tối. Bất cứ khi nào chúng ta t́m thấy một giai đoạn của sự sáng tạo đích thực gắn liền với một phong trào quần chúng, th́ nó hầu như luôn luôn là một giai đoạn, mà hoặc đi trước hay, thường xuyên hơn, theo sau cái giai đoạn năng động. Miễn là giai đoạn năng động của phong trào không quá dài và không gây ra sự đổ máu và sự hủy diệt thái quá, th́ sự kết thúc của nó – nhất là đó là một kết thúc đột ngột – thường hay phóng thích một sự bùng nổ của tính sáng tạo. Điều này có vẻ như đúng, cả khi phong trào kết thúc trong chiến thắng [như trường hợp của Cuộc dấy loạn Hà Lan], lẫn khi nó chấm dứt trong chiến bại [như trường hợp của Cách mạng Thanh giáo]. Không phải cái “tính lư tưởng” [idealism] và nhiệt t́nh của phong trào là nguyên nhân của bất cứ sự “hồi sinh” [renascence] văn hóa nào vốn theo sau nó, mà đúng hơn, là do sự nới lỏng của kỷ luật tập thể và sự giải phóng cá nhân khỏi bầu khí ngột ngạt của đức tin mù quáng và sự khinh bỉ đối với cái bản ngă của anh ta và [đối với] hiện tại. Đôi khi sự khát khao muốn lấp đầy cái khoảng trống – được bỏ lại bởi cái sự nghiệp thần thánh đă bị đánh mất hay bị bỏ rơi – lại trở thành một xung lực sáng tạo (2).

Giai đoạn năng động, chính nó, th́ “vô sinh.”  Trotsky biết rằng, “những giai đoạn của căng thẳng cao độ trong những cảm xúc xă hội cuồng nhiệt để lại ít chỗ cho sự chiêm niệm và sự suy tư. Tất cả những “nguồn cảm hứng” [muses] – ngay cả cái cảm hứng “hạ lưu” [plebeian muse] của báo chí mặc dù cái hông [hip] vạm vỡ của nó – tiến triển một cách khó khăn trong những thời kỳ của cách mạng” (3). Napoleon (4) và Hitler đều “xấu hổ” [mortified] bởi cái tính chất thiếu máu của văn học và nghệ thuật được sản xuất ra trong thời đại anh hùng, và kêu đ̣i những tuyệt tác phẩm, mà sẽ xứng đáng với những kỳ tích của thời đại. Họ không hề có một khái niệm, dù mơ hồ, rằng, cái bầu khí của một phong trào năng động đă làm tàn phế hoặc bóp chết tinh thần sáng tạo. Milton, vào năm 1640, là một nhà thơ đầy triển vọng, với một bản nháp của Paradise Lost trong túi. Ông đă bỏ ra 20 năm “vô sinh” để viết những truyền đơn chính trị, và bị ứ tận cổ trong “đại dương của những tiếng ồn và những tranh chấp thô thiển,” (5) vốn là cuộc Cách mạng Thanh giáo. Khi Cách mạng đă chết và bản thân ông bị thất sủng, ông sáng tác Paradise Lost, Paradise RegainedSamson Agonistes.

__________

 Sterility: Chữ “vô sinh” ở đây, có nghĩa là “hoàn toàn thiếu tính sáng tạo.”

 

118

Sự can thiệp của một phong trào quần chúng năng động vào quá tŕnh sáng tạo, th́ sâu xa và nhiều mặt: 1/ Cái nhiệt t́nh mà nó làm phát sinh, tát cạn những năng lượng mà có lẽ đă chảy vào trong công việc sáng tạo. Nhiệt t́nh có cùng tác động [hiệu quả] trên tính sáng tạo giống như sự phóng đăng. 2/ Việc sáng tạo bị phụ thuộc vào sự thăng tiến của phong trào. Văn học, nghệ thuật và khoa học phải có tính tuyên truyền và chúng phải “thực tiễn.” Nhà văn, nhà nghệ sĩ, hoặc nhà khoa học cuồng tín,” không sáng tạo để tự biểu hiện ḿnh, hoặc để cứu linh hồn ḿnh, hoặc để phát hiện ra cái chân và cái mỹ. Công việc của anh ta, như anh ta quan niệm, là cảnh báo, khuyên răn, thúc giục, tôn vinh và tố giác. 3/ Nơi nào mà một phong trào quần chúng mở ra những lănh vực bao la của hành động [chiến tranh, sự thực dân hóa, công nghiệp hóa], th́ ở đó, năng lượng sáng tạo cũng bị tát cạn. 4/ Tâm thái cuồng tín, một ḿnh nó, có thể bóp nghẹt mọi h́nh thức của công việc sáng tạo. Sự khinh bỉ đối với hiện tại làm cho kẻ cuồng tín mù ḷa trước tính phức tạp và sự độc đáo của cuộc sống. Đối với y, th́ những sự-thể vốn lay động kẻ làm công việc sáng tạo, dường như vặt vănh hay đồi bại. “Những nhà văn của chúng ta phải diễu hành sát cánh trong những hàng ngũ, và kẻ nào bước chệch khỏi con đường, [để hái hoa], th́ giống như một kẻ đào ngũ.” Những lời này của Konstantine Simonov vang vọng chính ư tưởng và những lời của những kẻ cuồng tín qua các thời đại. Rabbi Jacob [thế kỷ thứ I, sau công nguyên] nói: “Kẻ nào bước đi trên đường… và ngắt quăng việc nghiên cứu của ḿnh [về kinh Torah] và nói: ‘Cây này đẹp làm sao,’ hay ‘Cánh đồng này đẹp làm sao,’ tự ḿnh phạm tội chống lại linh hồn của chính ḿnh”(6). St Bernard của Clerveaux có thể bước đi suốt ngày bên hồ Geneva và không bao giờ thấy cái hồ. Trong Refinement of the Arts, David Hume kể về một nhà tu [monk] “mà, bởi v́ những cửa sổ cái thất độc cư [cell] của ông mở ra một quang cảnh tráng lệ, làm một giao kèo với đôi mắt ông, là sẽ không bao giờ quay sang hướng đó.” Sự mù quáng của kẻ cuồng tín là một nguồn sức mạnh [y không thấy trở ngại nào], nhưng nó cũng là nguyên nhân của sự vô-sinh trí thức và sự đơn điệu về cảm xúc.

Kẻ cuồng tín cũng tự phụ, và do vậy, hoàn toàn thiếu vắng những khởi đầu mới. Ở gốc rễ của sự tự măn của y, là xác tín rằng, sự sống và vũ trụ tuân phục một công thức giản dị – công thức của y. Như thế, khi tâm trí y đă có sẵn giải pháp, th́ không có khoảng thời gian ḍ dẫm, vốn rất hữu ích, sẵn sàng cho mọi cách phản ứng mới, những tổ hợp mới và những khởi đầu mới.

 

119

Khi một phong trào quần chúng năng động biểu lộ sự độc đáo, th́ đó thường là một sự độc đáo của việc áp dụng và của cái quy mô to lớn của nó. Những nguyên tắc, những phương pháp, những kỹ thuật, vân vân, mà một phong trào quần chúng áp dụng và khai thác, thường là sản phẩm của một tính sáng tạo vốn năng động và vẫn c̣n năng động bên ngoài phạm vi của phong trào. Tất cả những phong trào quần chúng năng động đều có cái sự bắt chước trơ trẽ đó – sự bắt chước mà khiến chúng ta liên tưởng đến những người Nhật. Ngay cả trong lănh vực tuyên truyền, th́ những đảng viên Quốc Xă và những đảng viên Cộng sản bắt chước nhiều hơn [là họ] phát minh. Họ rao bán cái “thương hiệu” của “sự nghiệp thần thánh” theo cách mà những nhà quảng cáo tư bản chủ nghĩa rao bán cái thương hiệu xà pḥng hay thuốc lá (7). Nhiều cái mà gây cho chúng ta ấn tượng rằng, những phương pháp của những đảng viên Quốc xă và những đảng viên Cộng sản là mới mẻ, th́ chúng đều bắt nguồn từ sự kiện rằng, họ đang điều hành [hay đang cố điều hành] những đế chế [empire] bao la, theo cách mà một Ford hay một DuPont điều hành đế quốc kỹ nghệ của ông ta. Có lẽ đúng rằng, sự thành công của sự thử nghiệm Cộng sản chủ nghĩa sẽ luôn luôn tùy thuộc vào sự sáng tạo “được tháo xiềng” [unfettered], vốn đang tiến hành trong cái thế giới bên ngoài, phi Cộng sản. Những con người trơ trẽn tại Kremlin nghĩ rằng, đó là một sự nhượng bộ “hào hiệp” khi họ nói rằng, chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản có thể tiếp tục lâu dài, song hành với nhau. Thực ra, nếu không có những xă hội tự do nào bên ngoài quỹ đạo Cộng sản, th́ có lẽ, họ thấy cần thiết phải ban hành sắc lệnh để thiết lập chúng.

 

VÀI YẾU TỐ QUY ĐỊNH ĐỘ DÀI CỦA GIAI ĐOẠN NĂNG ĐỘNG.

120

Một phong trào quần chúng với một mục tiêu cụ thể, có giới hạn, th́ có khả năng là nó có một giai đoạn năng động ngắn hơn, so với một phong trào với một mục tiêu mơ hồ, bất định. Mục tiêu mơ hồ có lẽ là không thể thiếu cho sự phát triển của chủ nghĩa cực đoan măn tính. Oliver Cromwell nói: “Một người phải đi xa nhất, là khi anh ta không biết ḿnh đang đi đâu.” (8)

Khi một phong trào quần chúng được khởi động để giải phóng một dân tộc khỏi sự chuyên chế – của nhà cầm quyền trong nước hay của ngoại bang, hoặc để chống lại một kẻ gây hấn, hoặc để canh tân một xă hội chậm tiến – th́ có một điểm kết thúc, một khi cuộc đấu tranh với kẻ thù đă qua, hoặc quá tŕnh tái tổ chức đang đi gần đến chỗ hoàn tất. Trái lại, khi mục tiêu là một xă hội lư tưởng của sự hợp nhất hoàn hảo và sự “vô ngă” – bất luận nó là Thành phố của Thượng đế, một thiên đường dưới thế Cộng sản chủ nghĩa, hay nhà nước quân phiệt của Hitler – th́ giai đoạn năng động không có một kết thúc tự động. Nơi nào mà sự hợp nhất và sự hy sinh quên ḿnh là không thể thiếu cho sự vận hành b́nh thường [normal] của một xă hội, th́ rất có thể, cuộc sống thường nhật phải được hoặc tôn giáo hóa [những nhiệm vụ b́nh thường bị biến thành những ‘sự nghiệp thần thánh’], hoặc được quân sự hóa. Trong mỗi trường hợp, có khả năng là cái mẫu mực được phát triển bởi giai đoạn năng động sẽ được ổn định hóa và được duy tŕ. Trong cái nửa sau đầy hy vọng của thế kỷ 19, th́ Jacob Burchard và Ernest Renan là ở trong số rất ít những người, mà có vẻ như cảm nhận được cái sự hệ lụy không may đang ŕnh rập trong thiên niên kỷ sắp đến. Burckhardt thấy cái xă hội quân sự hóa : “Tôi có một linh cảm mà nghe ra như là điên rồ, và thế nhưng, nó đeo đẳng không chịu rời tôi: nhà nước quân sự chắc chắn sẽ trở thành một nhà máy lớn… Cái mà phải đến một cách hợp logic, là một giai đoạn khốn khổ, xác định và được giám sát, với những lời động viên và trong những bộ đồng phục, hằng ngày bắt đầu và chấm dứt theo những tiếng trống” (9). Cái tri kiến [insight] của Renan c̣n đi sâu hơn nữa. Ông cảm thấy rằng chủ nghĩa xă hội là tôn giáo đang đến của phương Tây, và rằng, là một tôn giáo thế tục, nó sẽ dẫn đến một sự tôn giáo hóa chính trị và kinh tế. Ông cũng sợ hăi một sự hồi sinh của Công giáo như là một phản ứng chống lại cái tôn giáo mới đó: “Chúng ta hăy run rẩy. Vào chính khoảnh khắc này đây, có lẽ, tôn giáo của tương lai đang trong quá tŕnh h́nh thành; và chúng ta không có vai tṛ nào trong nó! Sự cả-tin có những gốc rễ sâu xa. Chủ nghĩa xă hội có thể mang trở lại, bởi sự đồng lơa [complicity] của Công giáo, một thời Trung cổ mới, với những kẻ man rợ [barbarians], những giáo hội, những vật cản [eclipses] của tự do và tính cá nhân – nói tóm lại, những vật cản của nền văn minh. (10)

 

121

Có lẽ, có hy vọng nào đó xuất phát từ sự kiện rằng, trong phần lớn những trường hợp, nơi nào mà một toan tính thực hiện một xă hội lư tưởng sản sinh ra cái xấu xa và bạo động của một phong trào quần chúng năng động kéo dài, th́ sự thử nghiệm được làm trên một quy mô to lớn và với một dân số đa chủng. Đó là trường hợp trong sự nổi lên của Ki-tô giáo và Hồi giáo, và trong cách mạng Pháp, Cách mạng Nga, và Cách mạng Đức Quốc xă. Những khu định cư đầy hứa hẹn trong nhà nước nhỏ bé của Israel và những chương tŕnh thành công của việc xă hội hóa trong những nhà nước Scandinavia nhỏ bé, cho thấy rằng, khi nỗ lực thực hiện một xă hội lư tưởng được đảm trách bởi một dân tộc nhỏ, với một dân số ít nhiều độc chủng [homogeneous], th́ nó có thể xúc tiến và thành công trong một bầu khí không cuồng loạn, cũng không cưỡng chế. Cái nỗi kinh hăi, mà một dân tộc có về sự lăng phí cái “chất liệu con người” [human material] quư báu của nó, cái nhu cầu khẩn cấp của nó cho sự hài ḥa và sự dính kết nội tại như là một biện pháp chống lại sự gây hấn từ bên ngoài, và, sau cùng, cái cảm nhận của nhân dân nó rằng, họ, tất cả họ, đều cùng một gia đ́nh – những cái đó nuôi dưỡng một sự sẵn sàng cho sự hợp tác tối đa, mà không cần phải quay sang sự tôn giáo hóa hoặc quân sự hóa. Rất có thể, sẽ may mắn cho phương Tây, nếu việc thực hành tất cả những thử nghiệm xă hội cực đoan được hoàn toàn giao phó cho những nhà nước nhỏ với những dân số độc chủng, văn minh. Nguyên tắc của một “nhà máy hoa tiêu” [pilot plant], được thực hành trong những ngành công nghiệp sản xuất hàng loạt, như thế, có thể được vận dụng trong việc thực hiện sự tiến bộ xă hội. Sự kiện rằng, những dân tộc nhỏ bé sẽ cho phương Tây bản kế hoạch chi tiết [the blueprint] của một tương lai đầy hy vọng, sẽ trong chính nó, là bộ phận của một mẫu mực [đă được xác lập] lâu đời. Bởi v́ những nhà nước nhỏ bé của Trung Đông, Hy Lạp, và Ư, đă cho chúng ta tôn giáo của chúng ta và những yếu tố cốt tủy của nền văn hóa và nền văn minh của chúng ta.
Có một sự kết nối kết khác giữa tính chất của quần chúng và bản chất và độ dài của một phong trào quần chúng năng động. Sự kiện là, người Nhật, người Nga và người Đức – vốn cho phép sự tiếp tục bất tận của một phong trào quần chúng năng động, mà không có một dấu hiệu nào của sự chống đối – họ đều dễ bảo, quen với sự tuân phục hay kỷ luật sắt trong nhiều thế kỷ trước sự nổi lên của những phong trào quần chúng [của họ] trong thời hiện đại. Lenin nhận biết về cái thuận lợi to lớn mà sự dễ bảo của quần chúng Nga đă cho ông. Ông kêu lên: “Làm thế nào bạn có thể so sánh quần chúng của Tây Âu với nhân dân ta – quá kiên nhẫn, quá quen với sự thiếu thốn?” (11). Bất cứ ai đọc những ǵ mà Madame de Stael đă nói về người Đức hơn một thế kỷ trước, không thể không nhận thức rằng, họ là chất liệu lư tưởng cho một phong trào quần chúng bất tận. Bà nói : “Người Đức rất mạnh mẽ nhưng lại dễ bảo. Họ sử dụng những “lư lẽ” [reasonings] triết học để giải thích những ǵ ít có tính triết học nhất trên thế giới; họ tôn trọng bạo lực và sự sợ hăi, vốn chuyển hóa sự tôn trọng thành sự thán phục” (12).

Người ta không thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, sẽ là bất-khả cho một Hitler hay một Lenin nổi lên trong một đất nước có một truyền thống tự do lâu đời. Những ǵ có thể được khẳng định, với mức độ khả-tín nào đó, là trong một đất nước có truyền thống tự do, th́ một Hitler hay một Lenin có thể không thấy quá khó để giành quyền lực, nhưng lại thấy cực kỳ khó để tự duy tŕ chính ḿnh một cách vô thời hạn. Bất cứ sự cải thiện rơ nét nào trong những điều kiện kinh tế, hầu như chắc chắn sẽ kích hoạt cái truyền thống tự do, vốn là một truyền thống của sự phản kháng. Tại nước Nga, như đă được chỉ ra trong tiết 45, th́ cá nhân mà đứng lên chống lại Stalin, anh ta không có ǵ để tự đồng hóa với, và năng lực để kháng cự lại sự cưỡng chế, là bằng không. Nhưng trong một đất nước có truyền thống tự do, th́ cá nhân nào mà chống lại sự cưỡng chế, không cảm thấy ḿnh là một “nguyên tử người” [human atom] cô lập, mà là một nguyên tử của một sắc tộc hùng mạnh – những tổ tiên phản loạn của anh ta.

 

122

Nhân cách của lănh tụ rất có thể là một yếu tố hệ trọng trong việc quy định bản chất của một phong trào quần chúng. Những lănh tụ hiếm hoi như Lincoln và Gandhi, không chỉ cố gắng khống chế cái xấu ác nội tại [inherent] trong một phong trào quần chúng, mà họ c̣n sẵn ḷng chấm dứt phong trào, khi mục tiêu của nó ít nhiều đă đươc thành tựu. Họ ở trong số những người rất ít, mà trong họ “quyền lực đă phát triển một sự cao cả và độ lượng của linh hồn” (13). Cái tâm thức Trung cổ và sự tàn nhẫn có tính bán khai của Stalin, là những nhân tố chính yếu trong sự năng động kéo dài của phong trào Cộng sản. Thật là vô ích để mà suy đoán về việc Cách mạng Nga đă có thể ra sao, nếu Lenin đă sống lâu thêm 10 năm hoặc lâu hơn. Người ta có ấn tượng rằng, ông không có cái sự “man rợ” [barbarism] đó của linh hồn, vốn quá hiển nhiên trong Hitler và Stalin, mà, như Heraclitus nói, làm cho đôi mắt và đôi tai của chúng ta “trở thành những chứng nhân cho những việc làm xấu xa của con người.” Stalin “uốn năn” [rập khuôn] những kẻ có thể kế tục ông theo h́nh ảnh của chính ông, và trong dăm bảy thập niên sắp đến, nhân dân Nga chắc chắn sẽ có một lănh tụ hệt như ông. Cái chết của Cromwell dẫn đến sự kết thúc của Cách mạng Thanh giáo, trong khi cái chết của Robespierre đánh dấu sự kết thúc của giai đoạn năng động của Cách mạng Pháp. Nếu Hitler chết giữa những năm 1930, th́ chủ nghĩa Quốc xă rất có thể đă biểu hiện, dưới quyền lănh đạo của Goering, một thay đổi nền tảng trong diễn biến của nó, và Thế chiến II có lẽ đă được tránh khỏi. Thế nhưng, nấm mồ [sepulcher] của Hitler, kẻ sáng lập tôn giáo Quốc xă, có lẽ đă là một cái xấu ác [evil] lớn hơn tất cả mọi hành vi tàn bạo, mọi cuộc lưu huyết và sự hủy diệt của cuộc chiến tranh do Hitler khởi động.

 

123

Cái thể cách mà trong đó một phong trào quần chúng khởi đầu, cũng có thể có ảnh hưởng nào đó trên cái độ dài và cách chấm dứt của giai đoạn năng động của phong trào. Khi chúng ta thấy Phong trào Cải cách, Cách mạng Thanh giáo, Cách mạng Mỹ và Cách mạng Pháp, và nhiều trong số những cuộc nổi dậy dân tộc chủ nghĩa kết thúc – sau một giai đoạn năng động tương đối ngắn, trong một trật tự xă hội được đánh dấu bởi sự gia tăng của tự do cá nhân – th́ chúng ta đang chứng kiến sự hiện thực hóa của những tâm thái [moods] và những tấm gương, vốn là những nét đặc trưng của những ngày đầu tiên của những phong trào này. Tất cả trong số chúng đều khởi đầu bằng cách thách thức và lật đổ một thẩm quyền lâu đời. Cái hành vi thách thức tiên khởi này càng rạch ṛi – và kư ức về nó càng sống động trong tâm trí dân chúng – th́ về sau, càng có khả năng cho sự trồi lên của tự do cá nhân. Không có hành vi thách thức nào rạch ṛi như thế trong sự nổi lên của Ki-tô giáo. Nó không khởi đầu bằng việc lật đổ một ông vua, một đẳng trật, một nhà nước hay một giáo hội. Có những kẻ tử đạo, nhưng không có những cá nhân đang vung nắm đấm của họ dưới mũi của cái thẩm quyền kiêu ngạo, và thách thức nó – một cách công khai, trước mắt toàn thế giới (14). Có lẽ, hệ quả của điều nêu trên, là sự kiện rằng, cái trật tự độc đoán của Ki-tô giáo vẫn kéo dài hầu như không bị thách thức trong suốt 1500 năm. Về sau, sự giải phóng của tâm thức Ki-tô giáo vào thời Phục hưng tại Ư, lấy cảm hứng của nó không phải từ lịch sử của Ki-tô giáo nguyên thủy, mà từ những tấm gương đầy khích lệ của sự độc lập và sự thách thức trong quá khứ Hy-La. Ở sự khai sinh của Hồi giáo và của chủ nghĩa Phát-xít Nhật, cũng thiếu hành vi thách thức đầy kịch tính – và bây giờ, trong cả hai đều không có ngay cả những dấu hiệu của sự giải phóng cá nhân đích thực. Chủ nghĩa dân tộc Đức, nữa – không giống chủ nghĩa dân tộc của phần lớn đất nước phương Tây – không khởi đầu với một hành vi thách thức ngoạn mục chống lại thẩm quyền đă được xác lập. Nó được bảo hộ, từ khởi đầu của nó, bởi quân đội Phổ (15). Hạt giống của tự do cá nhân tại Đức nằm trong đạo Tin Lành [Protestantism] của nó, chứ không phải trong chủ nghĩa dân tộc của nó. Phong trào Cải cách, Cách mạng Mỹ, Pháp và Nga, và phần lớn những phong trào dân tộc chủ nghĩa, đều đă khởi sự với khúc dạo đầu hùng vỹ của sự thách thức [có tính] cá nhân, và kư ức về nó được giữ cho sống động.

Bằng cái trắc nghiệm này, th́ sau cùng, sự nổi lên của tự do cá nhân tại Nga, có lẽ, không phải là hoàn toàn vô vọng. 

__________

 Cuốn sách này xuất bản vào năm 1951. Thực tế lịch sử cho thấy, lời “tiên tri” của tác giả đă “ứng nghiệm.”

 

NHỮNG PHONG TRÀO QUẦN CHÚNG HỮU ÍCH
124

Trong đôi mắt của “tín đồ đích thực,” th́ những ai không có “sự nghiệp thần thánh” nào – một việc dễ làm đối với loại người “có đức tin” như y– là những người không có xương sống và tính cách. Mặt khác, những tín đồ đích thực, ở nhiều sắc độ đa dạng – mặc dù họ nh́n nhau với sự thù hận không đội trời chung, và sẵn sàng “bay vào cổ họng” nhau – nhưng họ đều công nhận và tôn trọng sức mạnh của nhau. Hitler nh́n những người Bolshevik như là kẻ ngang hàng của ông và ra lệnh rằng, những cựu đảng viên Cộng sản được phép gia nhập đảng Quốc xă ngay lập tức. Stalin, đến lượt ḿnh, thấy rằng, nước Đức [theo chế độ Quốc xă] và nước Nhật Phát-xít, là những dân tộc duy nhất xứng đáng được tôn trọng. Ngay cả kẻ cuồng tín tôn giáo và kẻ vô thần hiếu chiến, th́ không phải là họ không tôn trọng lẫn nhau. Dostoievsky đặt những lời sau đây vào miệng của Giám mục Tihon: “Chủ nghĩa vô thần triệt để th́ phải được tôn trọng hơn sự thờ ơ thế tục… kẻ vô thần triệt để đứng trên bậc cấp áp chót dẫn đến đức tin hoàn hảo nhất, … nhưng kẻ thờ ơ th́ không có đức tin nào, trừ ra một nỗi sợ hăi tồi tệ” (16).

Tất cả những tín đồ đích thực của thời đại chúng ta – bất luận là Cộng sản, Quốc xă, Phát-xít, Nhật hay Công giáo – đă kịch liệt chống lại sự suy đồi của những nền dân chủ phương Tây. [Và những người Cộng sản vẫn đang làm như vậy]. Họ đều cho rằng, trong những chế độ dân chủ, th́ dân chúng quá mềm yếu, quá ưa khoái lạc, và quá ích kỷ để mà sẵn sàng chết cho một dân tộc, một Thượng đế hay một “sự nghiệp thần thánh.” Chúng ta được bảo cho biết rằng, việc không sẵn sàng chết cho một sự nghiệp thần thánh, cho thấy một sự mục nát nội tại [inner rot] – một sự suy tàn về đạo đức và sinh học. Những chế độ dân chủ th́ già nua, thối nát, và suy đồi. Chúng không phải là đối thủ của những cộng đồng dũng mănh của những kẻ trung thành vốn sắp sửa thừa kế trái đất.

Trong những tuyên bố khoác lác này, có một chút ư nghĩa và nhiều cái vớ vẩn. Sự sẵn sàng cho hành động hợp quần và sự hy sinh quên ḿnh, như đă được chỉ ra trong tiết 43, là một hiện tượng của phong trào quần chúng. Trong những thời kỳ b́nh thường [normal times], th́ một dân tộc dân chủ là một liên kết được định chế hóa của những cá nhân ít nhiều tự do. Khi sự hiện hữu của nó bị đe dọa – và nó phải hợp nhất dân chúng của nó và làm phát sinh trong họ một tinh thần hy sinh tối đa – th́ dân tộc [theo thể chế] dân chủ phải tự ḿnh chuyển hóa thành một cái ǵ đó gần giống như một giáo hội hiếu chiến hay một đảng cách mạng. Quá tŕnh tôn giáo hóa này, mặc dù thường khó khăn và chậm chạp, không gây ra những thay đổi sâu rộng. Những tín đồ đích thực, chính họ hàm ư [imply] rằng, “sự suy đồi” mà họ chỉ trích quá kịch liệt, không phải là một sự suy tàn hữu cơ [organic decay]. Theo những đảng viên Quốc xă, th́ nước Đức bị suy đồi trong những năm 1920, nhưng lại hoàn toàn dũng mănh trong những năm 1930. Chắc chắn, một thập niên là một thời gian quá ngắn để tạo ra những thay đổi sinh học hay thậm chí, văn hóa, trong một dân số [gồm] hàng triệu con người.

Tuy nhiên, đúng là trong thời kỳ giống như thập niên Hitler, th́ cái khả năng tạo ra một phong trào quần chúng trong một thời gian rất ngắn, có tầm quan trọng sinh tử cho một dân tộc. Sự am tường về nghệ thuật tôn giáo hóa, là một điều kiện cốt tủy đối với lănh tụ của một dân tộc dân chủ, mặc dù cái nhu cầu thực hành nó có thể không nổi lên. Và, có lẽ đúng là, sự khó tính cực đoan về mặt trí thức, hay cái đầu óc thực tiễn của một doanh nhân, đă khiến cho một người không đủ điều kiện để lănh đạo dân tộc. Có lẽ, cũng có những phẩm chất nhất định trong cuộc sống b́nh thường của một dân tộc dân chủ – những phẩm chất mà có thể tạo điều kiện dễ dàng cho quá tŕnh tôn giáo hóa trong thời kỳ khủng hoảng và, do vậy, chúng là những yếu tố cho sự cường tráng tiềm năng của dân tộc. Cái mức độ của sự cường tráng tiềm năng của một dân tộc, th́ tỷ lệ thuận với trữ lượng [reservoir] của niềm mong mỏi của nó. Heraclitus nói: “sẽ không tốt hơn cho nhân loại, nếu những ước mơ của họ được thỏa măn” – câu nói ấy th́ đúng cho những dân tộc cũng như cho những cá nhân. Khi một dân tộc thôi không c̣n có những ước vọng cuồng nhiệt, hoặc [không c̣n] hướng những ước vọng của nó về phía một lư tưởng cụ thể và có giới hạn, th́ cái sự cường tráng của nó bị phương hại. Chỉ có một mục tiêu mà buộc người ta phải liên tục dốc sức để đạt tới, mới có thể giữ cho một dân tộc cường tráng một cách tiềm năng, cho dẫu những ước vọng của nó được thỏa măn một cách liên tục. Cái mục tiêu không cần phải cao cả. Cái lư tưởng thô thiển [gross] – liên tục nâng cao mức sống – đă giữ cho dân tộc này khá cường tráng. Cái lư tưởng của nước Anh về gentleman  vùng quê và lư tưởng của nước Pháp về một rentier về hưu,• th́ cụ thể và có giới hạn. Có lẽ, tính xác định [cụ thể] của cái lư tưởng của họ, đă làm giảm đi lực đẩy của hai dân tộc đó. Tại Mỹ, Nga và Đức, th́ cái lư tưởng là bất định và vô giới hạn.

__________

 Country gentleman.
• Rentier: [tiếng Pháp]: Người sống bằng tiền lợi tức.

 

125

Như được chỉ ra trong tiết 1, th́ những phong trào quần chúng thường là một nhân tố trong việc đánh thức và canh tân những xă hội tŕ trệ. Mặc dù người ta không thể khẳng định rằng, những phong trào quần chúng là những công cụ hữu hiệu của sự phục sinh, thế nhưng, dường như đúng là, trong những xă hội rộng lớn và đa chủng như nước Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, và Thế giới Ả Rập, và thậm chí Tây Ban Nha, th́ quá tŕnh đánh thức và canh tân tùy thuộc vào sự có mặt của ḷng nhiệt huyết nồng nàn rộng khắp nào đó, mà, có lẽ, chỉ một phong trào quần chúng mới có thể làm phát sinh và duy tŕ. Khi quá tŕnh canh tân phải được thành tựu một cách nhanh chóng, th́ có lẽ, những phong trào quần chúng là không thể thiếu, ngay cả trong những xă hội nhỏ, độc chủng. Do vậy, sự bất lực trong việc tạo ra một phong trào quần chúng “đủ lông đủ cánh,” có thể là một trở ngại trầm trọng cho một xă hội. Rất có thể, một trong những bất hạnh lớn của Trung Quốc trong ṿng 100 năm qua, là những phong trào quần chúng của nó – [cuộc nổi dậy của Thái b́nh Thiên quốc • và cách mạng Tôn Dật Tiên] – suy thoái và bị bóp chết quá sớm. Trung Quốc đă không thể tạo ra một Stalin, một Gandhi, hay thậm chí, một Ataturk, người có thể giữ cho một phong trào quần chúng đích thực diễn tiến đủ lâu cho những cải cách mạnh mẽ bắt rễ. Ortega y Gasset quan niệm rằng, sự bất lực của một nước trong việc sản sinh ra một phong trào quần chúng đích thực, chỉ ra những khiếm khuyết nhân chủng học nào đó. Ông nói về nước Tây Ban Nha của chính ông rằng, “sự thông minh nhân chủng học của nó đă luôn luôn nằm một trạng thái suy nhược và chưa bao giờ có một sự phát triển b́nh thường” (17).

__________

• “Thái B́nh Thiên Quốc: [1851–1864) là một nhà nước trong lịch sử Trung Quốc được h́nh thành từ cuộc nổi dậy của nông dân, do Hồng Tú Toàn cầm đầu vào giữa thế kỷ 19. Thái B́nh Thiên Quốc có lănh thổ trải rộng từ sông Dương Tử xuống phía nam Trung Quốc với trên 16 tỉnh và hơn 600 thị, có thủ đô là Thiên Kinh (Nam Kinh)....” [Trích Từ điển Wikipedia].

 

Rất có thể, sẽ là tốt hơn cho một dân tộc, nếu, khi chính quyền của nó bắt đầu biểu lộ những dấu hiệu của sự bất lực măn tính, th́ nó được lật đổ bởi một biến động quần chúng hùng mạnh – cho dẫu sự lật đổ như thế sẽ kéo theo sự lăng phí đáng kể về nhân mạng và tài sản – so với việc nó được phép ngă xuống và tự ḿnh sụp đổ. Một biến động quần chúng đích thực thường là một quá tŕnh cường tráng hóa, có tính canh tân và có tính tích hợp [integrating]. Nơi nào mà chính quyền được phép chết một cái chết ngắc ngoải, th́ kết quả thường là sự tŕ trệ và suy tàn – có lẽ là sự suy tàn vô phương cứu chữa.  Và bởi v́ những con-người-của-lời-nói thường đóng một vai tṛ hệ trọng trong sự nổi lên của những phong trào quần chúng, (18) hiển nhiên là, sự có mặt của một thiểu số có giáo dục và có biện tài có lẽ là không thể thiếu cho cái khí lực liên tục của một xă hội. Dĩ nhiên, những con-người-của-hành-động nhất thiết cần phải không có sự liên minh thâm t́nh với chính quyền đang nắm giữ quyền lực. Sự tŕ trệ xă hội lâu dài của phương Đông có nhiều nguyên nhân, nhưng, không nghi ngờ ǵ, một trong những nguyên nhân quan trọng nhất, là sự kiện rằng, trong nhiều thế kỷ, những kẻ có giáo dục không những là ít ỏi, mà hầu như họ c̣n luôn luôn là bộ phận của chính quyền – hoặc với tư cách là viên chức, hoặc với tư cách như là tăng lữ.

__________

 Đây là một nhận xét rất đáng suy ngẫm.


Hậu quả có tính cách mạng của công việc giáo dục gây ra bởi những cường quốc thực dân phương Tây, đă được đề cập (19). Người ta tự hỏi, năng lực của Ấn Độ trong việc sản sinh ra một Gandhi và một Nehru, là do đâu? Do những yếu tố hiếm hoi trong văn hóa Ấn Độ, hay là do sự có mặt lâu dài của chính quyền thực dân Anh? Ảnh hưởng ngoại bang có vẻ như là yếu tố vượt trội trong quá tŕnh hồi sinh xă hội. Những ảnh hưởng Do Thái giáo và Ki-tô giáo là tích cực trong sự thức tỉnh của Ả Rập vào thời của Mohammed. Trong sự tỉnh thức của châu Âu ra khỏi sự tŕ trệ của thời Trung Cổ, chúng ta cũng t́m thấy những ảnh hưởng ngoại bang – Hy-La và Ả Rập. Những ảnh hưởng phương Tây cũng tích cực trong sự tỉnh dậy của Nga, Nhật Bản, và dăm bảy nước châu Á. Điều quan trọng là, ảnh hưởng ngoại bang không tác động một cách trực tiếp. Không phải sự du nhập của những thời trang, phong tục, ngôn ngữ, cách tư duy… là cái đă lay động một xă hội ra khỏi sự tŕ trệ của nó. Ảnh hưởng ngoại bang tác động chủ yếu bằng cách tạo ra một thiểu số có học thức ở nơi mà trước đó không có, hoặc bằng cách gỡ bỏ một thiểu số có biện tài [vào lúc đó] ra khỏi hệ thống [chính trị] hiện hành; chính cái thiểu số có biện tài này, họ thành tựu công cuộc hồi sinh, bằng cách khởi động một phong trào quần chúng. Nói khác đi, ảnh hưởng ngoại bang chỉ là khâu đầu tiên trong một chuỗi của quá tŕnh, mà khâu cuối cùng của nó thường là một phong trào quần chúng; và chính phong trào quần chúng đă lay động xă hội ra khỏi sự tŕ trệ của nó. Trong trường hợp của Ả Rập, th́ những ảnh hưởng ngoại bang đă làm cho Mohammed, con-người-của-lời-nói, “mất cảm t́nh” với hệ thống hiện hành của Mecca. Mohammed khởi xướng một phong trào quần chúng [đạo Hồi], nó lay động và tích hợp [integrated] Ả Rập trong một thời gian. Trong thời kỳ Phục Hưng, th́ những ảnh hưởng ngoại bang [Hy-La và Ả Rập] tạo điều kiện cho sự trồi lên của những con-người-của-lời nói – vốn không có liên hệ nào với giáo hội – và cũng làm cho nhiều con-người-của-lời-nói truyền thống mất cảm t́nh với cái hệ thống Công giáo [La Mă]. Phong trào quần chúng của Phong trào Cải Cách đă lay chuyển châu Âu ra khỏi cơn hôn mê [torpor] của nó. Tại Nga, ảnh hưởng châu Âu [bao gồm chủ nghĩa Marxist], gỡ bỏ sự trung thành của giới trí thức ra khỏi những người Romanov, và sau cùng, cuộc cách mạng Bolshevik, vẫn đang vận hành, canh tân Đế chế Moscow rộng lớn. Tại Nhật Bản, th́ ảnh hưởng ngoại bang tác động không phải trên những-người-của-lời-nói, mà trên một nhóm rất ít những con-người-của-hành-động, bao gồm Hoàng đế Minh Trị Thiên Hoàng [Meiji]. Những con-người-của-hành-động, có đầu óc thực tiễn này có cái tầm nh́n mà Peter Đại Đế, cũng là một con-người-của-hành-động, bị thiếu; và họ thành công nơi mà ông thất bại. Họ biết rằng, việc chỉ đơn thuần du nhập những tập quán và những phương pháp ngoại quốc sẽ không thể lay cho nước Nhật sống dậy, nó cũng không thể thúc đẩy nước Nhật, chỉ trong vài thập niên, khắc phục cái sự chậm tiến, mà đă tồn tại hàng thế kỷ. Họ nhận ra rằng, cái nghệ thuật tôn giáo hóa là một nhân tố không thể thiếu trong một công cuộc vô-tiền-lệ như thế. Họ khởi động một trong những phong trào quần chúng hữu hiệu nhất của thời hiện đại. Những tệ đoan của phong trào này được minh họa một cách dồi dào trong suốt cuốn sách này. Thế nhưng, thật đáng ngờ, liệu bất cứ tác nhân [agency] nào khác, bất luận có bản chất ra sao, đă có thể mang lại kỳ tích của sự canh tân, vốn đă được thành tựu tại Nhật Bản. Tại Thỗ Nhĩ Kỳ, nữa, ảnh hưởng ngoại quốc đă tác động trên một con-người-của-hành động, Ataturk, và cái khâu cuối cùng trong chuỗi, là một phong trào quần chúng.

J.B. S. Haldane xem sự cuồng tín là 1 trong số 4 phát minh duy nhất thực sự quan trọng đă được làm giữa năm 3000 trước công nguyên nguyên và năm 1400 [sau] công nguyên  (20). Nó là một phát minh Do Thái-Ki-tô giáo. Và, thật kỳ lạ khi nghĩ rằng, trong việc tiếp nhận cái cơn bệnh [malady] của linh hồn này, thế giới cũng đă tiếp nhận một công cụ thần diệu cho việc đưa những xă hội và những dân tộc ra khỏi cơi chết – một công cụ của phục sinh.

__________

Cụm từ “sau công nguyên” thường dùng để dịch hai con chữ A.D. Nhưng có lẽ phải dùng “công nguyên” hay sau chúa Giáng Sinh th́ mới đúng. Xin gơ “A.D” trên Google, sẽ rơ hơn.

 

HẾT

 

=========

1. See Section 85.

2. For example, review the careers of Milton and Bunyan, Koestler and Silone.

3. Leon Trotsky, The History of the Russian Revolution (New York: Simon and Schuster, Inc., 1932). Preface.

4. “It was Napoleon who wrote to his Commissioner of Police asking him why there was no flourishing literature in the Empire and please to see to it that there was.” Jacques Barzun, Of Human Freedom (Boston: Little, Brown & Company, 1939), p. 91.

5. “John Milton,” Encyclopaedia Britannica.

6. Pirke Aboth, The Sayings of the Jewish Fathers (New York: E. P. Dutton & Company, Inc., 1929), p. 36.

7. Eva Lips, Savage Symphony (New York: Random House, 1938), p. 18.

8. Quoted by J. A. Cramb, The Origins and Destiny of Imperial Britain (London: John Murray, 1915), p. 216.

9. In a letter to his friend Preen. Quoted by James Hastings Nichols in his introduction to the English translation of Jacob C. Burckhardt’s Force and Freedom (New York: Pantheon Books, 1943), p. 40.

10. Ernest Renan, History of the People of Israel (Boston: Little, Brown & Company, 1888–1896), Vol. V, p. 360.

11. Angelica Balabanoff, My Life as a Rebel (New York: Harper & Brothers, 1938), p. 281.

12. Quoted by W. R. Inge, “Patriotism,” Nineteen Modern Essays, ed. W. A. Archbold (New York: Longmans, Green & Company, 1926), p. 213.

13. John Maynard, Russia in Flux (London: Victor Gollancz, Ltd., 1941), p. 29.

14. “The Christian resistance to authority was indeed more than heroic, but it was not heroic.” Sir J. R. Seeley, Lectures and Essays (London: Macmillan, 1895), p. 81.

15. Said Hardenberg to the King of Prussia after the defeat at Jena: “Your Majesty, we must do from above what the French have done from below.”

16. Fëdor Dostoyevsky, The Possessed, Modern Library edition (New York: Random House, 1936), p. 698.

17. José Ortega y Gasset, The Modern Theme (New York: W. W. Norton & Company, 1931), p. 128.

18. See Section 104 and following.

19. See Section 104.

20. J. B. S. Haldane, The Inequality of Man (New York: Famous Books, Inc., 1938), p. 49.

 

 

Trở về Giới thiệu và Mục Lục


 

art2all.net