Tưởng niệm HQ Thiếu Tá Lê Anh Tuấn 

 

Bùi Tiết Quư

CUỘC T̀M KIẾM HÀI CỐT

LÊ ANH TUẤN

( Viết theo lời kể của một người bạn )

HQ Thiếu tá Lê Anh Tuấn

         

Lời nói đầu :
Cuộc t́m kiếm hài cốt Lê anh Tuấn là một chuyện có thật. Hiện di cốt của Hải Quân Thiếu tá LÊ ANH TUẤN, CHT Giang Đoàn 43 Ngăn Chặn để tại một ngôi chùa tại San José, nơi cư ngụ Má của Tuấn. Tuy nhiên để tôn trọng ư kiến của người kể, người viết xin mạn phép tự sửa đổi tên các nhân vật (người kể đă tiếp xúc) địa danh, thời điểm…..để tránh mọi phiền phức cho những người trong câu chuyện, xin thông cảm.
 
Từ những giây phút bị cuốn đi trong chuyến hải hành cuối cùng của hạm đội HQ/VNCH đêm 29 tháng tư 75, tôi đă mang nặng trong ḷng một tâm niệm (nếu Tuấn bị kẹt lại tại quê nhà) là sẽ đi t́m Tuấn dù sống hay chết ở một chốn nào đó trên quê hương tôi, v́ Tuấn là người bạn thân nhất của tôi trong cuộc đời hải nghiệp. T́nh bạn này được thể hiện qua việc đặt tên cho đứa con đầu ḷng của vợ chồng tôi tên là P.A.  TUẤN sinh năm 1972.

Cũng như mọi người tị nạn khi vừa đặt chân vào Mỹ là phải kiếm ra tiền để ổn định cuộc sống, vợ chồng tôi đă lao vào mọi công việc mưu sinh với gia đ́nh, hai vợ chồng, một trai và hai gái. Chúng tôi phải vất vả lắm  mới sinh tồn được. Chạy từ tiểu bang giá lạnh Minnesota đến vùng nắng ấm California sau mười năm tạm ổn. Tại đây tôi đă nối liên lạc được hầu hết với các bạn bè, gia đ́nh, người sống, kẻ chết, người thoát khỏi VN, người c̣n kẹt lại….. Trong đó tin Lê Anh Tuấn tự sát ngày 30/4/75 khi cố gắng đưa đoàn tầu của GĐ 43 NC từ Tuyên Nhơn ra Bến Lức được tôi sưu tập đầy đủ với nhiều chi tiết, cùng với lúc đó tôi nhận được tin bố của Tuấn phải vào nhà thương tại Los Angeles trong cơn bạo bệnh. Tôi lập tức đến thăm bác, với ḷng tự tin, tôi đă nắm chặt tay bác mà hứa rằng: “Con hứa, con sẽ đưa được hài cốt của Tuấn về với gia đ́nh. “ Lời hứa trước người sắp ra đi, và với t́nh bạn của tôi và Tuấn chính là những động cơ thôi thúc tôi t́m đường trở về Việt Nam vào những năm cuối thập niên 80 .

Những bước đi đầu tiên thăm ḍ về Việt Nam với lư do thăm gia đ́nh được tôi sử dụng để làm quen thủ tục hải quan, cách sống, và t́m gặp một số người lính cũ của Tuấn và của tôi với mục đích xác định lại những tin tức chính xác vị trí cuối cùng Tuấn nằm xuống. Có lần tôi thuê bao một chiếc xe con với một tài xế đi về Miền Tây trên quốc lộ 4. Khi chiếc xe leo lên cầu Bến Lức, từ độ cao nh́n về phía tay phải, ḷng tôi bồi hồi nh́n cánh đồng bao la, những khóm nhà,  những bụi tre, những tàn dừa… phảng phất đâu đây trong cái mờ mờ sương khói của đồng quê, h́nh ảnh Tuấn hiện rơ ràng với nụ cười rạng rỡ trong ánh mắt sáng và hàm răng khểnh có duyên…. Cuốc xe dừng lại ở một quán ven đường trên quốc lộ 4, uống một chai bia quốc nội chua loét rồi lại vội vă quay về Sài g̣n trước khi trời tối, làm người tài xế cũng ngạc nhiên.

Cứ như thế, đi đi, về về mấy năm liền. Chuyến về vào mùa hè 95, trong một bữa nhậu vỉa hè, tôi làm quen với một chú công an quê ở Thủ Thừa, em rể út của người lính cũ của tôi. Trong sự chân t́nh và tin cẩn, cậu CA này hứa đích thân đưa tôi về vùng “quê “ của Tuấn bằng xe Honda với thù lao nhẹ nhàng, thế là ngày giờ khởi hành được ấn định và chúng tôi lên đường với hai chiếc Honda, quần áo, nón mũ của người lam lũ đồng quê.               
 

Lúc ấy vào tháng sáu, cái nắng của vùng đồng bằng đổ tràn ngập trên khắp ruộng lúa vừa mới trổ đ̣ng đ̣ng, gió đưa hắt vào mặt tôi hương vị nồng nồng của mùi cỏ đồng nội. Hai chiếc xe len lỏi qua những con đường đất gồ ghề, lượn ṿng quanh những khóm tre già, bụi chuối, những cḥi canh vịt, những túp nhà lá đơn sơ….. rồi ch́m vào xóm bờ kinh, vị trí đă định trước theo người chỉ đường .

Đây là một xóm với gần hai chục căn nhà đa số là nhà lá nằm bên bờ kinh ngang Thủ Thừa. Con đường đất gập ghềnh uốn theo địa thế của con kinh với một chiếc quán nhỏ bên đường h́nh như là điểm tụ họp chính của cả xóm. Chúng tôi ngừng xe, đến gần để làm quen và thăm hỏi vài tin tức. Như hiểu được sự khó khăn mở lời của tôi, anh công an “dượng út” lên tiếng với một bác lớn tuổi nhất trong quán :

- Chào bác Hai, cháu ở Thủ Thừa xóm Cây Gạo, đưa mấy anh này xuống đây t́m người quen…. Bác c̣n nhớ hồi xưa lúc giải phóng có đoàn tầu ngụy ủi băi ở mé kinh này, nghe đâu có người chết và được chôn ở đâu đây phải không bác ?

-Ờ ờ …để qua nhớ,  cũng gần hai mươi năm rồi c̣n ǵ ! Lúc đó qua gần ba mươi… Qua lại không ở xóm này, mà ở mé dưới một chút. Zậy th́….( ông nheo cặp mắt như để lục lại trí nhớ )… Ờ Phải rồi !  phải tới hỏi chú Chín đội trưởng du kích hồi mới giải phóng mới biết rơ. Mà ổng chết lâu rồi, h́nh như bả c̣n sống, may ra bả biết.

Nói rồi ông kéo anh “dượng út” ra giữa lộ chỉ về cuối xóm :

-Tới bụi bông bụt, quẹo mặt có căn nhà trên nền đất cao nh́n ra bờ kinh là nhà ông Chín du kích xóm này hồi xưa hỏi xem sao.

Chúng tôi như vớ được vàng,  may quá !  Đầu mối đang được lần ra. Tôi nắm tay bác Hai cảm ơn rồi phóng lên yên sau chú lính “ngụy”, chạy theo Honda chú công an “dượng Út”.

Hai chiếc Honda tới trước sân nhà bà Chín gây nỗi ngạc nhiên cho lũ trẻ con quanh vùng. Chúng bu lại quanh chúng tôi ṭ ṃ nghe ngóng câu chuyện. Đang sớ rớ chưa biết làm ǵ, th́ từ xa một anh công an mặc sắc phục mầu vàng, có lẽ là công an khu vực xă từ từ đi tới. Tôi chợt nghĩ “Gớm ! sao đánh hơi nhanh thế ?“. Chú lính “ngụy” của tôi níu tay anh công an ”dượng Út” nói nhỏ “Ê, dượng Út  ra nói chuyện đi “. Chú công an “ dượng Út” rẽ tụi nhỏ đang bu quanh hai chiếc Honda, nh́n về phía người đang đi tới, bỗng anh ta reo lên:
-Ồ ! tưởng ai, hóa ra là thằng Đức ! Đức!... mày công tác ở miệt này hở ?

-Ờ ḱa Thắng ! ..Mày xuống đây mần chi zậy ?

Chỉ qua hai câu chào hỏi trong sự ngạc nhiên của hai chú công an, chúng tôi biết hai chú là bạn của nhau cùng lứa tuổi hai mươi lăm, hai mươi sáu nghiă là chẳng biết ǵ về cái biến cố 30/4/75, hoặc có biết th́ chỉ biết bú mẹ trong một căn hầm trú ẩn nào đó trong vùng này khi hai đoàn tầu của Tuấn và Hoàng (CHT Giang Đoàn 64 Tuần Thám) rầm rộ đi qua trong nhiệm sở tác chiến, trong khi đó trên bờ kinh bên kia đoàn chiến xa T54 của CSBV họng súng chĩa thẳng với ánh đèn pha sáng quắc chiếu vào đoàn tầu và xóm bờ kinh, cả hai sẽ cùng chung một số phận, nếu Tuấn không ra lệnh cho đoàn tầu ngừng lại và ủi băi vào xóm này để chỉ riêng ḿnh nhận cái chết bằng phát súng colt cuối cùng trong băng đạn c̣n đầy.

Trở lại câu chuyện của hai cậu công an (một địa phương, một thành phố )

-Tưởng chi chứ gặp mày th́ có chuyện đây. Vốn là ông anh vợ tao đây có người bạn là thân nhân của người lính chế độ cũ hồi 30/4/75 là Hải Quân khi đoàn tầu đi ngang đây bị chết và được chôn đâu ở gần đây, mày giúp tao t́m mộ được không ? Nghe nói ông Chín ở đây là đội trưởng du kích hồi đó chắc biết chuyện, tụi này tính vô hỏi bà Chín nè.

-Nhằm chi, chuyện nhỏ mà Thắng, lâu quá mới gặp mày.

Sau những cái bắt tay xă giao, chú CA địa phương tay rẽ đám nhỏ, miệng càu nhàu :

-Ê xấp nhỏ ! tránh ra cho người ta làm việc.

Rồi chú lớn tiếng vào trong nhà :

-Má Chín có nhà không nè, có người đến thăm má nè.

Từ trong nhà bước ra một cụ bà trạc độ trên sáu mươi, dáng người thấp và nhỏ bé, miệng c̣n dở miếng trầu thuốc trên môi. Cụ đưa cầm hỏi :

-Sáu Đức hở ? Ai hỏi tau đó ?

Má chưa dứt câu hỏi th́ chúng tôi đă vây quanh lấy má. Trong đám này, má chỉ biết có thằng Đức, c̣n ba chúng tôi, má đưa mắt nh́n từng đứa như ḍ xét:

-Mấy ông hỏi chuyện chi ?

Cặp mắt má đục mờ, h́nh như không nh́n rơ từng đứa, đảo qua, đảo lại rồi ngưng ở thằng Đức như thầm hỏi “chuyện chi zậy”. Để gỡ cho sự bối rối của má Chín, tôi vào đề ngay:

-Thưa má, tôi có người bà con xưa là linh hải quân chế độ cũ, đi trên đoàn tầu đêm 30 /4 /75 bị chết, h́nh như được chôn ở đâu đây, má biết tin ǵ cho chúng con hay để bốc mộ cho nó.

-Ờ.. Ờ… Đúng là ông Trưởng, ông Trưởng rồi, ổng chỉ huy đoàn tầu, ổng được chôn ở đây.

Tôi mừng rỡ trong ngỡ ngàng v́ giọng nói của má Chín đă lập đi đến hai lần chữ ông TRƯỞNG với sự trang trọng. Má nắm lấy tay tôi bằng cả hai bàn tay của má, ngước mặt nh́n tôi như ánh mắt chờ đợi lâu ngày, má hỏi :
-Thế cậu đây là ǵ với ổng ?

-Dạ, tôi là anh em bà con, trên thành phố xuống.

-Ngồi xuống đây, ngồi xuống đây để má kể cho nghe.

Nói rồi má ghé ngồi bên mép chiếc phản gỗ, cạnh cái tủ thờ, trên tủ thờ tôi liếc nh́n thấy tấm ảnh đen trắng, h́nh người đàn ông sấp xỉ hay trẻ hơn tuổi má bây giờ, dưa cái cầm ra đằng trước khiến nó dài ra, để lộ yết hầu nhọn và to, hai vai gầy, chứng tỏ khi sống ông là người rất khắc khổ và nếu c̣n sống đến bây giờ, ông có lẽ cũng bẩy mươi hơn. Mọi người tự kiếm chỗ cho ḿnh, tôi ngồi vào góc phản cạnh má Chín, chú lính cũ của tôi ở sau lưng, c̣n hai chú công an, mỗi người quay hai chiếc ghế đẩu bên cái bàn nước trước tủ thờ. Xấp nhỏ bây giờ sán lại gần chúng tôi hơn, tạo thành một ṿng tṛn che khuất cả cửa chính. Chúng nó và cả chúng tôi như lũ trẻ con sắp được nghe BÀ NGOẠI kể một câu chuyện cổ tích xưa, xưa thật là xưa ..... Bà kể rằng :

-Hồi đó, cũng hai mươi năm rồi ! ổng nhà tôi là đội trưởng du kích ở miệt này. Lúc sẩm tối ngày 30/4 lệnh báo động cho cả xă, Hàng đoàn chiến xa quân giải phóng chạy rần rần bên kia bờ kinh, chiếu đèn loang loáng sáng cả mặt kinh, cả xóm này ai nấy t́m chỗ ẩn nấp. Tôi lùa xấp nhỏ chui xuống cái hầm trước sân, ổng nhà tôi th́ sớ rớ ở cửa hầm chưa hiểu chuyện ǵ sẩy ra chỉ biết tai họa sắp đổ xuống cho xóm này. Trên mặt kinh một đoàn tầu dài lắm, chay từ từ, đèn tắt, tiếng máy tầu gầm gừ như những con trâu nước. Một trận chạm súng sắp sẩy ra mất ! Ổng nhà tôi lo lắng ngoái đầu vào cửa hầm nói : ” Má xấp nhỏ cho tụi nhỏ nằm sát xuống hầm, sắp bắn nhau lớn rồi” .Bên kia bờ kinh có tiếng loa kêu gọi đoàn tầu ngừng lại và ủi vào ven bờ, nếu không sẽ bị tiêu diệt ...... Đoàn tầu vẫn lừng lững dồn tới, dồn tới mỗi lúc một đông ngay trước sân nhà tôi. Trời ơi ! nếu lỡ có một tiếng súng nổ nào đó vào lúc này, đoàn chiến xa bên kia kinh sẽ nhả đạn để tiêu diệt đoàn tầu và căn hầm mỏng manh của gia đ́nh tôi sao tránh khỏi ?!

Cảm ơn trời phật ! tiếng máy tầu dưới sông như êm lại rồi từ từ như ngừng hẳn, chỉ nghe một tiếng nổ nhỏ rồi tất cả chỉ c̣n tiếng người xôn xao dưới bờ kinh. Độ khoảng một tiếng sau có tiếng gọi tên ổng nhà tôi, được một lát, người ta khiêng lên trước sân nhà tôi một xác người nằm trên cái giường bố cuốn giây quanh khung sắt và giao cho ổng nhà tôi đem chôn. Ổng nhà tôi lính quưnh lôi ra một chiếc chiếu cuốn đại lấy xác chết c̣n để ḷi cả đôi chân, dưới ngọn đèn dầu leo loét tôi nh́n mà thương cảm vô cùng, bảo với ổng nhà tôi sao không kiếm cái chiếu lớn hơn, nhưng quả thật kiếm đâu ra bây giờ ? !.....Măi sau này tôi được ổng nhà tôi cho biết xác chết là xác cấp chỉ huy của đoàn tầu,  ổng chỉ bị một viên đạn bắn ở đầu. Ông được nhà tôi chôn ở mé dưới vàm một chút, mà quả thật tôi cũng không biết chính xác lắm.

Lúc trước ổng nhà tôi c̣n sống, hàng năm vẫn săn sóc ngôi mộ, ổng c̣n làm một cái cây ghi tên và ngày chết đóng ở mộ để làm dấu, hồi đó chỉ có hai cha con ổng hay lui tới chỗ đó, bây giờ thằng Hai th́ lên thành phố kiếm ăn đă mấy năm rồi, ổng nhà tôi lại đă mất sau giải phóng ít năm, giờ tôi không biết mộ c̣n hay mất .

Má Chín ngừng lại một lát, má kéo mép khăn vắt bên vai lau vết trầu nh́n ra cửa. Một dáng người cao, tóc muối tiêu vừa xuất hiện trước cửa chính là Ông khóm trưởng xóm bờ kinh. Má chín như vớ được lời giải đáp :
 

-Ḱa chú BA Khóm trưởng, chú biết đám mộ dưới vàm chứ ?

-Tôi biết, nghe nói có mấy người đây về t́m mộ thân nhân phải không ?

-Vâng,( tôi đỡ lời) vậy chú BA biết chỉ dùm.

-Mà tên ǵ, ngoài đó tôi chỉ thấy đám mộ bỏ hoang, không tên tuổi chi cả. Nhưng thôi, ḿnh cứ ra xem đă .

Tất cả chúng tôi đứng dậy đi theo ông Khóm trưởng. Qua khỏi cái sân nền đất cao, chúng tôi đi xuống bờ cỏ thấp trên một con đường nhỏ chỉ vừa cho hai người đi song song hướng ra phía bờ kinh, qua khỏi bụi tre sơ xác, một con lộ khác nhập lại th́ xuất hiện một chị đàn bà. Chị ta độ khoảng trên dưới bốn mươi đi gần tới. Chị hỏi trống không:
 

-Ủa, mấy người đi đâu zậy ?

-Đi ra mé vàm kiếm mộ người quen (chú BA trả lời).

-Mèng ơi ! đừng có ra đó (chị mở tṛng con mắt kinh hăi) có MA ở đó.

Tôi bắt lời chị ta:

-Chị nói sao ? Ma ǵ ?

-Th́ ma ở dưới đám mộ hoang đó chứ đâu. Cả năm nay tôi đâu dám bén mảng tới đó. Ghê lắm mây ông ơi !

Lúc này đám người và lũ trẻ con xúm lại giữa ngă tư của hai con lộ nhỏ cùng chăm chú chờ đợi chị Tám (tên người đàn bà ) sắp tiết lộ một sự kiện kinh khủng. Môi chị h́nh như muốn mấp máy, lũ trẻ th́ nhốn nháo, tôi tiếp lời:

-Nào, chị thấy ǵ nào ?

Khép bớt cặp mắt mở to lúc nẫy như để xếp đặt lại câu chuyện, chị Tám kể:

-Hồi năm ngoái, giữa buổi trưa, tôi ra đó để gỡ mấy cần câu cắm hồi hôm, v́ ở đó là giao điểm của kinh và con rạch nhiều cá lại ít người cắm câu nên vắng vẻ lắm. Từ xa trên một ngôi mộ hoang tôi thấy một người ngồi xoay lưng, mặt nh́n ra sông, dáng người trung b́nh, tuổi chừng trên ba mươi và quần áo không giống người vùng ta, anh ta mặc bộ quần áo mầu xám xám, đầu không có nón, để lộ ra mái tóc đen bù sù, h́nh như khô và cứng. Tôi định lên tiếng hỏi th́ tự nhiên cảm thấy rợn cả người, chân tay tôi lạnh cóng giữa trưa hè, chưa bao giờ tôi có cảm giác kinh sợ như vậy nên ù té chạy về hụt cả hơi. Từ đó đến giờ tôi không dám ra đó nữa .

Tôi vừa kinh ngạc, vừa bồi hồi, vừa mừng rỡ. Có lẽ cái chết linh thiêng của Tuấn với ḷng thành của tôi và sự mong mỏi của gia đ́nh Tuấn, nên những sự việc, run rủi, lạ lùng từ đầu câu chuyện đă tuần tự như một xếp đặt rất kỳ diệu từ cơi vô h́nh đang dắt tôi đi đến gần mộ Tuấn. Tôi nhận ra người ngồi trên ngôi mộ hoang mà chị Tám vừa kể đích thực là Tuấn rồi, v́ với một người nhà quê, chỉ loanh quanh với đồng ruông, vườn tược mà chị ta lại tả h́nh dáng, mầu sắc quần áo, đầu tóc ....như TUẤN CÁ SẤU (anh em đă đặt tên cho Tuấn từ ngày ở trong trường SQ Hải quân) th́ câu chuyện của chị quả là có thực. Tôi vội đề nghị:

-Vậy bây giờ đông người chị đừng có sợ. Chị chỉ cho tụi tôi ngôi mộ nào mà người đàn ông chị bắt gặp ngồi ở trên .

Chị Tám c̣n chùng chừ th́ lũ rẻ con nhao nhao lên ”Đừng sợ ! Đừng sợ.” Cuối cùng th́ tất cả chúng tôi cùng kéo ra sát nơi bờ kinh và con rạch nhỏ gặp nhau.

Đây là một khoảng đất thấp, nằm giữa con kinh và con rạch tạo thành thế đất h́nh tam giác mà góc nhọn nh́n ra ngă ba sông. Ở đây có bẩy ngôi mộ toàn đắp bằng đất, chôn cất không thứ tự, có cái sạt lở gần bằng mặt đất, lè tè chen trong các đám cỏ dại mọc tự do, chẳng có cái nào c̣n bia mốc. Trong sự băn khoăn và lo lắng, tôi thầm nguyện với Tuấn để cho mọi chuyện được suông sẻ, nếu chẳng may đào đại một ngôi mộ nào đó mà không phải là mộ Tuấn th́ thật là bất hạnh chừng nào ! Trong bẩy ngôi, chắc chắn có mộ của Tuấn. Như thế tôi có xác xuất 1/7.” Tuấn ơi ! mày có linh thiêng để tao đưa mày về với má.” Tôi thầm khấn như vậy trước khi quyết định :

-Chị Tám ơi, Chị nhớ lại cho thật kỹ. Chị đă thấy người đàn ông ngồi trên ngôi mộ nào ?

Lúc này chị Tám trở nên bối rối, chị xoắn hai bàn tay lại với nhau,  đôi vai lắc lư,  đôi chân như muốn chạy trốn, mắt chị đảo qua một ṿng quanh địa thế, mọi người như ngừng thở. Bỗng chị vụt chạy về một g̣ đất cao không quá bắp chuối chân người ta, nằm sát bờ con kinh, nói lớn lên như trong cơn mê sảng:

-Đây ! đúng đây rồi, ổng ngồi trên g̣ đất này.

Mọi người nhốn nháo lên một lúc. Ông khóm trưởng hỏi tôi :

-Bẩy mộ không có tên. Mà thôi cứ thử coi.

Chú lính cũ của tôi lên tiếng :

-Anh để em, phiền ông khóm trưởng cho mướn thêm hai người đào đất và cho mượn hai xẻng, hai cuốc, hai chậu mủ cỡ lớn với hai hay ba cái gáo mủ để tát nước, mộ ở thấp quá thế này th́ đào một chút là nước vào ngập liền, sợ đào không kịp .

Tôi xoay qua cám ơn trước ông khóm trưởng, chị Tám và giao việc điều động cho chú lính cũ đi lấy dụng cụ. Tôi trở ra chiếc quán trên đường chính của xóm mua một nải chuối sứ, vài thẻ nhang, một xị đế G̣ đen (có lẽ Tuấn khoái nhất, hồi xưa nó hay uống loại này mới đă), mượn bà chủ quán cái đĩa nhựa lớn màu xanh để nải chuối. Ngay tại cái quán này một hợp đồng mặc nhiên được thành h́nh giữa tôi, Đức (CA xă) và Chú Ba ( khóm trưởng xóm bờ kinh). Tôi hứa hẹn khi xong việc sẽ tặng cho xóm 7 triệu rưởi (khoảng 500us) cho việc trả thù lao người đào, dụng cụ và đào một cái giếng nước ngọt cho cả xóm sài chung. Thế là công việc được tiến hành ngay sau đó.

Lúc này, khu băi hoang với những nấm mộ ít người lai văng thêm đông người hơn. Họ đứng, ngồi rải rác, trẻ con th́ hiếu kỳ sán lại gần theo dơi từng nhát cuốc, xéng đất, gầu nước....... đào sâu chừng ngang bụng nước bắt đầu b́ bơm, những gầu nước được chuyền tay đổ lên bờ lạch. Bỗng chú lính cũ của tôi reo lên :

-Anh ơi ! tới rồi, em chạm phải cái khung giường nè.

Tôi vội vă nhảy ngay xuống đám đất bầy nhầy, sắn tay áo ṃ nơi chú lính cũ chỉ, quả thật chính tay tôi đă sờ thấy cái khung giường. Tim tôi đập mạnh hơn, cả người tôi run rẩy, một cảm giác chạy rần rần trong cơ thể, tôi reo lên như người vừa trúng số:

-Đúng rồi ! đây là cái giường hải quân móc trên vách các con tâu .

Tôi phóng lên mặt đất, định vị trí của cái giường, yêu cầu những người đào , đào rộng ra bên ngoài cái khung, tất cả phần đất bên trong cái khung phải cẩn thận đưa lên mặt đất đựng trong cái chậu lớn để t́m xương cốt. Mọi người nhận hiểu và chỉ trong một lúc các thứ cần t́m kiếm tuần tự được chúng tôi đưa lên mặt đất rửa qua chậu nước sạch. Nào là xương ống chân, xương sườn, một vài đốt xương sống, ít mảnh vải quần áo đă mục rữa, duy cái huy hiệu Giang Đoàn 43 NC bằng vải nilon không mục, vẫn c̣n mầu sắc và chữ GIANG ĐOÀN 43 NC rơ ràng. Cái làm cho tất cả chúng tôi phải xúc động khi t́m thấy một bao nilon đă ngả sang mầu vàng đục cuộn gói kỹ càng bên trong đựng thẻ căn cước dân sự của Tuấn do Quận 3 Sài G̣n cấp, tấm ảnh đen trắng trong căn cước cuả Tuấn phơi dưới ánh nắng thật rơ ràng cặp mắt nh́n mọi người, miệng như muốn cười thay cho lời cảm ơn. Một mảnh giấy quay roneo chữ in mờ mờ nhưng vẫn đọc được, đó là phiếu báo danh của trường Luật báo về thi năm thứ 2.....Khi ṃ quanh cái sọ đă bị vỡ mất phân nửa, anh thợ đào đất kéo lên một cái dây với các cục tṛn tṛn lại bị đứt chỉ c̣n một khúc ngắn rỉ sét th́ tôi hiểu đây là chỗ của tấm thẻ bài.Tôi nhảy xuống ṃ theo trong đám bùn nhầy nhụa nhưng vô hiệu. Tôi xin người đào vét cho hết đám đất bên trong khung giường sâu một chút để t́m thêm di vật của Tuấn. Khi không c̣n ǵ khả dĩ t́m được, chúng tôi nghỉ tay.

Lúc này quanh cái thau nhựa lớn mọi người nh́n ngắm hài cốt Tuấn trong sự kinh cẩn yên lặng và ngậm ngùi. Một bà lăo đưa đến cho một cái chảo gang đă mẻ, bà nói ”Cậu bỏ lên đây, đặng xếp củi bên dưới mà thiêu cho Ổng, tro cốt sẽ ngả sang mầu trắng nằm ngay trong chảo”. Tôi nh́n cụ cảm ơn trong ánh mắt cụ dịu hiền của người mẹ, người bà, có lẽ cụ đă từng làm việc này cho con cháu nhiều lần nên rất rành rẽ th́ phải ? !

Quay trở lại nhà má Chín, với bao tro hài cốt của Tuấn và những di vật trong cái túi khoác vai của tôi lúc ấy cũng xế chiều, tôi cám ơn má, và xin thắp một nén hương lên bàn thờ chồng má để cám ơn ông, người đă chôn cất, săn sóc mộ Tuấn. Đến đây như sực nhớ ra, Má Chín nói về tấm thẻ bài mà ông chồng trước khi mất có trao lại cho má (người viết đă kể trong bài viết HUYỀN THOẠI về TẤM THẺ BÀI kỳ trước ) Má rưng rưng kể tiếp:

-V́ thế cả xóm này đều biết tên ông TRƯỞNG. Ổng nhà tôi  c̣n nói nếu như ông TRƯỞNG không ra lệnh ngừng đoàn tầu và ủi băi th́ có lẽ cả xóm này đâu c̣n đến ngày nay. Chính v́ thế ông nhà tôi một mực săn sóc cho ngôi mộ của ông, một mực c̣n dặn tôi giữ kỹ tấm thẻ để mai sau thân nhân t́m th́ có tung tích. Tôi đă trao tấm thẻ cho cô Bẩy mấy năm trước rồi, để tôi cho con cháu đưa ông qua nhà má cô Bẩy, cổ lấy chồng Mỹ sống ở bển, tôi nghĩ gia đ́nh ông TRƯỞNG chắc làm lớn di tản qua bển hết rồi, bây giờ nhiều người về, thế nào cũng về đây t́m mộ để bốc, đó là tâm nguyện của ổng nhà tôi trước khi mất.  Bây giờ chắc ổng nhà tôi đă toại nguyện rồi ! .

Kể xong má rưng rưng như muốn khóc trong cái cảm kích v́ vừa làm xong một giao ước của người chồng quá cố. Tôi nắm chặt tay má an ủi, trao cho má ít tiền để hương khói cho ông nhà, tôi liếc nh́n tấm ảnh đen trắng của ông ”du kích xưa” thầm cảm ơn ông đă có một tấm ḷng vượt qua mọi biên giới chính kiến ”bạn thù” để sống thực với con người chất phác như cây cỏ, đồng ruộng, tôm cá .... MIỀN NAM.

Chuyến bay về MỸ của tôi mùa hè năm đó, ḷng tôi thấy thanh thản chừng nào !

 
Người viết BT QUƯ


 

art2all. net