Đặng Tiến

Nhà văn Thảo Trường

 

Thảo Trường

 

 

Nhà văn Thảo Trường tên thật là Trần Duy Hinh, sinh 1936 tại Nam Định, nổi tiếng tại Miền Nam trước 1975,  qua đời tại Quận Cam, California, Hoa Kỳ, ngày 26-8-2010 v́ bệnh ung thư gan, thọ 74 tuổi. Sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa, cấp bực thiếu tá, ông là một trong những người tù lâu năm nhất : 17 năm cấm cố qua 18 trại giam từ Nam ra Bắc. 

Di cư vào Nam năm 1954, ông vào trường sĩ quan Thủ Đức, phục vụ ngành pháo binh vùng giới tuyến và bắt đầu viết văn. Truyện ngắn đầu tiên Hương gió lướt đi đăng trên tạp chí Sáng Tạo, Sài G̣n, kư bút hiệu Thao Trường, đă gây ngay được tiếng vang trong giới độc giả trẻ thời đó ,v́ đề tài mới mẻ, qua giọng văn đơn giản và trong sáng

Chuyện bắt đầu tại Hà Nội, giữa một cậu học tṛ mười lăm tuổi, với cô hàng xóm tên Ngân, hơn cậu –  người kể chuyện – khoảng năm, bảy tuổi.  Ngân làm chủ một quán giải khát, phục vụ lính Pháp, quan tâm đến cậu bé hàng xóm như một người em, và bị các đồng nghiệp « nhà thổ » khác chế riễu : « xê-ri của chị Ngân đấy chúng mày ạ …  Nhưng Ngân đă nghiêm chỉnh bảo họ : – các chị đừng đùa. Anh ấy là học sinh, không ưa thế đâu » [1].

Chuyện và văn không có ǵ lạ, nhưng thời đó, 1960, độc giả học sinh, sinh viên ham thích v́ cách viết thật thà, đơn giản, phản ánh thời đại một cách bàng quan : không khí Hà Nội thời cuối chiến tranh Việt Pháp, cuộc di cư 1954 ; hai nhân vật gặp lại nhau khi « tôi » đă trưởng thành, quan hệ đi xa hơn, rồi Ngân theo chồng về Pháp, vẫn thư từ cho người bạn cũ. 

Lối kể chuyện tự nhiên, chân thành đến mức nhiều người đọc ngờ là chuyện t́nh của tác giả. Sau này Thảo Trường kể lại là chuyện phần nào có thật, nhưng là chuyện của một bạn học cùng lớp, anh nghe được và viết lại [2].

Một truyện khác, cũng trên báo Sáng Tạo, gây hứng thú là Đ̣ dọc : hai người yêu nhau, nhưng vào buổi di cư 1954, họ chia tay, cô gái, tên Kim, tặng người yêu tấm khăn san màu đỏ của ḿnh làm kỷ niệm. Họ gặp lại nhau tại Huế trong cảnh oái oăm : chàng đi dạy học, t́m thú chơi bời trên « đ̣ dọc » và gặp lại nàng làm gái điếm. Họ mừng mừng tủi tủi và trong cơn tái hợp bị kiểm tục bắt quả tang. Chàng không lẩn tránh, bị đuổi việc nhưng chính thức cưới nàng, đúng theo tập quán xă hội. Mẩu đối thoại nhỏ, chân thật, đă gây ấn tượng thời đó :

« Lúc đó Kim hôn tôi như tôi đă hôn nàng. Hai chúng tôi ngả người ra chiếc gối. Ánh đèn dầu lờ mờ, Kim sờ chiếc khăn đỏ ở cổ tôi.

-   Khăn ngày xưa ?

-   Không phải. Khăn ngày xưa anh đă cho một người con gái khác. Khăn này anh mua hồi chiều » (Thử Lửa, tr. 54).

Trong truyện Xác chết, ngay buổi gặp gỡ đầu tiên, người khách làng chơi đă đưa cô Lim, gái điếm, về làm vợ và họ sống hạnh phúc cho đến ngày người vợ bị tên nhân ngăi cũ ám sát.

Ghi nhanh về tên các cô gái giang hồ: người tên Ngân, người tên Kim, toàn tên vàng tên bạc. Lim là tên gỗ quư. Những chất rắn, bền, quư. Nhận xét nhỏ thôi, nhưng có thể là một trong vài ba ch́a khóa mở vào thi pháp Thảo Trường.

Cô gái giang hồ từ Nguyễn Du đến Nhất Linh, Vũ Trọng Phụng đến nay, là một biểu tượng xă hội, nội hàm có thể không thay đổi bao nhiêu, nhưng từ thế hệ Thảo Trường trở về sau, như nơi Nguyễn Ngọc Tư ngày nay, biểu tượng hàm súc và phức tạp hơn nhiều, nhất là nói chung, truyện ngắn Thảo Trường phản ánh những giai đoạn lịch sử rơ nét. 

Trong Thử Lửa, Thao Trường trực tiếp đề cập đến chính trị, việc phân chia đất nước và kỳ vọng vào cuộc thống nhất trong ḥa b́nh, đoàn kết  « công việc nối liền hai miền, xóa đi cái ranh giới trên đất đai và cái ranh giới trong tâm hồn chúng ta là công việc của chúng ta » (tr.26-27). 

Là sĩ quan trẻ tuổi mới ra trường, hoạt động tại miền giới tuyến, Thao Trường đă suy nghĩ và tin tưởng : « Ư nghĩ đầu tiên của tôi về con sông này : nó chỉ là biên giới của đất đai, nó không là biên giới của tư tưởng. Người bên kia hay bên này không qua lại nhau, nhưng những tư tưởng phát sinh từ tâm hồn người bên này hay bên kia th́ cũng nẩy nở sang bên kia hay bên này. Những cái ǵ được nuôi dưỡng từ trong ḷng người này th́ cũng có được ở trong ḷng người khác. (…) Tôi cố gắng phân biệt ra biên giới nhưng không được, vẫn chỉ là làng mạc, đồng ruộng và đường đi ; muôn đời muôn thuở vẫn là h́nh ảnh quê hương tôi. (…) Mười ba triệu người đằng sau tôi chắc cũng tin như vậy ? Tôi đứng gác ở tiền tuyến cho nửa dân tộc yêu nhau và tin tưởng con sông trước mặt tôi sẽ không là biên giới » (tr.88). 

Điều đó, bây giờ đọc lại, 1975 hay 2011, ta cho là ngây thơ, ảo tưởng. Nhưng thời đó, 1960, cùng với Thảo Trường nhiều người ước mong như vậy. Trong lời giới thiệu Thử Lửa, Nguyễn văn Trung đă viết, 1960 : « Tôi coi Thao Trường như một trong những người đang đi vào truyền thống của những nhà văn mà sứ mệnh là nhắc nhở cho con người những giá trị làm người thường xuyên bị quên lăng hay bị chà đạp bởi chính con người » (tr.145).

(Tập truyện  Thử Lửa in 1962, kư tên Thao Trường. Sau đó tác giả mới thêm vào dấu hỏi, có lẽ để tránh sự trùng hợp t́nh cờ với bút danh của Nguyễn Huy Tưởng đă dùng trên báo  Tiên Phong, Hà Nội, 1945, và Văn Nghệ, Việt Bắc, những năm 1948, 1949. Trong bài này chúng tôi tùy nghi dùng tên này hay tên kia). 

Quan điểm của Thao Trường và cả Nguyễn văn Trung vào một thời điểm nhất định, là thành tâm, thiện chí của một lớp người.

(Khi một lư tưởng thất bại th́ biến thành ảo tưởng. Nhưng cũng có khi chiến thắng hóa lư tưởng thành ảo tưởng : ngoài đề). 

Khi Thảo Trường – vừa mới đổi tên, rời pháo binh vào ngành An ninh Quân đội – đi khắp nơi, anh có dịp t́m hiểu chiến tranh sâu xa hơn, nhưng vẫn chung thủy với ước vọng của ḿnh, là t́m kiếm ḥa b́nh trong t́nh đoàn kết dân tộc. Anh hợp tác chặt chẽ với báo Hành Tŕnh, quay ronéo, do Nguyễn văn Trung và một nhóm trí thức công giáo tiến bộ chủ trương, chủ yếu đ̣i hỏi chấm dứt chiến tranh. Truyện ngắn Người đàn bà mang thai trên Kinh Đồng Tháp, nổi tiếng, viết 1964, đăng trên Hành Tŕnh số 1, nhà xuất bản Tŕnh Bày cùng nhóm ấn hành 1966, đă được dịch ra tiếng Pháp đăng trên tuần báo công giáo Témoignage Chrétien phổ biến trên khắp thế giới, thời đó, về sau in trong tuyển tập chứng từ chiến tranh [3].

 

Minh họa của Đinh Cường cho truyện

"Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng Tháp"

 

Chuyện kể : người đàn bà mang thai là cán bộ cộng sản, gài lựu đạn dưới một tấm ván gỗ ghi khẩu hiệu « đả đảo đế quốc Mỹ » để gài bẫy. Toán lính Việt Nam Cộng Ḥa biết được, buộc đương sự phải triệt hạ tấm ván. Lựu đạn rớt xuống may không nổ. Người đàn bà động thai đẻ non. Viên sĩ quan chỉ huy toán lính phải đỡ đẻ rồi khai sinh cho đứa bé, « cho nó mang họ của ông ta ». Và để lại mẩu nhắn tin ngắn cho cậu bé mai kia, khi lên 20 tuổi : « trước khi hành động… xin cậu hăy nghĩ đến người đàn bà mang thai khốn khổ, hăy nghĩ đến những người mẹ bị rất nhiều chủ nghĩa với những danh tự hoa mỹ hành hạ » [4]. 

Chuyện viết tại Sài G̣n, ngày 27.11.1964, trong ngụ ư khôi phục t́nh người qua t́nh đồng bào. Rồi đến 1975, Thảo Trường đă phải đi tù non 17 năm. Sang Mỹ 1993, trong truyện ngắn Khẩu hiệu anh viết tiếp câu chuyện tại Huntington Beach, ngày 25.5.1993, kể chuyện trong một trại tù Việt Bắc, kèm lời Nhắn tin : « nhắn cậu thanh niên ra đời, sẩy thai, thiếu tháng, mang họ nhờ… Người đỡ đẻ và khai sinh cho cậu đă chết trong tù. Khi chiến tranh chấm dứt, cũng không thấy có một người đàn ông nào gọi là cha ruột cậu trở về. C̣n mẹ của cậu nghe nói đă có một đời chồng khác » [5]. 

Truyện sau mang tên Khẩu hiệu v́ tù nhân đă điêu đứng, có người chết trong trại cải tạo v́ « mấy chữ đả đảo CS bằng than trên vách nhà lô ». Tương quan giữa hai câu chuyện cách nhau 15 năm, là cái khẩu hiệu, trong đó chữ CS  chỉ viết tắt không rơ nghĩa.

Và ḍng suy tưởng liên tục của tác giả.

Đồng thời với Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng Tháp, Thảo Trường c̣n có truyện Viên đạn bắn vào nhà Thục, nguyên tên là Nhăn hiệu Mỹ  v́ có câu « đạn này nhăn hiệu Mỹ » bị kiểm duyệt Sài G̣n thời đó đục bỏ. Sau này khi tái bản tại Mỹ, trong tập truyện Tầm xa cũ bắn hiệu quả (nxb Quan San, 1999, California)  câu văn lẫn tên cũ được khôi phục lại.

Do đó, giới b́nh luận thường đặt anh vào hàng tác phẩm phản chiến, điều mà sau này anh đă từ khước, trong một cuộc phỏng vấn ngày 4.8.2008 : « Trước hết, tôi là người tham chiến. Nếu có ai bảo tôi là phản chiến th́ không đúng, v́ tôi ở trong cuộc chiến đó. Những năm đầu sĩ quan của tôi, tôi đi theo những đơn vị tác chiến, từ vĩ tuyến 17 cho đến đồng bằng sông Cửu Long, và làm một số công việc, chẳng hạn đi tiền sát cho pháo binh trong những trận đánh. Những năm về sau tôi được điều động về cơ quan tham mưu, từ đây tôi có cơ hội t́m hiểu nhiều hơn những diễn tiến của cuộc chiến Việt Nam. Tất cả những cái đó dù muốn dù không cũng « ám » vào tác phẩm của tôi ». 

Từ ngữ « phản chiến » không c̣n là một nhăn hiệu ăn khách ; không c̣n mấy ai nhận chịu danh hiệu này. Nh́n vào những tác phẩm cuối cùng của Thảo Trường trước 1975, vượt qua chữ « phản chiến », ta có thể dùng từ « chủ ḥa », « ḥa » trong nghĩa «  huề » để gọi tắt quan điểm của anh, như trong truyện dài in năm 1971 :

« Và theo tôi, trong cuộc chiến hiện nay, dù tấn công hay pḥng thủ, h́nh thức này hay h́nh thức khác, bên này phải nêu rơ lên cái chủ đích đánh lấy ḥa của ḿnh.

Và hai bên phải cố duy tŕ tính cách dân tộc trong phe ḿnh, tránh khỏi sự chi phối của ngoại bang, phát triển cái xă hội trong phần kiểm soát của ḿnh để tiến tới thống nhất đất nước » [6]. 

Trong truyện, Hoán –  một sĩ quan Việt Nam – đă nói với đồng minh Mỹ « các anh đang giúp chúng tôi. Nhưng chính v́ sự có mặt của các anh, ở bên chúng tôi, hay nói một cách khác, chúng tôi đi chung với các anh, t́nh thế này có vô số vấn đề sẽ bị đặt ra » (tr.101-102)

Cuối cùng Hoán đă ngăn người Mỹ từ máy bay bắn xối xả xuống đám đông dân chúng và kết luận : « Rắc rối lắm, khó lắm, kẹt lắm » (tr.116). 

Viết như vậy, trong t́nh h́nh Miền Nam 1971, mà rồi khi cuộc chiến chấm dứt, 1975,Thảo Trường vẫn phải đi học tập mút mùa, là điều trái khoáy, ít người hiểu. 

Tổng cộng lại, tại Việt Nam trước 1975, Thảo Trường đă xuất bản 14 đầu sách, gồm có truyện ngắn, truyện dài, một tập tùy bút ; viết tiểu thuyết Bà Phi, ăn khách, đăng báo Tiền Tuyến hằng ngày, khoảng 2000 trang.

Tập truyện đầu tay Thử Lửa, 1962, có tầm quan trọng đặc biệt : vừa là một thành tựu nghệ thuật, vừa đánh dấu một giai đoạn tạm gọi là « tiền chiến tranh » qua tâm lư một lớp thanh niên thành thị : lư tưởng, tin vào t́nh tự dân tộc không phân chia Nam Bắc thành chiến tuyến. 

Sau đó chiến tranh lan rộng, mỗi ngày một tàn bạo. Tác phẩm Thảo Trường phản ánh mức khốc liệt và nét phi lư – tạo ra chất bi thảm của chiến tranh và đồng thời bày tỏ khát vọng ḥa b́nh và xóa bỏ thù hận. T́nh tự dân tộc và phẩm chất nhân đạo được nâng cao nhờ nghệ thuật văn học. Truyện ngắn Thảo Trường thường đạt đến chất lượng nghệ thuật cao – mà sau này, hai mươi năm sau, tác giả vẫn c̣n giữ được phẩm cách.

 

*

Ra tù 1992, sang Mỹ đoàn tụ với gia đ́nh 1993, Thảo Trường tiếp tục viết, in được 8 cuốn. Mới nhất là tuyển tập Những miếng vụn của tiểu thuyết, 2008. Truyện về sau thường kể lại đời sống cơ cực, phi lư trong các trại giam : « tất cả đau khổ tàn nhẫn, xót xa mà anh em trong tù phải chịu, những cảnh trớ trêu ḿnh gặp, hay sự dốt nát tội nghiệp của cai tù… đều đ̣i hỏi ḿnh để tâm phân tích » (Thảo Trường trả lời phỏng vấn, 4.8.2008).

Đồng thời anh cũng mô tả nhiều cảnh oái oăm của xă hội Việt Nam sau 1975, hay cảnh sống của người Việt định cư tại Hoa Kỳ. 

Bút pháp linh hoạt : tả cảnh tù tội th́ gay cấn, bi đát ; cảnh xă hội Việt Nam mới ly kỳ, cay đắng ; cảnh sống nước ngoài dí dỏm, hoạt kê. Thảo Trường hậu chiến tranh, hậu lao cải, là nhà văn đều tay và điệu nghệ. Nhưng nh́n chung, những truyện ngắn về các trại giam, tích lũy lâu, là hàm súc nhất ; chưa kể chúng làm chứng từ chân chính cho một thời đại.

Một truyện tiêu biểu : Những đứa trẻ đầu thai giữa hàng rào. Mẹ bị án chung thân v́ tội ṭng phạm giết chồng cán bộ ; cha bị 2 án chung thân v́ 2 lần giết người. Hai tội nhân bị biệt giam ở hai trại tù nam nữ riêng biệt, cách nhau bởi hàng rào kẽm gai « Anh gặp chị ngoài sân trại mấy lần. Nh́n, cười. Cười lại. Nh́n lại. Thế là thân nhau… Bèn nghĩ ra kế truyền tin cho nhau bằng cách dùng cây, chỉ lên những chữ thích hợp trong các chữ ở những khẩu hiệu trên tường nhà giam (…) Thế rồi chị tính toán theo ư chị… chị sẽ mặc một cái quần mỏng hở chỉ dưới đáy… » [7].

Tác giả kể t́nh tiết hấp dẫn. Và mô tả đời sống trong trại, trong đó có sáu đứa trẻ con của nữ tù nhân, dĩ nhiên chính thức không biết bố là ai. Truyện kết bằng h́nh ảnh người tù già đóng vai ông ngoại, bào ảnh Thảo Trường : « Bác ở tù đến năm thứ mười bảy và v́ là tù binh không có án cho nên bác cũng không biết đến bao giờ mới hết. Bác không thuộc một chế độ nào nữa cả, bác thuộc về lịch sử » (tr.61, sđ d). 

V́ không được xét xử, không có án, người tù không biết sẽ bị giam cầm bao lâu v́ tội danh ǵ, tự xem là « tù binh ». Nhưng đă là tù binh, th́ phải được hưởng quy chế tù binh theo luật quốc tế, và phải đựợc trao trả. Nhưng trao cho ai, trả về đâu ?  Bác thuộc về lịch sử.

Vấn nạn đă nhiều người biết. Nhưng nói thêm một lần nữa, cho minh bạch, cũng không phải là thừa.

Chế độ trách nhiệm phải lănh nhận trách nhiệm và trả lời chính xác từng hồ sơ một. Pháp lư và đạo lư thông thường là như vậy.

B́nh thường là như vậy.

  

Tác phẩm mới, hư cấu nhưng phản ánh tâm t́nh và phong cách Thảo Trường, có lẽ là Đá Mục, một truyện vừa – hơn 100 trang – viết 1997. Truyện trộn lẫn trật từ thời gian, xen thực tại đời sống tại Hoa Kỳ, với nhiều kỷ niệm. Bắt đầu từ thời sĩ quan mới ra trường, trấn đóng tại một tiền đồn hẻo lánh, đời sống êm đềm, hồn nhiên như những cô gái Thượng ngực trần bên suối ; đến những ngày trong trại cải tạo : những oái oăm, gian khổ xen lẫn với những cuộc gặp lại đồng đội, t́nh nghĩa ; cuối cùng là đời sống ở nước ngoài, thư thái, tiện nghi nhưng vẫn chua cay : «  ông lăo thấy rơ ràng cuộc đổi đời của ḿnh thật phi lư : tự nhiên t́nh thế xoay chiều… Ḿnh đang là người Kinh ở quê nhà nay hóa ra người Thượng ở quê người. Mà trong cái giới người Thượng này ḿnh c̣n là người Thượng mới, không giống người Thượng cũ… Hóa cho nên, hỡi người con gái bên bờ suối tiền đồn biên giới năm nào, bây giờ cô đă già, cô ra sao, cô ở đâu ? » [8]. 

Giọng văn giàu chất uy mua, linh hoạt, dí dỏm pha chút ưu hoài, nhắc đến lối hành văn phóng khoáng buổi đầu Thử lửa.

Khi ta nói chuyện một con sông, th́ chủ yếu là nói đến một khúc sông, như khúc sông Hương chảy qua thành phố Huế. Nói về một tác giả cũng vậy, thường ưu đăi ấn tượng về một tác phẩm nào đó. Với một sự nghiệp văn học đă trải qua nhiều ghềnh nhiều thác như của Thảo Trường, đánh giá toàn bộ là một việc khó.

 

Tôi đă đọc Hương gió lướt đi, Đ̣ dọc, trên báo Sáng Tạo, vào tuổi học tṛ. Nay cố khôi phục lại cảm nhận của ḿnh, và những trao đổi với bạn bè đồng lứa thời trước 1960. Rồi đọc Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng Tháp vào một giai đoạn khác, nặng ưu tư về chiến tranh và ḥa b́nh. Cuối cùng là Tiếng th́ thầm trong bụi tre gai, đọc trong nỗi u hoài về thời cuộc và số phận con người. 

Nhưng không lần nào cố t́nh đặt ra mục tiêu phê b́nh văn học. Nhưng có lúc cũng đă làm bất đắc dĩ, nghĩa là đánh giá và  « làm trung gian giữa tác giả và người đọc sau tôi », y hệt như lời anh Nguyễn văn Trung e ngại, đă viết đúng nửa thế kỷ trước, khi viết lời giới thiệu tập truyện Thử lửa

Bài này, cũng như tác phẩm Thảo Trường, là những viên sỏi đánh dấu những chặng đường « qua một chiếc cầu, lên một cái dốc » qua nhiều thời điểm. Xem như là thí điểm.

Và theo lời di chúc, đâu đó, của người mới ra đi : 

Phải luôn luôn nhớ rằng hăy quên đi tất cả.

 

 

Đặng Tiến

Orléans, 10.10.2010, đọc lại, hiệu đính cho ngày giỗ đầu, 26-8-2011.

Orléans, 10.10.2010, đọc lại, Tết Đinh Dậu, 2017


 

[1] Thao Trường, Thử Lửa, nxb Tự Do, tr. 31, 1962, Sài G̣n. Việt Báo tái bản 2001, California. Truyện in lại trong Tuyển Truyện Sáng Tạo, tr. 113, nxb Tân Văn, 1970. Thư Ấn Quán in lại, 2009, New Jersey, Hoa Kỳ.

[2] Thảo Trường, Đá Mục, tr. 125, nxb Đồng Tháp, 1998, California.

[3] Le Crépuscule de la violence (Hoàng hôn của bạo lực) 90 trang, nxb Tŕnh Bày, 1970, Sài G̣n.

[4] Thảo Trường, Tiếng Th́ Thầm Trong Bụi Tre Gai, tr. 13 và 27, nxb Tin, 1995, Paris.

[5] Sđd, tr.27

[6] Thảo Trường, Cánh đồng đă mất, tr. 17, nxb Tân Văn, 1971, Sài G̣n.

[7] Thảo Trường, Tiếng th́ thầm trong bụi tre gai, sđd, tr. 53-54

[8] Thảo Trường, Đá Mục, tr. 111, nxb Đồng Tháp, 1998, California.

 

________________________

 

a2a giới thiệu :

Góc Thảo Trường      Tin Văn (Nguyễn Quốc Trụ)

 

 

 

Trang Đặng Tiến

 

art2all.net