HOÀNG THỊ BÍCH HÀ

 

 

“BIÊN BẢN THẶNG DƯ”-

ĐAU ĐÁU NHỮNG PHẬN NGƯỜI

 

 

           Có lẽ ai cũng muốn chọn cho ḿnh lối đi êm đềm nhất có thể. Kể cả trong cuộc đời lẫn sự nghiệp văn chương. Những vấn đề gai góc có tính thế sự, muốn trực diện đối mặt đ̣i hỏi phải có bản lĩnh nhất định. V́ vậy nếu có chăng th́ số tác phẩm đó cũng không nhiều. Nhà thơ, nhà báo Phùng Hiệu đă chọn, đưa vào cơi văn chương đương đại một hiện thực cuộc sống trần trụi nhiều mảng màu buồn, thật buồn. Đó là những vần thơ đầy ám ảnh của một hồn thơ giàu ḷng nhân ái.

Có thể nói xuyên suốt, bao trùm tập thơ là tính nhân văn cao cả. Vậy ở đó anh viết những ǵ? Chúng ta hăy cùng khám phá. Tập thơ gồm 41 bài thơ là một sự dấn thân của tác giả, rất quả cảm, đă t́m cho ḿnh một lối đi riêng. Anh dành những trang thơ viết về những mảnh đời thiếu may mắn, những số phận éo le, lao động nghèo vất vả mưu sinh…với tất cả tấm ḷng nhân ái của một người cầm bút. Bước vào trang thơ Phùng Hiệu là anh công nhân công trường, chị thợ may, người bán vé số…với ḷng thương cảm sâu sắc của nỗi ḷng tác giả. “Biên Bản Thặng Dư” lan tỏa đến người đọc những giọt nước mắt đồng cảm, sẻ chia. Như vậy có lẽ cũng vơi đi ít nhiều nỗi đau của những phận đời như thế. Đó là dấu ấn trong văn học đương đại mà Phùng Hiệu góp phần vào gương mặt của cuộc sống hôm nay. Nỗi đau nào, số phận nào rồi cũng đi vào quên lăng của nhân gian. Phùng Hiệu đă kịp lưu lại và kư thác tâm t́nh vào ngôn từ thi ca để neo lại trong ḷng người đọc. Đánh thức ḷng nhân ái và trách nhiệm của người đời.

Cuộc sống xô bồ của kinh tế thị trường vẫn c̣n chỗ cho “t́nh yêu và câu thơ” đă là điều đáng quư. Những vần thơ đầy t́nh thương và trách nhiệm lưu lại những vất vả lo toan trong cuộc sống thường nhật của người lao động- những người đă và đang làm ra sản phẩm cho xă hội lại càng đáng quư hơn!

Mở đầu tập thơ là h́nh ảnh người nông dân một nắng hai sương để làm ra hạt gạo:

“ Tôi cầm lấy bát cơm
Và nhận ra những con trâu, cánh đồng, mùa gặt
Hạt gạo trắng c̣n nguyên màu nước mắt”

(Ngôn ngữ lên ngôi- tr 10;11)

Phải thật sự yêu cuốc sống tác giả mới những càm nhận tinh tế khi nghe được tiếng tṛ chuyện của sự vật, cây cỏ.

“ Tôi nghe được tiếng hát của mưa
Tiếng cười của nắng
Tiếng nói của cỏ cây

( Ngôn ngữ lên ngôi- tr 10;11)

Ai cũng muốn cuộc sống luôn công bằng, chân lư phải thắng. Đó là khát vọng của nhân loại trước những bất công của cuộc đời. Tiền nhân đă từng than rằng:

“ Thượng đế đành vắng mặt
Chân lư lại xa vời
Tôi dối ḷng an ủi ngắm mây trôi
T́m một chút b́nh yên khi vong hồn sôi sục”

(Tự vấn- Hoài Khanh- 1933-2016)

Dẫu biết và đă có đề cập đến nhưng vẫn c̣n có chút ǵ an phận ở người xưa. Nếu muốn xă hội ngày càng tốt đẹp hơn th́ phải thức tỉnh, phải hành động theo khả năng của ḿnh. Làm sao để góp phần hướng đến xă hội công bằng và văn minh. Nhà thơ Phùng Hiệu đă nói lên ước vọng công lư cho anh, cho tôi và cho tất cả mọi người với khả năng của người cầm bút thể hiện là đây. Rất khẳng khái và quyết liệt:

“ Tôi đúc kết ngôn từ bằng sự thật
Tư duy vào thế giới hữu h́nh”

Câu hỏi cuối bài như một lời luận tội:

(…) “Sự thật không thể nào giết chết
Ngài phải giết người nói lên sự thật- v́ sao?

(Sự thật không thể bị giết chết. tr 12)

Như vậy, không thể giết chết sự thật nên những kẻ bẻ cong chân lư đă giết người nói lên sự thật là h́nh thức“ giết người diệt khẩu”

Câu hỏi mà Phùng Hiệu đặt ra, đ̣i hỏi lương tâm và trách nhiệm của công dân trước cuộc đời, cho cá nhân, tổ chức có trách nhiệm với cuộc sống đáng được yên b́nh của người dân. V́ chính họ chứ không ai khác đă làm nên lịch sử, đă bao đời đấu tranh không mệt mỏi và đem cả xương máu chống thù trong giặc ngoài.

Và để hướng đến một xă hội công bằng văn minh mà mọi người dân đều mong ước, nhà thơ đă vạch ra cho ḿnh một hướng đi, một hành động cụ thể với niềm tin tốt đẹp. Đây cũng là quan niệm sáng tác:

“ Gói sự thật vào giấc mơ
Tôi đi t́m công lư
Tôi tin chắc phía chân trời có ánh b́nh minh”

( Kẻ hở b́nh minh- tr 20)

Những ai chịu thiệt tḥi nhiều nhất trong xă hội, chính là những người dân thấp cổ bé họng- những lao động nghèo. Những vần thơ anh dành cho những con người lao động. Họ là những chỉ biết vất vả mưu sinh làm ra sản phẩm vật chất cho xă hội nhưng vẫn c̣n đó t́nh trạng thiếu công bằng. Giá trị thặng dư chỉ làm giàu cho kẻ sở hữu lao động. Anh đứng về phía họ, Nói lên hoàn cảnh và tâm tư của họ bằng một trái tim nhân hậu và ng̣i bút đầy trách nhiệm. Họ là ai? Là người lao động, là anh công nhân, chị quét rác… Phố phường sạch đẹp th́ phải có các công nhân môi trường làm việc không quản nắng mưa để quét đường, múc cống…Mà quét hôm nay, mai rác lại ngập đường. Với thực trạng như thế nhà thơ Phùng Hiệu đă viết ra những câu thơ mà người đọc không khỏi xót xa và cũng tự thấy ḿnh cũng có dự phần trách nhiệm:

“ Chị quét cả đời nhưng rác chảy về đâu?
Khi dấu chân giẫm ṃn tuổi tác
Và năm tháng rót dần khô cạn
Sáu mươi năm mà rác vẫn tuần hoàn”

( Quét rác –tr 13)

Tác giả sử dụng câu hỏi tu từ nhưng nhưng người đọc- những công dân đang sống trong môi trường nên chăng cũng tự vấn về ư thức bảo vệ môi trường ḿnh đă có hay chưa?
Tác giả tiếp tục làm rơ vấn đề:
Chị quét cả đời mà rác măi phát sinh
Vậy phát sinh từ đâu?

“ Từ những ngôi nhà mang danh trí thức
Từ những diễn đàn hô hào, phô trương rất thực
“Giữ sạch môi trường quy hoạch tự nhiên”

(Quét rác-tr 13)

Quả là một nghịch lư khi những kẻ rao giảng đạo đức lại làm điều ngược lại. Xem ra không hiếm trong xă hội mà thời nào cũng có, đặc biệt là thời nay. Điều này nhiều người thấy và cũng nhiều người biết. Nhưng để mạnh dạn phản ảnh không phải là điều ai cũng có thể làm được. Đó là bản lĩnh của người cầm bút. Bằng tấm ḷng nhân ái cảm thông, anh c̣n thấy được sự bạc bẽo của cuộc đời đối với họ:

“ Đến cuối cuộc đời người ta quét chị ra
V́ ngỡ rác trong khu nhà ổ chuột”

(Quét rác-tr 13)

Anh nghe thấy “ Tiếng nấc trong khu rừng cao su” là h́nh ảnh người lao động với một cuộc sống thiếu thốn, tạm bợ là vách tường bằng đất. Họ ốm đau “trong túp lều lạnh cóng” với “Những vết thương khô /Vỡ vụn đêm ngàn”. Cuộc sống cơ cực thiếu những điều kiện tối thiểu cho một sống b́nh thường ngay giữa thời hiện đại V́ cảnh ốm đau, bệnh tật và nghèo đói vẫn đeo bám số phận người lao động.

“Suốt hành tŕnh ngă giá mưu sinh
Những bước chân hướng về vô thực…”

( Biên bản thặng dư, tr 16-17)

Bước vào trang thơ Phùng Hiệu là những mảnh đời cơ cực, lênh đênh trước nghiệt ngă cuộc đời cho gánh nặng mưu sinh. Có những câu thơ tả thực đầy chất thơ mà ám ảnh người đọc đến thế!

“ Chị ră bời bời khỏi xưởng may
Và vội vă bước chân về sáng
Đêm đă lắng tiếng đời đă cạn
Phố sang ngày
Trăng ngă phía tan ca"

Lao động nặng nhọc, làm việc quá sức, chế độ dinh dưỡng không đủ đáp ứng. Sức khỏe của người công nhân sẽ cạn kiệt dần bởi công việc về đêm, làm thêm ngoài giờ để mong kiếm thêm chút tiền để trang trải cuộc sống:

“ Chị bấu vào chỉ số thặng dư
Tờ văn bản được ghi bằng nước mắt”

Kư hợp đồng lao động với thời gian và công việc như thế quả là kư trong nước mắt, không dễ dàng chút nào khi mà biết trước là quá vất vả, cũng liều vậy thôi chứ biết kham nổi không và trụ được bao lâu. Làm vượt giờ, làm việc ban đêm hao tổn sinh lực hơn ban ngày. Vẫn biết là ban đêm là thời gian cần cho cơ thể nghỉ ngơi, hồi phục cho cơ thể nhưng gánh nặng mưu sinh không có lựa chọn nào hơn!

Những vần thơ của anh lại dẫn dắt chúng ta đến với cảnh đời của anh công nhân xây dựng. Anh bước vào công trường với nắm xôi lót ḷng.

“Anh lê những bước chân về phía công trường
Lót vào ḷng nắm xôi lên giá
Anh không dám châm vào chiếc xe cà tàng giọt xăng đắt đỏ
Đành đi bộ mỗi ngày đến trước b́nh minh”

Rồi họ sẽ ra sao?

“ Và kiệt sức sau mười bốn giờ căng thẳng
Với đôi chân rách tướp công trường”

Thấu hiểu được những nỗi vất vả truân chuyên của người lao động, anh ghi lại những vần thơ dành cho họ từ một trái tim giàu ḷng nhân ái khiến người đọc cũng quặn thắt ḷng. H́nh ảnh người công nhân trong thơ Phùng Hiệu làm việc cật lực với mơ ước cho con đến trường, có chiếc xe đạp để đi…đôi khi đơn giản chỉ là một tô phở. Đó là những giấc mơ rất đỗi b́nh thường nhưng thật không dễ:

“Anh chợt thấy những đứa con được đến trường
Trên chiếc xe Martin 107
Một căn nhà vách đất
Một tô phở ḅ thơm ngát b́nh minh”

Giản dị vậy thôi! Nhưng giấc mơ vụt tan biến kéo anh công nhân trở về với thực tại khi tiếng kẻng công trường báo hiệu giờ làm.

“ Nhưng tiếng kẻng công trường bỗng nhiên báo động
Anh giật ḿnh đánh rớt cơn mơ”

Bước vào thơ anh c̣n có cả những em bé chưa đủ tuổi lao động. Người sử dụng lao động vị thành niên, vẫn biết là hành động sai pháp luật nên họ đă làm giấy giả để hợp pháp hóa. Ở tuổi mười lăm, lẽ ra c̣n được ngồi trên ghế nhà trường nhưng em đă sớm phải đi vào nhà máy lao động trong môi trường độc hại.

“ Em cầm tuổi mười lăm
Bước vào nhà máy
Không thể là một đứa trẻ vô danh
Em được ngụy trang bằng cái tên lạ hoắc”

Tấm ḷng nhà thơ giàu ḷng trắc ẩn c̣n thấy được “phía sau ánh đèn lừa dối” là số phận của các cô gái bán hoa cũng đau ḷng không kém.

“ Trong ánh đèn lừa dối
Nhan sắc phô trương bằng những đường cong thân thể
Bằng sự ghen tuông đố kị tranh giành
Em quên mất câu tam ṭng tứ đức của cha già ngày đêm mong mỏi
Và cuối cùng em cũng chỉ là “ Nơi góc phố”... “ngả giá về đêm”

Thật chua xót biết nhường nào?

V́ đau đáu với những phận người thân cô, thế cô, anh muốn người dân lương thiện không bị những oan khuất. Khát vọng công bằng của anh được vạch ra cụ thể:

“ Tôi đi t́m giấc mơ
Mang tên công lư
Trong suốt hành tŕnh tuyên chiến với thặng dư”

Đây là một thách thức lớn mà cuộc đời đặt ra cho người cầm bút chân chính phải đối mặt. Và anh đă hành động bằng ḷng quả cảm và chí khí. Thể hiện qua câu chữ những trăn trở suy tư của tác giả là những vần thơ trữ t́nh thế sự và trữ t́nh công dân. Văn chương là tấm gương phản chiếu cuộc sống. Anh đă góp phần làm cho người đọc hiểu rơ hơn phần nào hiện thực của cuộc sống để thông cảm và sẻ chia. Không chỉ viết thôi đâu, anh c̣n nhập thế tích cực. Trong vai tṛ quản lư ở lĩnh vực báo chí và ở công ty xây dựng của anh. Tôi tin chắc rằng với tấm ḷng nhân ái, anh biết nâng niu sức lao động, biết chăm lo sức khỏe và là ǵ tốt nhất có thể, đặc biệt là an toàn lao động, không để có chuyện đau ḷng như thế xảy ra.

Đọc đến bài “ Sự mất tích của người công nhân rơi từ tầng mười tám”. Ḷng chúng tôi trĩu nặng một nỗi buồn. Vấn đề an toàn lao động ở đây không đảm bảo nên dẫn đến chết người. Người ta giấu nhẹm. Mạng người chết sẽ đi vào quên lăng, nếu nhà thơ thế sự của chúng ta không kịp lưu lại vào trang viết cho hôm nay và để lại mai sau. Với mong muốn điều đó đừng bao giờ lặp lại nữa!

“ Cánh cửa dự án đóng im
Dù phía sau là những cơn đau sự thật
Người công nhân bật lên tiếng nấc
(… ) Họ âm thầm đưa anh về đất mẹ quê hương
(…) Anh bị xóa tên
Khi dự án hoàn thành, dự án được vinh danh”

Dự án được vinh danh c̣n tên anh th́ đi vào quên lăng, nhưng may mắn anh đă ở lại trong trang thơ Phùng Hiệu. Như vậy linh hồn anh có lẽ cũng được an ủi phần nào mà vơi đi ít nhiều nỗi oan khuất đó.

Đi vào trang thơ anh c̣n có những người xa quê lên thành phố mưu sinh, chịu kiếp tha phương.

“ Đă mấy tết con không về thăm mẹ
Bước phong trần lưu lạc tha phương
Đă mấy bận xuân về trên đất khách
Phút giao thừa lỗi hẹn với quê hương”

( Bước tha phương, tr 64)

Trách nhiệm công dân của nhà thơ c̣n được thể hiện qua những vần thơ dành tặng người ngư dân bám biển. Vừa đánh cá vừa góp phần giữ ǵn biển đảo trong t́nh thế hiểm nguy.

“ Khi mẻ lưới cuối cùng được cất lên
Anh đậy nắp khoang thuyền trong phạm vi lănh hải
Và đối diện với đoàn thuyền hiện đại
Nhắm vào anh bằng “họng súng” ṿi rồng.

Xác con thuyền ch́m dần dưới đáy tự do
Anh trồi lên bằng tinh thần “ chiến binh” bám biển”

( Cánh chim bám biển, tr 72- 73)

Lần nữa câu hỏi đặt ra là làm sao để bảo vệ được tài sản và tính mạng của ngư dân khi mà họ làm việc trên biển ngay trong lănh hải của Tổ quốc, không hề vi phạm lănh hải của nước khác mà vẫn bị nước ngoài ăn hiếp?

Anh tiếp tục mang đến cho người đọc những vần thơ, là những giọt nước mắt tưởng nhớ và cả niềm tự hào về những người chiến sỹ đă hi sinh để giữ ǵn biển đảo.

“ Các anh không về mắt đảo bỗng rưng rưng
Chiều Cô Lin xác con tàu đẫm máu
Như cột mốc chủ quyền nơi biển cả
Sáu mươi bốn anh hùng hóa đá giữ biên cương”

( Các anh không về mắt đảo rưng rưng, tr 74)

Thơ anh tiếp tục làm động ḷng trắc ẩn của chúng tôi với những h́nh ảnh người bán vé số, ông lăo mù ḷa hát dạo, người bị chất độc da cam…thoi thóp mưu sinh

“ Một h́nh hài chất độc da cam
Ú ớ từng câu ai mua vé số
(…) Anh thương binh lặng thầm
Từ chiến trường xưa lê đôi chân rách
Lời hát” Ngày trở về” trên chiếc bàn vé số”.

(Đằng sau tờ vé số- tr 50; 51)

Mỗi người bán vé số là một số phận thương đau, éo le và trắc trở. Tác giả cảm thông sâu sắc và làm những ǵ có thể để phần nào an ủi họ.

“ Tôi đau thương cầm mấy mươi ngàn
Không thể nào xoa dịu nỗi đau
Cho em bé đến trường
Bằng tiếng rao vé số…”

Vâng! Chúng tôi hiểu một ḿnh anh không thể xoa dịụ nỗi đau của họ- những mảnh đời khốn khó mà xă hội phải chung tay, cơ quan chức năng cần có giải pháp khả thi. Vẫn biết rằng họ cũng đă và đang vào cuộc nhưng cần có trách nhiệm và nhiệt t́nh hơn nữa, vận động những nguồn lực có thể để cho những số phận kém may mắn mắn giảm bớt phần nào. Điều anh làm được là đưa họ vào trang viết để xă hội nh́n thấy họ, các cơ quan chức năng nh́n thấy họ. Đó là điều đáng trân trọng, đáng ghi nhận ở một ng̣i bút có tâm.

Trách nhiệm công dân của anh c̣n thể hiện ở những ḍng thơ nóng hổi tính thời sự:

“Một ngày thành phố nổi cơn giông
Cũng là lúc chủ nhân của Sài Thành đi vắng
Chỉ c̣n cư dân cúi đầu im lặng
Những cơn đau ngập suốt đêm dài”

( Phố ngập, tr 62)

Lại một vấn đề đặt ra: Tại sao thành phố ngập lụt mỗi khi mưa? Phải chăng quy hoạch thiếu đồng bộ, thiếu tính khoa học, vấn đề thoát nước chưa được tính toán kỹ lưỡng …để rồi chịu thiệt tḥi nhất vẫn là những người dân nghèo vất vả mưu sinh trong nước ngập. Và câu trả lời đă có ở khổ thơ cuối.

“ Thành phố mưa về hóa những con sông
Chảy qua khắp nỗi ḷng thiên hạ
Những dự án năm- mười ngh́n tỷ
Chỉ mua về phố xá những cơn giông”

( Phố ngập, tr 62)

Nhà thơ thế sự của chúng ta góp một tiếng nói đ̣i toàn vẹn chủ quyền- một đ̣i hỏi chính đáng của bất kỳ một dân tộc nào yêu Tổ quốc. Trong thơ anh c̣n nghe cả tiếng nấc nghẹ ngào cho các chiến sỹ hi sinh v́ v́ nỗi đau c̣n đó, hải đảo vẫn đang bị ngoại bang lăm le ḍm ngó. Bằng phương pháp liệt kê tác giả đă hệ thống lại các mốc lịch sử đầy máu và nước mắt:

“ Năm 1956
Hoàng Sa mất một phần máu thịt
Năm 1974
Bảy mươi tư người Việt hi sinh
Khi đang làm nhiệm vụ thiêng liêng
Bảo vệ chủ quyền quê hương biển đảo
Hoàng Sa rơi vào tay giặc
Năm 1988
Gạc Ma hóa thành biển lửa
Sáu mươi tư chiến sỹ hi sinh
Khi đang cắm ngọn cờ Tổ quốc
Đă vỡ tan trước họng thù phương Bắc
Năm 2013
Với âm mưu đường lưỡi ḅ dối trá
Phương Bắc ngang nhiên
Kéo giàn khoan vào ḷng biển cả
Và manh tâm cắt cáp những con tàu”
Rồi một ngày Bauxit Tây Nguyên
Bỗng rỉ máu từ vết thương kinh kế”
Rồi một ngày chất thải Formosa
Khiến cả miền Trung phơi đầy xác cá
Thảm họa môi trường người dân gánh cả”

( Biên bản chủ quyền, tr 76)

Cho dù thiên tai hay địch họa, kẻ nào gây ra đi chăng nữa th́ thiệt tḥi đều thuộc về người dân, những kẻ có quyền, có tiền sẽ cao chạy xa bay khỏi những vùng độc hại …Trong lúc người dân là lực lượng làm nên lịch sử, dựng nước và giữ nước công của người dân không hề nhỏ. Nhưng họ chịu nhiều mất mát, khổ sở nhất chứ không ai khác.

“ Biển lại gầm lên trận băo căm hờn
Biết bao giờ lănh thổ được b́nh yên”

Câu hỏi này không đơn giản khi gợi lên trách nhiệm công dân cho người đọc mà hướng đến thành phần có quyền hạn và nghĩa vụ chăm lo cho đất nước.

Anh kêu gọi và nhắn nhủ:

" Khi thế gian không chứa hết những mảnh đời bất hạnh
Cần có những ṿng tay nhân ái của t́nh người”

Nhà thơ, nhà báo Phùng Hiệu đứng về phía người cần lao, bênh vực họ, nói lên những tâm tư nguyện vọng của họ bằng thái độ thẳng thắn, dứt khoát mà nhân hậu. Anh muốn ḿnh có ích cho họ ngay cả khi chết đi rồi. Thi nhân đă làm di nguyện hiến xác sau khi qua đời.

“ Nếu tôi chết xác thân này dâng hiến
Đừng chôn tôi hoang phí một nấm mồ”
Trong di ảnh khắc hai từ di nguyện
Để linh hồn luôn hát khúc hư vô”

( Di nguyện- tr 82-83)

Anh chuyển tải đến người đọc những vấn đề cần suy ngẫm. Bằng nghệ thuật diễn đạt phong phú nhiều thể loại. Thơ tự do chiếm phần lớn với ngôn ngữ hiện đại, táo bạo đầy hơi thở của cuộc sống. Sử dụng các biện pháp nghệ thuật: phương pháp liệt kê, điệp từ, điệp ngữ với bút pháp tự sự và trữ t́nh đan xen một cách hài ḥa, tự nhiên. Thơ anh mang tính thời sự trước những vấn đề nhức nhối của xă hội và đời sống của những người dân lao động nghèo… Đó là hiện thực cuộc sống mà anh chuyển tải vào thơ. Những bài thơ như những trang nhật kư buồn, có chiều sâu tư duy và nỗi ḷng tác giả. Thơ khắc họa những vấn đề nổi cộm của thời đại chúng ta đang sống. Mỗi bài thơ là một câu chuyện, một nỗi niềm chứa ḷng trắc ẩn của chủ thể trữ t́nh. Anh đă thành công khi đưa hiện thực cuộc sống trần trụi vào thi ca. Thơ Phùng Hiệu sẽ neo lại trong ḷng người đọc và ghi dấu ấn cuộc sống, lưu lại cho hậu thế ít nhiều góc cạnh của cuộc sống hôm nay.

Chúng ta -Những độc giả cùng thời cũng sống thực trong xă hội kinh tế thị trường, bên cạnh mặt tích cực vẫn tồn tại mặt trái đầy nhức nhối nên càng thấu hiểu ư t́nh của thơ Phùng Hiệu . Anh chính là nhà thơ của hiện thực cuộc sống, chất chứa tâm t́nh với bút pháp và nội dung không lẫn vào ai được. Có thể nói Phùng Hiệu -một ḿnh một góc thơ trong một ng̣i bút có trách nhiệm và giàu ḷng trắc ẩn.


Sài G̣n, ngày 28/8/2020
Hoàng Thị Bích Hà


 

 

art2all. net