h o à n g x u â n s ơ n


 

Cao Vị Khanh


Hơi thở rướn của lục bát

                                         tặng bậu, mỏng dánh




Bắt đầu...

... bắt đầu là một lời tán thán (hay tán tỉnh cũng vậy thôi) như vầy " em hai ơi sao em nhẹ hếu (đẹp dàn trời) như cái bông hường (mới nở) vậy mà tôi th́ (uổng quá!) đă là một con bướm hết thời (quờ quạng). Nói cho văn vẻ hơn một chút th́ là em-nhẹ-quá-như-bông-hường-mà-tôi-cánh-bướm-tà-dương-chập-chờn.

Như vậy tại-sao lại ra nông nổi này khi viết lại thành lục bát


em nhẹ quá (khi khổng khi không xuống hàng bất tử)
như bông hường
mà tôi cánh bướm tà dương (lại bất tử xuống hàng)
chập chờn


Tại-sao-không-là


Em nhẹ quá như bông hường
Mà tôi cánh bướm tà dương chập chờn


(như từ hồi nẳm vậy đó, coi phải cái điệu th́ thầm thủ thỉ dụ dỗ vo ve ong bướm ... hơn không )

Nhưng mà tại sao lại hỏi tại-sao. ( có khi nào ngồi lơ mơ, đầu óc thả lang vơ vẩn, rồi bất chợt ngó chăm bẳm vào bất kỳ một chữ nào đó-chẳng hạn như chữ tại-sao, sẽ thấy cái chữ tại-sao này nó kỳ cục như chính cái ư nghĩa tại sao kỳ cục của nó vậy). Không tin thử coi. Không tin nữa, cứ thử lên giọng hỏi coi, tại-sao? Coi có câu trả lời nào không. Hay chỉ là một sự im lặng dị thường.
Thiên hà ngôn tai!

ngày khuỵu xuống trên thân . thồ
kiếp xưa chim hạc
ốm o gầy ṃn
hát ru trầm
điệu vai thon
gối đầu lên nỗi mất, c̣n
thịt xương
em nhẹ quá
như bông hường
mà tôi cánh bướm tà dương
chập chờn
chẻ hai lời
vệt môi hôn
mớm câu hoa mị nhiếp hồn tân toan
ừ !
kiếp vui cũng họa hoằn
th́ đường quang quẽ đừng băn khoăn
chờ
tôi-nơi-em-khất-đời-thơ
có nhau vụng dại
dăm tờ
bối thơm


Xuống hàng là xuống hàng. Chấm và hết. Không có hỏi han lôi thôi. Mà cũng không có phân trần lếch thếch. (thơ chớ bộ nhân t́nh nhân ngăi ǵ sao mà ỉ ôi... )

Xuống hàng là xuống hàng. Giống y cái ngă ba đường đời vậy đó. Tới đó là phải tan-hàng-cố-gắng. Tới đó là phải anh-đường-anh-tôi-đường-tôi. Tới đó là người-lên-ngựa-kẻ-chia-bào. Có níu có kéo có tŕ th́ cũng có cưỡng lại được đâu. Th́ c̣n hỏi tại sao làm chi cho thêm ngớ ngẩn. Mà có hỏi th́ cũng có ai trả lời đâu. Thiên hà ngôn tai !

Tới đó th́ xuống hàng vậy đó. Mà điều có thấy không. Tự dưng nghe như thảm thiết hơn khi lời thơ bị bứt rời ra, đứt ĺa. Và h́nh ảnh không c̣n là một bức tranh tĩnh (chết) nữa mà trở thành một hoạt cảnh (sống, động) hẵn hoi. Mà tôi cánh bướm tà dương chập chờn. Thơ đi một hơi một mạch nghĩa là vẫn c̣n đó, sức sống. Sự liền lạc của chữ nghĩa mang trong nó h́nh ảnh của gắn bó, của tồn tại... nghĩa là của hy vọng (dù le lói)? Như vậy là câu thơ không chuyển được hết cái ư nghĩa của thôi-đành, của đành-vậy, của cũng-đành, của đầu-hàng, của chịu-trận, của hết-thuốc-chữa... nghĩa là của tuyệt vọng.

mà tôi cánh bướm tà dương
chập chờn


(hai chữ "chập chờn" rớt xuống hàng dưới in h́nh như đôi cánh mỏi đă rụng xuống chiều nào, thấy không)

Câu thơ động đậy làm h́nh ảnh cánh bướm xao xác, chấp chới, như rụng, như rơi. Ư thơ được phụ diễn thêm bằng h́nh thơ. Tuyệt cú! Chẳng phải phương pháp audio-visuel vẫn được coi là cách thức truyền đạt hiệu quả nhất sao. Nhất ông, ông hoàng...

Đă biểu xuống hàng th́ phải xuống hàng, vậy thôi.
Th́


ừ !
kiếp vui cũng họa hoằn
th́ đường quang quẽ đừng băn khoăn
chờ


ờ vậy đó mà lạ lắm. Cái chữ "chờ" bỏ hàng nhảy xuống đứng trơ trọi một ḿnh, băn khoăn thấy rơ. Thấy không, cái t́nh cảnh một-ḿnh-đứng-giữa-khoảng-chơ-vơ, cái chữ "chờ" lơ láo đó. Dặn đừng chờ mà thật ra biết rằng không cần dặn. Nên dặn mà rất ngại ngùng. Bởi có ǵ hứa hẹn đâu, sự chênh lệch đó, mà chờ mà dặn mà không ngại ngùng khi dặn đừng chờ. Thành ra giữa chữ "chờ" (lẽ ra) ở trên với chữ "chờ" bỏ xuống câu dưới là một khoảng cách có thật không đo được của bao nhiêu ray rứt của bấy nhiêu do dự của chừng ấy phân vân của rất mực tần ngần, của một thú nhận về sự thất bại tự thân nằm trong mối hạnh ngộ bất thường. Và... thấp thoáng trong đó, không chừng c̣n nguyên... một nỗi tiếc thương.
V́ vậy thơ làm sao êm xuôi cho được khi cuộc t́nh đă đ̣i đoạn như chính cái hạnh-phúc-thiên-tai vốn đă là yếu tính của cuộc t́nh trái cựa. Thơ phải trắc trở trặc trẹo cho đúng kiểu tréo ngoe của t́nh yêu trễ năi đó thôi. Cho nên có phải chính cái ngắt chữ bất ngờ như hơi thở đứt quảng, cái nhảy câu bất tử như cơn thở dốc đứt hơi, cái h́nh thức vặn vẹo như cơn mê sảng đồng thiếp mới nói được hết mức cái lạng quạng cái băng hăng bó hó cái nhăn nhó chần chừ cái nửa đời nửa đoạn cái dở dang tức tưởi của những toan tính muộn màng. (có nghe chăng, cái hơi thở hắt, cam đành!)
Thấy chưa, thấy cái xuống hàng lạ lắm đó chưa.

Đêm
chườm
củi, khói
ngây ngây
nhà ai sưởi muộn
cuối ngày đông miên
bước chân đi giữa vạn miền
về nghe một chút b́nh yên
phập phồng
đă quen đời
gánh
mênh mông
vết thương vết nhớ
mặn nồng
vết đâm...


giả sử làm ngang viết ( đọc, coi, ngó... ) vầy được không

bước chân đi giữa vạn miền
về nghe một chút b́nh yên phập phồng
đă quen đời gánh mênh mông
vết thương vết nhớ mặn nồng vết đâm


có thấy ǵ khác lạ không. Người nghe chắc không thấy lạ. Nghe xuôi tai. Nghe thuận thảo. Nghe êm ái như có ngón tay nghê thường nào sờ soạng lên vết cắt c̣n rịn máu. Nghe như có hơi thở trầm hương nào rà sát lên lớp da non mới vừa bắt miệng. Thơ đó. Có ǵ lạ đâu. Thơ y như hồi nào tới giờ. Y như cái hồi cô Kiều chảy giọt nước mắt thất thân theo kiểu sáu-tám-ôi-kim-lang-hỡi-kim-lang-thôi-thôi-thiếp-đă-phụ-chàng-từ-đây. Hơn nữa muốn cho đúng điệu nhất th́ phải đọc và viết rơ ràng như vầy : (hai chấm, xuống hàng)
(thụt vô một hàng ) Ôi Kim lang,hỡi Kim lang (xuống hàng)
(ló ra một hàng ) Thôi thôi thiếp đă phụ chàng từ đây

Lục bát là phải vậy. Luật chơi đă rành rành ra thế. Dẫu có chịu chơi cách mấy (phá thể, biến thể... ǵ ǵ đi nữa) th́ cũng phải trên dưới rơ ràng. Sáu trên tám dưới. Sáu trên tám dưới. Sáu trên tám dưới. Cứ như vậy đó mà bốn-câu-ba-vần hay trường-thiên lưu liên sao sao cũng được. (Ngoại trừ một ít bài ca dao có 8,10,12,14 chữ mỗi câu cũng chỉ phá lệ cho vui mà số lượng rất ít, không đáng kể)
C̣n về nhịp thơ (tiết tấu, ngắt câu ngắt chữ ) th́ phải là nhịp chẳng (2/2/2/2 hay 2/2/4 hoặc 4/4) như để phù họp với cách thở hít của người ta, nhẹ nhàng, đều đặn, ḥa hoăn .Vậy sao (lại tại-sao) mà ngang ngược trồi sụt cho đến đỗi thắc thẻo thất thường như vậy.

đă quen đời
gánh
mênh mông
vết thương vết nhớ
mặn nồng
vết đâm


mà không thắc thẻo sao được v́ có phải vết nào cũng giống vết nào đâu. Cái làm nên thương nên nhớ đâu phải cái hời hợt cạn sớt phủi rớt ngoài da. Cái làm nên thương nên nhớ phải là cái hun hút thăm thẳm, cái trong trỏng tuyệt mù, cái người-Huế-nhớ-nhau-trọn-đời, hết kiếp. Như vậy nếu không xuống-hàng, nếu cứ viết ngang bằng th́ làm sao khỏi lấn cấn. Thử coi. Vết thương vết nhớ mặn nồng vết đâm. Vết nào như vết nấy. Ai mà chịu. Cái vết quan trọng nhất, đầu mối của mọi thứ dấu vết trên đời này phải có cái chỗ riêng của nó, một ḿnh, để thấy được cái chỗ đương hai hóa thành một, để thấy được bỗng chốc đầu cổ tay chân ǵ cũng mất tiêu ráo trọi mà chỉ c̣n gom lại có một chỗ duy nhất, để gọi nhau nấn níu, tượng h́nh mà cũng tượng t́nh nhất, cái chỗ để gọi nhau "ḿnh ơi". Vết đâm.

vết thương vết nhớ
mặn nồng
vết đâm


(có nghe không hơi thở rướn rờn rợn vết mặn nồng !)

Tại vậy đó mà thơ cứ phải dẫy nẩy, vùng vằn, vụt chạc v́ có quá nhiều điều lấn cấn, tức tưởi, không yên. Muốn nói cho hết, cho đủ, cho vừa th́ chỉ c̣n cách bứt tung ra khỏi cái ṿng khuôn chặt chịa êm xuôi quen thuộc đó.
Có điều ǵ khó nói hay nói mà không thể nói hết. Có điều ǵ phải giấu lại dù vốn muốn phơi trần. Ấm a ấm ức. Lỡ dở. Nửa chừng. Có điều ǵ muốn la hét mà môi cứ ngậm câm. Hay miệng há hốc mà tiếng cứ ứ nghẹn.

ngồi bên cửa
lọt ưu phiền
dễ chừng năm tháng
đă quên
ḷng người
một ṿng dang rộng xa khơi
một ôm hụt hẫng
phiên trời thâm căn
ngồi nghe thương thế lịm dần
với mốc meo nắng
với tần ngần
mưa
           với mưa
                          với mưa
                                        với mưa
với môi bằn bặt âm thừa khổ sai


Mắt nhắm nghe thơ hẳn cũng nói không trật rằng th́ là lục bát. Mà mở mắt ngó trừng trừng th́ lại ngờ ngợ không chắc. Cái h́nh ảnh và nhịp điệu quen thuộc sáu tám đâu c̣n nữa. Ma lực của vần điệu và cú pháp đă phù phép hồn người ra khỏi cái mặt phẳng ba chiều tĩnh lặng để hóa thân vào cái cơi lừng lững bốn chiều. Ở đó thơ đục đá đẽo tượng. Ở đó thơ điêu khắc trầm luân. Có lúc nào thấy được chăng cái h́nh người găy gập, ngồi bó gối, gục đầu chịu trận dưới cơn mưa xối xả của định mạng, hồn thương phế, miệng ngậm câm đến nỗi mỗi tiếng hét bất lực chưa kịp thoát ra đă vỗ ngược vào lồng ngực từng tràng sấm sét. Đọc thơ, nh́n thơ mà như mường tượng sờ được từng mảng-thơ bôi tô đắp trét. Thấy không, nỗi phiền muộn như một thứ chất lỏng dẻo nhẹo ẩm rít chảy-ngấm-thấm-lọt vào ḷng người vốn dĩ như cái miệng phễu nên hứng không sót một giọt nào, lệ cường toan. Thấy không cái hụt hẫng có thật, có thật đến quơ tay c̣n ôm được cái trống không, thật như đuôi-mắt-chân-chim đă mỏi, thật như đường-môi-cắn-chỉ đă tưa, thật như sợi-tóc-ráng-chiều đă tối. Thấy không, mùa nắng đă qua, em đă xa và mùa mưa đang tới. Những giọt mưa mang hơi ẩm phủ mốc meo lên tấm ḷng cổ độ. Và t́nh chúng ta, t́nh chúng ta c̣n lại ǵ ngoài một nắm di hài.

ngồi bên lệ cổ di hài
dễ chừng năm tháng
đă dài
thiên thu
ngồi vàng vọt
bóng trăng
lu
với riêng ngồi lại
ao tù
thiết thân


Thử chép lại bài thơ theo cái khuôn khổ ngay ngắn, nghiêm chỉnh, cân xứng như vốn dĩ đă ngàn năm coi c̣n có cái tác dụng huyễn hoặc đó chăng ?

Câu thơ lục bát tự thân rất xuôi chèo mát mái, vần điệu thảo ngay, dịu dàng, dễ chịu. Vừa có yêu vận vừa có cước vận làm bài thơ có quá hai câu trở lên nối nhau khít rim, chặt chịa, liền lạc như một tràng chuỗi hột hiền lành mà vị trí và vai tṛ của từng hột chuỗi được phân bổ đồng đều tạo nên một thế quân b́nh hoàn chỉnh. Nh́n như vậy, lục bát chính là thể thơ biểu hiện rơ nhất cho cái thế thăng bằng tuyệt diệu trong ḷng người Việt, bài học khôn ngoan nhất của cuộc trường chinh cam go dành đất sống với hai thế lực đối nghịch thường xuyên, thiên nhiên và ngoại xâm. Sự ḥa điệu giữa người và người cũng như giữa người và thiên nhiên đă phản ảnh trong cái nhịp hài ḥa, thuận thảo, êm ái, tự tại... của những câu lục bát ngay từ thời c̣n là ca dao bay lượn trên sông nước ruộng đồng. V́ vậy, nếu có t́m đọc lại ngàn bài lục bát cũng vẫn y cái giọng điệu và nhịp tiết đều đặn, hiền lành, ngọt ngào... như ru như dỗ. Dỗ người v́ chính ḷng ḿnh đă được dỗ yên.
Ngay cả đến thời gần đây, lục bát vẫn c̣n nguyên cái thế thăng bằng dễ thương đó. Nh́n một bài thơ lục bát của Nguyễn Bính được chép tay bằng mực tím y như ngó một cô con gái nhà lành, thùy mị, phía trước phía sau tề chỉnh, cái ǵ cũng vừa vừa phải phải, như chính cái đ̣i hỏi chừng mực của một thời kỳ mực thước.

Nhưng mà có c̣n nữa đâu, cái thời vừa-vừa-phải-phải đó.

Những khám phá mới của khoa học và triết học giữa hai thời hũy diệt lớn đă làm thay đổi hẵn lối sống và nếp suy nghĩ của con người. Đă có người kêu lên thượng đế đă chết. Không biết ông ta có chết thật không chớ con người th́ quả t́nh ngất ngư đến mất thở. Khoa học tăng hiệu năng tàn phá theo cấp số nhân, triết lư cứu rỗi con người theo cấp số cộng, chiến tranh làm mọc lên những thành phố lở lói nhanh hơn cây xanh, máy móc tăng vọt tốc độ của đời sống lẹ hơn suy nghĩ và đô thị vây khốn con người trong những giấc mộng cụt đầu cụt đuôi. Chung cư khoá trái cửa kín mít, ngă tư ngă năm ngă sáu ngă bảy, đèn xanh đỏ chớp tắt chớp tắt, chiếc đinh ốc của Charlot, con chó điều-kiện-hoá của Pavlov, miệng đại vực mở toác hoác ngay giữa con phố triệu người, miệng đại vực mở tanh banh ngay giữa lồng ngực ám khói, mặt trời rồ dại, mặt trăng thất tiết... Và con người, con người thành kẻ thất lạc chính ḿnh.

mỗi lần đi
một hỏi đường
tôi chậm lụt giữa nộ cuồng thế gian
giữa trăm khốc liệt giăng hàng
t́m đâu
tôi ?
ở ngổn ngang sự t́nh


Không phải tự nhiên mà lục bát đèo bồng làm mặt lạ. Tại đă tới lúc người ta lạ mặt với chính ḿnh và với cả thế giới chung quanh. Thiên nhiên không c̣n là cơi trú ẩn bao dung và tha nhân th́ trở thành địa ngục. Con người tới và đi như khách lạ ngang qua cuộc đời tựa quán trọ buồn hiu. Cơi nhân gian rốt lại chỉ là một cơi giả h́nh và cuộc sống nếu có thật chỉ gom lại trong từng khoảnh khắc. Chân lư thay đổi như tṛ mạo hóa. Mọi đối cực của cuộc đời là tṛ chơi của chữ nghĩa và sự chọn lựa về một phía nhất định chỉ là thái độ ngụy tín nhất của con người. Đầu-đuôi, trên-dưới, ngược-xuôi, trong-ngoài, tốt-xấu rồi ra cũng chỉ là những khái niệm hết sức tương đối, h́nh học không gian đă phá vỡ định đề Euclide, ở bên ngoài trái đất trên tuốt mấy tầng mây mọi thứ đă lộn nhào, và sau cuộc đổi đời năm ấy, những nấc thang giá trị cũng lộn tùng phèo trong ḷng ta. C̣n lại ǵ không, có c̣n lại ǵ không trong ḷng ta, thế quân b́nh huyền thoại.

mỏng manh
là sợi tơ tằm
hoang mang là tiếng thơ
thầm gọi tên
là trăm con chữ tật nguyền


là trăm con chữ tật nguyền ? ờ chữ nghĩa đă tật nguyền nên chỉ đưa đến ngộ nhận và bế tắc.

Đến một lúc tất cả trở nên nḥe nhoẹt, lờ mờ, nhập nhằng, lợn cợn... đường ranh biện biệt đă mỏng hơn sợi tơ tằm th́ c̣n chỗ nào để phân biệt phải-trái, đúng-sai, vui-buồn, mê-tỉnh... Đă không rơ ràng th́ chỗ nào là chỗ phải dừng. Mà dừng lại có chắc đă đúng chưa khi hạnh phúc chỉ là mặt này của đau khổ mặt kia, khi tiếng cười có khi chỉ là ngụy trang của tiếng khóc, khi yêu đương chỉ là mầm móng của tan vỡ, và mộng mị chính là khởi đầu cho một cuộc tự sát dịu dàng. Vậy th́ có cần phải đi ngay về thẳng, đường đi có c̣n chỗ tới khi chỗ về đă bít đường lui. Sao không lung lăng khi chính ḷng ta khệnh khạng, bối rối, mù mờ trước những đối cực bất phân. Sao không xiên xẹo khi chính ḷng ta c̣n không ngay ngắn, nữa là.

chao ơi
thiệt tội đêm dài
nghiến sâu thân thế
lạc loài thể thân
chừ
trùm cái bóng phân vân
về mô cũng đụng chút gần
thịt xương
.................
ta về
nhang khói lắt lay
thôi âm hồn nọ
vẫn ngày dương gian
..................
ta về
như gợn gió âm
ở lâu vết buốt
ngực trầm tích kia
giọt mưa giọt lệ đầm đ́a
thất phu
nhoè buổi ta về
trắng
không


nghe không em, thơ như cái hơi thở rướn từ một vết thương chí tử, vói, níu, bắt tràm qua cuộc sống, như cái hơi thở hắt từ một trái tim đă mỏi nấn nuối qua bờ cơi tử sinh. Những câu những chữ rơi, rụng bất ngờ như chính những bày-đặt-rất-t́nh-cờ của định mạng. Đọc lại trên môi, đọc lại trong mắt để thấy rơ ràng cái chúng ta không thấy được, bộ mặt thật của cơi người, phân vân, lay lắt, lộn xộn, lu bu, rối bù... Thơ như một cố gắng vớt vát để định h́nh cái không có h́nh dáng nhất định, cuộc đời, t́nh yêu, hạnh phúc, đau khổ, niềm vui, tiếng khóc, câu cười... đă không c̣n là cái như ta đă tưởng, đă thay đổi rồi khi chính ḷng ta đă lụy, từ khi...

Bởi vậy, đâu phải khi không lục bát bỏ hàng rẽ lối, chệnh choạng, khấp khểnh. Bởi chính ḷng người đă thương tật nên vóc h́nh cũng khấp khểnh, chệnh choạng, bỏ lối rẽ hàng đó thôi.
Mà hổng chừng phải vậy lục bát mới tận tụy được cùng ta, cuộc trầm luân đó.

Từ khi Picasso chẻ h́nh người ra làm trăm mảnh vụn th́ bộ mặt nhân gian cũng đâu c̣n lành lặn nữa. Hoặc chỉ lành lặn theo cái mỹ cảm mới. Mỹ cảm của chất nổ banh da xé thịt, của ḷ thiêu người, của ám sát chính trị, của họa diệt chủng... Lần này, với Hoàng Xuân Sơn cái trật tự lành lặn cũ cũng phải bị phá đổ đi để lập lại một trật tự mới, trật tự của cuộc điêu tàn mới. Lục bát bị xé ra từng mảnh rồi ráp lại theo cái nh́n vỡ vụn của con mắt điêu linh. Chỏng ngược đầu xuống đất, mọi sự có dị thường hơn khi đứng hai chân trên mặt trần gian này mà làm thơ ? Thơ lộn lạo như cơi hồng trần tất tả, thơ hổn hển khi con tim đập sái nhịp nhân gian, mệt đừ

tiễn cung . vút
một đuôi mày
hỡi ơi t́nh lụy
ngón tay
trễ tràng


Từ cái vị trí lỏng chỏng của cuộc sống bất an, của cái tâm bất định, của cái t́nh bất khả, thơ là đường bay lêu lỏng của con tim bất trắc trong một thế giới bất ổn. Như vậy có ǵ bất thường đâu khi lục bát vặn vẹo, co rúm hay luông tuồng suồng să ... chẳng qua như cái hơi thở của ḿnh, những khi... đời dở chứng.


... khi đó, con tim nhỏ xíu đập, cḥi như đuôi cá mắc cạn
... khi đó, cổ thắt nghẽn như cái cần đàn bẻ quặp lại sợi trúc ti

lệ từ trích một nét ngang
nguyền thân đuối . lả
quy hàng mỵ nương


Khi đó, lục bát là hơi thở rướn níu ta lại với cuộc đời.

CAO VỊ KHANH


 


art2all.net