laiquangnam

 

THỬ ĐỀ NGHỊ MỘT GIẢI PHÁP GIỚI THIỆU THƠ TIỀN NHÂN TA

 

 

BÀI THƠ DI SẢN CHỮ HÁN

NGÔN HOÀI

CỦA KHÔNG LỘ THIỀN SƯ ( ? - 1119)


        Phần I - Đi t́m văn bản Ngôn Hoài thư quy

 

       Phần II - Truyện Không Lộ trong Lĩnh Nam Chích Quái (trong này có phần đối chiếu với Câu chuyện của Lư Cao và cao tăng Duy Nghiễm)

 

        Phần III - Dàn Đồng Ca đă vu cáo Không Lộ Thiền sư như thế nào ? ( trong phần này có phần các biện giải kháng cự và lời có cánh của các Giáo sư đầu ngành)

                  - IIIA

                  - IIIB

 

        Phần IV - Giải mă “mật ngữ” trong thi kệ Ngôn Hoài

- Đoạn thứ nhất, Dẫn nhập và tâm t́nh
- Đoạn thứ hai, “thuật ngữ của người xưa”
- Đoạn thứ ba, bài pháp thoại của Không Lộ thiền sư mà Lĩnh Nam Chích Quái dấu kín
.

 

 

 

PHẦN IV

 

GIẢI MĂ "MẬT NGỮ" TRONG THI KỆ NGÔN HOÀI

 

 

Đoạn thứ hai, Thuật ngữ của người xưa.

 

Thi kệ Ngôn Hoài là một bản văn “Dàn bài”

Có ba thông tin sau giúp chúng tôi tin rằng đây là một bản văn “ dàn bài”

Một là, Câu chuyện đối đáp trong Lĩnh Nam Chích Quái. Có giảng là có ghi chép. Ghi chép như thế nào là tùy thời điểm, tùy hoàn cảnh, tùy sự thông minh và quyền biến của người trong cuộc. Nhất định phải có cuộc thao giảng, buổi hoằng pháp của Ngài Không Lộ thiền sư đối với người Thị giả, như câu chuyện trong Lĩnh Nam Chích Quái tường thuật,

Hai là, định luật về ngôn ngữ, LUẬT DARMESTETER về Ngôn ngữ Sinh hóa có phát biểu rằng sự biến đổi ngữ nghĩa ngôn từ do “Tùy ngữ cảnh, tùy vị trí từ trong câu, tùy tác giả

Ba là, với những ǵ mà Arthur F. Wright tổng kết trong bài “Bước đầu dịch kinh Phật của người Trung Quốc “ th́ tiền nhân ta cũng đă quyền biến một cách tương tự.

Sau đó Tiền nhân ta dùng thứ chữ Hán đơn giản nhất, thông dụng nhất để ghi lại bài hoằng pháp của ḿnh. Với người ít chữ nghĩa ngày ấy th́, họ có thể đọc được các từ này bởi nó là từ cơ bản. Họ sẽ hiểu dễ dàng nhờ sự liên tưởng, thông qua tinh thần Việt ngữ xuất hiện ra sau các từ VIỆT HÁN được thể hiện trên bản văn viết. Chữ viết thực chất cũng chỉ là “ tín hiệu “ quy ước giữa các người đối thoại.

Ta thử h́nh dung câu chuyện sau đây: Có một người cha đi săn về hỏi đứa con trai chạy chơi trong vườn nhà -này con, con đă cho bao nhiêu con heo xuất chuồng chạy đi kiếm ăn ngày hôm nay ? Thằng bé c̣n để chỏm chạy lại đếm số vạch than “ll ll ll ll ll” đă ghi trên vách. Nó nói, thưa cha có mười con. Nếu câu chuyện xảy ra bên Tàu th́, Người Tàu th́ viết 十. Xảy ra tại vùng Địa Trung Hải th́, Người La Mă viết X. Xảy ra hôm nay th́, con chúng ta viết 10, hoặc là trẻ viết chữ “mười ”. Với năm cách ghi lại như trên th́, trẻ đă trả lời được cho cha chúng mà khỏi cần nhớ chi cho mệt cái đầu. Suy cho cùng, tất cả cũng chỉ là quy ước với người ghi. Sự khác nhau là dài ḍng hay ngắn gọn. Việc viết lại bài hoằng pháp bằng thứ chữ từ VIỆT HÁN của ông bà ta trong bài Ngôn Hoài cũng thế mà thôi, một thứ mật ngữ, một thứ Mă ngữ mà nay ta tưởng nó là ngôn ngữ thi ca.

Nay xin quay trở lại bản văn Ngôn Hoài
F1
Trạch đắc long xà địa khả cư
Dă t́nh chung nhật lạc vô dư
Hữu th́ trực thượng cô phong đỉnh
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.

==> F2 **
Trạch đắc long, xà, địa, khả cư
Dăt́nh, chungnhật, lạc vô dư
Hữu, th́ trực thướng cô phong đỉnh
Trườngkhiếu, nhất thanh, hànTháihư.

Kết hợp với những thực tế những ǵ thực tế xảy ra tại đất nước Trung Hoa mà bạn đă đọc qua bài viết của Arthur F Wright, bài “Bước đầu dịch kinh Phật của người Trung Quốc “, cộng với thông tin mà chúng tôi vừa viết, chúng tôi tin rằng bản văn trên là Một “DÀN BÀI” đầy các Mă ngữ, thuật ngữ Phật triết của tiền nhân. Các “ tổ hợp từ “, từ được tô đậm trong bài. nó như những con cờ trên bàn cờ tướng khai cuộc, nó buộc phải gắn chặt vào một vị trí nhất định trước khi chơi, mọi sự xáo trộn đều bị cấm tuyệt đối. Ngàn lần giảng như một, sự mạch lạc khi giảng vẫn không hề thay đổi. V́ sao có sự nhất quán như thế?. Chính là nhờ chúng ta cùng xem nó là “một dàn bài “mà người xưa đă dấu chúng ta một cách quá kín kẻ. Khó khăn ǵ, lười biếng mà chi!, người cư sĩ Phật giáo ngày ấy cho bất kỳ ai dù trí nhớ rất kém, họ cũng có thể ngồi ráng chút xíu, chịu ngồi nhẫm cho thuộc mười một thuật ngữ truyền thừa này, đâu có ǵ nhiều, để rồi thông hiểu một bài hoằng pháp Ngôn Hoài. “ kỳ vỹ “. Người Thị giả ngày ấy là người may mắn nhất, là người đầu tiên đă được tiếp cận bản văn này sau khi nghe giảng. Nhớ xưa, Đức THẾ TÔN trong ngày giảng bài Pháp “ Tứ Diệu Đế “ lần đầu, ngài dùng các câu vô cùng đơn giản, các câu được lặp lại, và mỗi lần lặp lại Ngài chỉ thay mỗi một hai từ, nhờ vậy mà người nghe Pháp thuộc ḷng tại chỗ. Thuộc ngay tại chỗ là yếu tố cần khi mà số người biết chữ không nhiều.
 


Thi kệ Ngôn Hoài là một bản văn mật ngữ truyền thừa

Một là, khi hiểu nó là một bài thơ tứ tuyệt thông thường th́ đă dẫn đến điều nghịch lư như laiquangnam đă nhắc đến trong các bài viết trước.

Hai là, trong Lĩnh Nam Chích Quái, bản văn này đă được Không Lộ thiền sư dùng để
chỉ dạy cho người Thị giả. Vậy trong đó Nó ắt phải chứa nội dung chỉ dạy, và đă có phân tích của Ngài Không Lộ thiền sư trước câu hỏi này, rằng “ Tại sao “ tôi ( người Thị giả ) đă hiểu và đă tu như thế mà không có lối ra ? “, Ngài nghe người Thị giả đọc bản văn tóm tắt quá tŕnh tu tập của ḿnh, và NGÀI đọc bài Ngôn Hoài

Ba là, tưởng cũng cần nhắc nhớ, Ngài Không Lộ thiền sư là một thiền tổ của cả hai gịng thiền Vô Ngôn Thông và Thảo Đường. Sự hội ngộ phải vô cùng hữu ích và xuất sắc nên mới được đưa vào Lĩnh Nam Chích Quái, lẽ nào Ngài Không Lộ thiền sư lại đi nói mấy câu thơ “ tào lao “, ” mắc cười “ như bản dịch ra thơ nôm như Bạn Hiền đă gặp đó đây qua GOOGLE SEARCH.

Bốn là, Bạn thử đọc lại Việt Nam Phật giáo Sử Luận, của giáo sư Nguyễn Lang viết về các cuộc “ hội thoại “ giữa Thầy, tổ thiền thuộc gịng thiền Vô Ngôn Thông với môn đệ. Rối rấm vô cùng. Sự tinh tế của tác giả Lĩnh Nam Chích Quái đời Trần khi vắn tắt cuộc hội ngộ lư thú này bằng hai “bài thơ“, tất cả gói trong 56 từ, thay v́ thuật lại câu chuyện bằng các câu “ hỏi đáp -đầy ẩn dụ” . Ở đây, người hỏi nói rơ là “tôi ( người Thị giả ) đă tu ra sao” - bài tứ tuỵêt của ông đă gói nội dung các bước mà ông đă kinh qua – Ngài Không Lộ thiền sư đáp trả bằng một bài thi kệ. Giả định bạn là người người Thị giả, bạn nghe 28 từ ấy bạn hiểu ǵ không ? Chắc là không? Bạn phải nghe được chính Ngài Không Lộ thiền sư hoằng pháp cho bạn bằng Việt ngữ nào. Buổi hoằng pháp chắc phải kéo dài hàng giờ, đâu có vắn tắt như thế “ quá khó “ như thế. Vậy nội dung buổi hoằng pháp chính là bản văn “ gói gọn” này. Muốn hiểu nội dung cuộc hội ngộ giữa hai thày tṛ Họ, điều tất yếu là ta phải chia sẻ, am hiểu ngôn ngữ mà họ đă dùng. Đó chính là các Mă ngữ, mỗi từ, hay cặp từ của Mă ngữ chính là một thuật ngữ Phật triết tại thời điểm đó.
Như chúng tôi đă nhắc trong phần tâm t́nh cho dù, vào thế kỷ thứ XII chữ Hán bên Tàu có thể đă có các thuật ngữ mà ngày nay chúng ta đă gặp thế nhưng, những thuật ngữ ấy chưa hề xâm nhập vào nước ta vào đời Lư bởi, chúng ta không hề thấy các vị thiền sư dùng trong các bài viết của họ cho dù, dưới dạng thi thiền đi chăng nữa. Ví dụ: từ niết bàn ( Nirvana) cho măi đến đời tổ thiền thứ XI, th́ mới xuất hiện tại từ “Tịch diệt”. Từ này nếu viết / 寂 滅 / mà "Ai đó" tách từng từ để hiểu th́ không sao quay về ư gốc mà thiền sư muốn nói đến; vậy liệu từ này khi so với từ HàntháiHư th́ từ nào hay hơn?. Như Arthur F. Wright đă viết, theo chúng tôi dẫu sao nhờ sự xuất hiện của cặp từ Thái hư, từ của Nho gia, Đạo giáo cho nên người có am hiểu chút ít kinh sách chữ Nho c̣n mường tượng được một cách mập mờ ư người xưa muốn nói cái ǵ sâu xa hơn chăng.

 

Thuật ngữ nào đă được người xưa dùng

Trạch đắc long, xà, địa, khả cư
Dăt́nh, chungnhật, lạc vô dư
Hữu, th́ trực thướng cô phong đỉnh
Trườngkhiếu, nhất thanh, hànTháihư.

Tại câu thứ nhất "trạch đắc long xà địa khả cư"

1-Long là ǵ ?

Theo nghĩa đen là con rồng. Nhưng nghĩa bóng của nó là người Cao trọng đáng kính trong xă hội cả về kiến thức lẫn trí năng hơn người b́nh dân cùng thời. Bước đầu khai đạo, người hành gỉa phải t́m cách tiếp cận với người “đă từng trăi nghiệm các hướng đi, đủ mọi trường phái “. Đức THẾ TÔN ngày xưa bước đầu cũng vậy, Ngài đă tiếp cận với các bậc Lư luận giỏi về các minh triết Ấn Độ đương thời và đă thất vọng. Cuối cùng Ngài tự mở hướng cho chính ḿnh. Ngài đă thành đạo qua sự trăi nghiệm của chính bản thân. Không Lộ là nhà sư đa hệ, là tổ thiền đời thứ IX của ḍng Vô Ngôn Thông, là tổ thiền đời thứ III ḍng Thảo Đường, ngoài ra Ngài có qua Tây Trúc, lại thông hiểu Mật tông, Ngài thường đọc kinh Darani …vv Phải tiếp cận với các bậc cao minh, nghe các minh triết cho thật hết rồi mới trụ lại và mở hướng cho ḿnh. Vậy Long với người mới học đạo có thể là bậc cao tăng, là thầy có thể khai đạọ cho ḿnh, người mở lối cho ḿnh đi về hướng đức Phật. Xa hơn, Long là từ của người Đại Việt vào thế kỷ thứ XI, XII dùng để dịch từ “nāga” từ Phạn ngữ mà Tàu dịch là Long. Như thế, ư đồ của Ngài Không Lộ thiền sư khi viết văn bản Ngôn Hoài là đă muốn xa gần đă hiểu biết về ḍng kinh Trung quán luận, thế nên khi người Thị giả đọc bài thơ có nhắc đến cụm “Không Không pháp”, ngài đă cười, có nghĩa là Ngài đă thông hiểu và sau đó dùng bài này để giảng cho người Thị giả.

2-Xà là ǵ ?

Nghĩa đen là con rắn. Nghĩa bóng chỉ chúng sinh chưa được khai hóa. Nghĩa sâu xa hơn, Xà là một điẻn từ, đă được nhắc đến một đoạn trong kinh Milanda, Kinh chính của ḍng Nam tông gồm các nước NAM Á và ĐNA, họ đọc và học Phạn ngữ như: Sri lanka, Miến điện, Thailand, Khmer, Ấn Độ,. Xà là một điển từ bởi thuật ngữ này có riêng cho ḿnh một đoạn kinh mang số 226 trong bộ kinh Milanda, Mi Tiên vấn đáp. Nay chúng ta cùng đọc lại đoạn kinh này

– khi nhà vua hỏi đại sư MILANDA, về con rắn giúp ǵ cho người hành gỉa.
Milanda đáp - Về con rắn th́ có ba điều, tâu đại vương!. Thứ nhất: Rắn ḅ bằng cái bụng, bao giờ cái bụng nó cũng tiếp giáp với đất, tiếp giáp vào chỗ tựa để trườn lên, để ḅ đi. Bậc hành giả cũng phải dùng trí tuệ để ḅ đi, để trườn đi, để lên đường. Nhưng bao giờ trí tuệ ấy cũng phải bám, phải tựa trên đất thực, đừng xa ĺa cái thực, ấy là tam tướng tuệ: vô thường, khổ năo và vô ngă. Thứ hai: Rắn ḅ đi, nếu gặp phải cây thuốc (trị độc rắn) là nó bèn tránh đi, trốn sang nơi khác. Bậc hành giả cũng vậy, phàm lúc tiến tu mà gặp bạn ác, bạn xấu hoặc gặp những pháp trược hạnh, nơi phát sanh cấu uế th́ cũng phải tránh gấp để tự bảo vệ cho ḿnh. Thứ ba: Rắn khi cắn người hoặc thú rồi, nó liền trốn tránh đi chỗ khác. Bậc hành giả cũng vậy, khi đă dứt trừ được những tư tưởng xấu quấy rồi th́ tránh đừng nên gặp những cái xấu ác ấy nữa.

3- Địa

Địa là từ Vô cùng quan trọng trong ḍng thiền Vô Ngôn Thông. Đây là từ khai tâm. Ngay khi bước chân vào con đường tu tập, người hành thiền phải mở toang Địa tâm ḿnh, tức là mở toang con tim ḿnh, tâm ḿnh để “ánh sáng” soi rọi từng ngóc ngách vô minh, chấp ngă …và từ đó người hành gỉa biết mà chặt đứt các thô lậu khiến ḿnh v́ vướng vào duyên khởi Dukha( khổ ) không dứt.

Tại câu thứ hai " Dă t́nh, chung nhật, lạc vô dư

4- Dăt́nh

Nghĩa đen, Dă là hoang sơ, là chưa khai hóa, là t́nh trạng lúc ban đầu của vạn vật. Nghĩa bóng, Dă t́nh là t́nh cảm chơn chất ban đầu trong mỗi con người, t́nh cảm này chưa bị biến đổi bởi xă hôi quanh nó. Nghĩa sâu xa hơn do v́ nằm trong bản văn này Dă t́nh nay là chính là chân tâm, chân tâm, "Bản lai diện mục". Nó đă được đặt ở đầu câu thứ hai không thể khác được, tại câu thứ nhất, Ngài đă nhắc đến Địa tâm, nay làm rơ hơn, sâu hơn.

5- Chungnhật

Nghĩa đen, Chung là trọn. Nhật là ngày. Chung nhật là trọn ngày, là suốt ngày. Nghĩa bóng Chung nhật, ChungNhật là một cặp từ bất ly thân, nó chính là Phật ngữ chỉ “Tŕ giới”. Tŕ là ǵ? là nắm lấy, là thực thi một cách nghiêm túc. Tŕ giới được nhà tự điển học Tâm tuệ Hỷ định nghĩa như sau, “Tŕ là cầm, là kiềm chế, là giữ ǵn chặt chẽ. Giới là những điều răn cấm, có khả năng ngăn ngừa sự sai trái, không làm các việc ác. Nghiêm tŕ giới luật không có tính cách tù túng trói buộc, bởi v́ người giữ giới ‘nhận thấy sự hành tŕ giới luật đem lại cho ḿnh sự ổn định, an lạc và hạnh phúc. Mục đích của giới luật là giúp người tu thành đạt quả vị giải thoát”.

6- Lạc vô dư ( viết rời )

Nghĩa đen là cảnh giới lạc chỉ đến với người hành thiền khi họ bắt đầu tiến vào vùng tiệm cận bến bờ giác ngộ. Đừng lầm với cụm từ LạcVôDư, viết liền là một thuật ngữ Phật giáo, là cơi mà người đă đắc quả Alahan, Người Giác Ngộ sau khi chết họ về đó mà “lạc trú“. Từ này hơi khác với từ niết bàn ( Nirvana) theo định nghia hay từ “Tịch diệt” c̣n đang tối nghĩa với nhiều tăng sĩ Phật Hán ngày nay. Cảnh giới “lạc vô dư” là cảnh giới lạc của người người Hành thiền đang tuôn trào theo cùng với sự tiến bước của họ vào bến bờ giác ngộ, “hữu tích cực “không có với người tu hành b́nh thường, họ phải qua các bước đă mô tả ở câu thứ nhất và hai bước trước trong câu thứ hai trước đă.

Tại câu thứ ba "Hữu* thời trực thướng cô phong đỉnh "
==> "Hữu*, thời trực thướng cô phong đỉnh "


7- “Hữu* là ǵ ?

Hữu* “là từ tích cực, “hữu* là “hữu tích cực”, xin đừng nhầm với từ “hữu tiêu cưc” là một trong Nhị Thập Nhân Duyên gây nên DUKHA (khổ) cho người hành gỉa. Từ “hữu tích cực” này, là “hữu* trong bài thi kệ. Nó chỉ trạng thái tích cực khi người hành gỉa phá vở được một trong các mắt xích thô lậu, vô minh do duyên khởi từ nguồn lục căn, từ ngă chấp. Hữu* tích cực trong câu thứ ba "hữu*, thời trực thướng cô phong đỉnh " là khi nghĩ rằng ḿnh đă “đoạn căn được phiền năo, diệt được ngă chấp, ngọn lửa dục vọng đă hoàn toàn tắt ngấm trong tâm, và trí vô ngại hiện ra một cách đầy đủ, …. . hay nay ḿnh được chạm đến cơi tự-tại giải thoát ngoài ṿng ba cơi: Dục, Sắc, và Vô sắc giới. ” – trang Hoa Sen. ”Hữu tiêu cực” là một trong Nhị Thập Nhân Duyên: “Do tâm chấp trước, nên những sự vật như huyễn như hóa lại biến thành thật có, có thân, có cảnh, có người, có ta, có gây nghiệp, có chịu báo, có sống và có chết, cái có như thế, tức là hữu”. do LÊ Đ̀NH THÁM định nghĩa. Câu "hữu thời trực thướng cô phong đỉnh " ==> "hữu*, thời trực thướng cô phong đỉnh " lại là một trạng thái tích cực chuyển biến khi đang Hành thiền. Người Thiền giả nhận chân rằng ḿnh vừa mới phá được một mắt xích vô minh, thô lậu và họ đang tiệm cận với bến bờ giác ngộ. “hữu, tích cực chỉ đến với người Thiền giả khi họ đă ở trong canh giới “lạc vô dư “.

8- côphongđỉnh là ǵ ?

Phong [峯 hay viết 峰], nay đă là một tử ngữ. Phong nghĩa đen là ngọn núi cao nhất trong vùng. Cô phong đỉnh-, viết rời, viết rời rạc-, là đỉnh cao nhất của một ḥn núi cao nhất trong vùng, nhưng khi nó là Mă ngữ th́ “Côphongđỉnh”/ viết liền, là viết dính liền lại / th́ nó chính là “huệ giác của người đang Hành thiền, thiền quán. Qua Huệ giác, tức tuệ giác bát nhă người hành thiền nay đang ở trong Cảnh giới lạc vô dư tự biết ḿnh nay thật sự đă vào bến bờ giác ngộ, Sự biết không hề do chấp ngă. Lúc này đây, do họ bước đi theo đúng con đường mà Ngài Gautama đă trăi nghiệm, v́ tâm nguyện đă là “Hưu hướng Như Lai “, thực hiện đúng Bát Chánh Đạo do Ngài truyền dạy lại cho chúng sinh. Bằng phép ngồi thiền, bằng quán tâm trong chánh định, chánh tư duy, th́ với huệ giác ( tức là tuệ giác bát nhă vào thời điểm nó xuất hiện)- “chỉ chính ngay tự thân” người hành thiền- lúc này – “côphongđỉnh” -là cụm từ biểu thị cho sự hành thiền tự thân, cô độc và đầy “trí tuệ bát nhă “. Người hành thiền nay thật sự biết một cách khách quan rằng ḿnh -Nay đă thực sự chạm đến bến bờ giác ngộ- nay có được “HỮU* tích cực “ và nay đă trở thành người Giác Ngộ rồi – họ nay đă là ARHAT, Arhant; alahan hay Bồ tát mới vừa “xuất hiện “ tại thế gian này. Mỗi ṿng lặp, một Hữu* tích cực xuất hiện, một xích vô minh bị phá, một “điểm tích lũy” một điểm thưởng tăng dần nhưng đến được niết bàn ( Nirvana) vẫn c̣n xa lắm thế nên

Câu thứ tư “Trườngkhiếu, nhấtthanh, hàntháihư” phải xuất hiện

9- Trườngkhiếu

Khiếu" [叫] là của bài Ngôn Hoài, đừng lầm từ "khiếu" [ 嘯] này trong bài thơ của Lư Cao. Khiếu [叫], là "kêu". Ngài Không Lộ thiền sư dùng nó với nghĩa rất rộng; đơn giản thôi bởi nó đă được Việt hóa. "Khiếu" được hiểu là âm thanh chung được phát ra tiếng từ mọi loài động vật. Tạm dịch là "kêu". Tùy theo ngữ cảnh mà ta hiểu "kêu" đó là tiếng mang nét đặc trưng ǵ. Ví dụ: vượn "kêu" là vượn hú. Cọp " kêu " là cọp gầm. Trẻ " kêu " là trẻ khóc đ̣i ăn, đ̣i bú. Người "kêu". có thể là rống, là huưt, là hú, là khều khào tùy theo người ấy là ai, đang ở trong trường hợp nào. Nay chủ từ " khiếu" tại câu thứ tư, chính là từ một vị cao tăng vừa giác ngộ "kêu". Ở đây, vị Bồ Tát "kêu". Bồ tát này là ai ? _là Không Lộ thiền sư hay người thiền giả vừa đến Bến Bờ Giác Ngộ. Ngài thuộc ḍng Vô Ngôn Thông đă được Việt hóa, với lời phát nguyện “Hưu hướng Như Lai”, Vui mà đi theo hướng do Đức THẾ TÔN đă đi. Lĩnh Nam Chích Quái ghi, Ngài thường đọc kinh Đarani. Đarani, là một ḍng Mật Tông tinh hoa thường đọc "lời hạnh nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm". "Khiếu " chính là "lời cầu cho mọi chúng sinh được luôn an lạc". Từ khiếu này nay có từ “trường” ghép vào thành ra “trường khiếu” ==> “trườngkhiếu”, là một thuật ngữ Phật giáo. “trườngkhiếu” theo ngôn ngữ bây giờ nó chính là “lời phát nguyện Bồ Đề Tâm “vậy. Bồ Đề Tâm nay là thuộc tính của bậc Giác ngộ – chính Bồ Đề Tâm làm cho điểm tích lũy “Hữu tích cực “ tăng dần đến vô cùng, và đưa bậc đă Giác ngộ " đó đến cơi niết bàn ( Nirvana). Do “Hưu hướng Như Lai” nên các vị nguyện cứu khổ cho chúng sinh, hoằng pháp suốt đời khi các Ngàic̣n hơi thở thế nên, các ngài chưa đến cơi niết bàn ( Nirvana) cùng Phật Tổ ngay. Việt là Việt, Hán là Hán, Tàu là Tàu là đây. Phật giáo Tàu Hán đắc đạo xong cười ha hả, rút!, như bài U Cư của Lư Cao viết về nhà sư Duy Nghiễm là một minh chứng. Phật giáo Đại Việt, th́ “Hưu hướng Như Lai “là con đường bắt buộc. Đắc đạo xong th́ phát hạnh nguyện khai mở Bồ Đề Tâm tiếp tục nhập thế, tiếp tục hoằng pháp để độ chúng sinh, đi theo đúng " y chang " con đường của Đức THẾ TÔN từ hàng ngàn năm trước đă đi. Người học tṛ Ngài là QUẢNG NGHIÊM, tổ đời thứ XI đă xác nhận lại, rằng đi theo con đường của Đức THẾ TÔN là duy nhất đúng.

10- Nhấtthanh

Thanh [声] cùng nghĩa với "thanh"[ 聲. ] này. Nhất thanh khi là thuật ngữ là từ rất riêng. Thanh này theo nghĩa đen có nhiều nghĩa, tuy cùng âm, cùng kư tự, tùy theo ngữ cảnh, một trong số các nghĩa đáng chú ư là đây, thanh trong câu thứ tư này, thanh là lời tuyên bố, lời nói rất rơ ràng, Việt ngữ ta có từ thanh trong thanh minh cùng nghĩa. Nhất thanh là một thuật ngữ chỉ rằng đây là lời tuyên bố “ chắn chắn “, một lời tuyên bố nhất quán. Vậy nhất thanh chính là một thuật ngữ không có từ tương đương Hán Việt nào khác. Nhất thanh là “lời tuyên bố kiên định, và rơ ràng lập trường của ḿnh một cách nhất quán và dơng dạc” của người phát ngôn. Nhớ xưa, ngay khi Đức THẾ TÔN đă đắc quả, Ngài đă Nhấtthanh với năm người đă bỏ ḿnh đi, và Ngài nói n mọi người từ nay nên gọi Ta là NHƯ LAI.

Nhớ xưa, nay nhắc lại vài “Nhấtthanh” của Đức THẾ TÔN

          10-1. “Đấng Thế Tôn tự xưng ḿnh là Như Lai (Tathagatha). Nếu hiểu theo cách từ chương th́ chữ này có nghĩa là "đến [nơi này] như thế" (Như Lai), hay là "Người đă trở thành như thế" (có nghĩa là đă tỉnh thức và giác ngộ). Trong các kinh sách sau này Đức Phật giải thích chữ Tathagatha có nghĩa là "Không từ đâu đến và cũng không đi về đâu cả", chỉ là "Như Thế", có nghĩa là tính cách nhị nguyên và đối nghịch của mọi sự diễn đạt đă bị loại bỏ khỏi tâm thức của Ngài. Nếu dựa theo ư nghĩa đó th́ Tathagatha cũng có thể hiểu là "Hiện thực là Như thế" (tiếng Phạn Tathata có thể dịch là Ainsité, Suchness)”. Theo HOÀNG PHONG


          10-2. "Này các bạn tu sĩ khổ hạnh, [từ nay] không nên gọi Con người Toàn Thiện bằng tên của người ấy nữa và cũng không nên xem người ấy là một người bạn [giống như những người bạn khác]. Này các bạn tu sĩ khổ hạnh, Con người Toàn Thiện là một Thánh nhân, đă hoàn toàn Giác ngộ. Các bạn hăy lắng nghe : Sự Giải thoát ra khỏi cái chết đă được t́m thấy. Ta sẽ đem ra thuyết giảng [về sự Giải thoát ấy] cho các bạn. Ta sẽ giảng dạy cho các bạn về Giáo lư gọi là Đạo Pháp (Dhamma). Nếu các bạn thực thi đúng những lời giáo huấn ấy th́ sau này các bạn cũng sẽ nhanh chóng đạt được mục đích tối thượng của một kiếp sống thánh thiện, cái mục đích đó sẽ giúp cho những người cao cả biết rời bỏ thế tục để chọn một cuộc sống rày đây mai đó : tại nơi này và ngay trong lúc này các bạn đều có thể tự ḿnh chứng nghiệm được và thực hiện được sự thực đó" (Trung A Hàm, 26). HOÀNG PHONG dịch

11- HànTháiHư là ǵ ?

Hàn thái hư. Thái hư là từ của Đạo giáo, nhưng “hàn thái hư” thành “hàn-thái-hư” hay HànTháiHư từ chưa hề xuất hiện trong văn bản của người Việt trước đó và Tàu th́ tuyệt đố không có. Thái hư là không gian, mà người đọc có thể tưởng tượng được, nghĩa là nó đă có một trú xứ tùy theo độ thông minh của người tiếp nhận; thế nhưng hàn-thái-hư chỉ là một “ mật ước “ về một không gian không hề có trú xứ; đó chính là cơi niết bàn ( Nirvana), một thuật ngữ “ mật ước “ của người hành thiền Phật giáo, nó không có định nghĩa đơn giản cho người b́nh thường về trí năng. Chính Ngài Gautama trong suốt thời gian ngài c̣n sống và lúc đi hoằng pháp th́ Ngài Gautama cũng đă né khi đề cập đến từ này với đại chúng. Chứng ngộ trước đă, rồi sẽ hiểu thuật ngữ này. Tâm Tuệ Hỷ, nhà từ điển học về từ Phật giáo, có hai đại sư người Việt làm cố vấn là Thầy Thanh Từ và Thầy Nhất Hạnh, Tâm tuệ Hỷ cho rằng đây là từ BẤT KHẢ TƯ NGHI. Chỉ riêng với từ NIRVANA của người Ấn Độ thôi mà người Tàu họ đă tốn nhiều công sức, họ lần lượt thử sức dịch bởi, “Vào cuối thời nhà Hán và đầu thời nhà Nguỵ thế kỷ V. . . h́nh thức cách nghĩa này rất có giá trị và hữu hiệu cho người t́m hiểu Phật pháp, các vị Tăng sỹ ban đầu thuyết giảng, sau đó dùng cách nghĩa và giải thích đổng bộ với nhau”. Thế nên từ Nirvana họ lần lượt dịch là Khổ diệt, Diệt (zh. 滅), Diệt tận (zh. 滅盡), Diệt độ (zh. 滅度), Tịch diệt (zh. 寂滅), Bất sinh (zh. 不生), Viên tịch (zh. 圓寂), mục đích tối cao trong đạo Phật là “Giải thoát” khỏi ṿng lặp luân hồi nên nirvāṇa được dịch ư là Giải thoát (zh. 解脫). Cuối cùng họ đành phiên âm là cách tốt nhất “niết bàn” là âm Hán Việt do từ phiên thiết mà ra. Người Trung hoa là cha đẻ ra thứ chữ viết h́nh tượng của họ, vậy mà họ c̣n lúng túng trong nhiều thế kỷ huống hồ ǵ người vay mượn. Vậy th́, nay chúng ta t́m lại bằng sự “ tương đồng về nghĩa” là một giải pháp mà Arthur F. Wright bài qua bài “Bước đầu dịch kinh Phật của người Trung Quốc” là một minh chứng bởi chung quy, ngôn ngữ, chữ viết chỉ là một tín hiệu quy ước mà thôi.

Kết luận

Rơ ràng rằng, lớp đàn anh chúng tôi v́ đă xem bản văn này là một bài thơ TỨ TUYỆT thuần tính văn chương như mọi bài thơ chữ Hán khác nên đă vô t́nh để một viên ngọc quư của quốc gia bị chôn vùi. Nay qua đoạn giải mă ngôn từ này th́ sự thực được ẩn dấu một cách kín kẻ của người xưa một phần nào được phơi bày. Một là, có thể chúng tôi đă thực giải được bản chất sâu kín trong từng ngôn từ của bản văn Ngôn Hoài. Hai là, có thể chúng tôi đă thực sự giúp cho sự quán nhận của người Việt nào đó vốn quen “quy Hán và đội Hán“, nay thấy được “quy luật tu hành” của tiền nhân ta. Tu Việt hoàn toàn khác với lối tu Tàu qua nhân vật điẻn h́nh là thiền sư Duy Nghiễm qua bản văn U cư của Lư Cao mà họ hồi tâm, ngưng tấn công vào tiền nhân ta một khi ḿnh thực sự không hiểu các Ngài đă nói ǵ trong đó. Rằng hướng giải thoát của gịng thiền Vô Ngôn Thông đă được Việt hóa chỉ có hướng duy nhất là RẬP ĐÚNG theo bước chân của NHƯ LAI như lời phát hạnh nguyện “Hưu hướng Như Lai” của thiền sư QUẢNG NGHIÊM tổ thiền đời thứ XI. Nay việc “ reo vui theo bước chân Như Lai” mang tính chất toàn cầu với gịng thiền Nhâp thế của Làng Mai và của các Chư Tăng người Việt Đại trí thức trong nước và hải ngoại. Nay là lúc các Cư sĩ, Tăng sĩ chân chính có thể thực hiện được nhờ bám sát các bước trong bản văn “ dàn bài “ này “?”. Ba là, có thể chúng tôi đă giúp mang lại sự hiểu biết nâng tầm cho "Ai đó" đang truy t́m một lối đi trong mục đích t́m sự giải thoát cho riêng ḿnh và cho người theo cách của một Đại sư Thời LƯ đă trải nghiệm. Ngài đă nở nụ cười ḍn khi truyền thừa và giảng pháp cho người Thị giả đến xin học tập như Lĩnh Nam Chích Quái mô tả. Đó chính là sự thực là tại v́ sao, và duyên cớ nào mà chúng tôi theo đuổi một cách bên b́ công việc giải mă này.

Vững tin rằng thế hệ sinh sau lớp chúng tôi-lớp sinh thập niên 40, lớp sau 75 sẽ từ bản văn này mà mở rộng ra bằng trí thông minh vượt bậc vốn có của người Lạc Việt, Rằng các bạn trẻ sẽ soi rọi vào từng góc kẹt của các bài Thơ Thiền Lư Trần khác. Rằng các viên ngọc quư của tiền nhân ta ngày càng nhiều được giới thiệu một cách trang trọng trong mỗi kỳ đại hội VESAT. Tất cả lớp già chúng tôi đều luôn mở ḷng hạnh nguyện luôn hướng về túi hành trang văn hóa Lạc Việt mà lớp trẻ người Việt nay đang đeo sau lưng mỗi ngày tại khắp năm châu.

 

Thân ái,

Laiquangnam
SG, một ngày giữa tháng bảy, 2017

_____


Phần tham khảo và chú thích

*Thuật ngữ người xưa chín là Thuật ngữ minh triết Phật giáo mà Ngài Không Lộ thiền sư đă dùng khi Ngài tự tóm tắt lại một buổi Thí Pháp cho đồng bào của ḿnh vào đầu thế kỷ thứ XII, thời LƯ

**Các từ viết liền, là viết dính liền lại một đề xuất của laiquangnam nhằm thúc đẩy sự phát triển tự vựng tiếng Việt qua chữ quốc ngữ hiện nay, đây là của thuật ngữ Phật giáo, minh triết của nhà Phật, hay gọi là Phật triết. Chúng tôi đă thấy người MỸ lập từ, tuy cùng một âm, nhưng với ba cách viết, viết rời, viết rời rạc ; viết liền, là viết dính liền lại; và viết có gạch ngang nối. Mỗi cách viết một khi thể hiện trên giấy, chính MẮT đă can thiệp vào ngôn ngữ như LUẬT DARMESTETER về NGÔN NGỮ SINH HÓA đă phát biểu.

Bản văn F2, các từ viết liền, là viết dính liền lại, chính là cách hiểu của người giới thiệu, bản văn gốc luôn luôn là bản văn F1, không hề có dấu câu.

1- http://chimvie3.free.fr/65/lqnn_TimGiaiPhapKhac03a_KhongLo_065.htm

2- Phật giáo dấn thân”, http://cusi.free.fr/pgtd/2016A_bantron/BanTronDPDT_Bai2_NCS.htm

3-http://www.daophatngaynay.com/vn/phatgiao-vn/lich-su/4667-su-du-nhap-cua-phat-giao-vao-nuoc-ta-va-anh-huong-cua-no-trong-cac-the-ky-10-14.html

4- Mai thị Hồng Tuyết, H́nh tượng văn học như một kí hiệu, nxb KHXH, Hanoi, 2016

5- https://thuvienhoasen.org

6- Việt Nam Phật giáo sử luận, của gs Nguyễn Lang

7- “Buddhism in Chinese history” của ARTHUR F. WRIGHT,

Do Giáo sư đại học Thích Thiện Chánh (dịch), PHẬT GIÁO QUA D̉NG CHẢY LỊCH SỬ TRUNG QUỐC, Nhà xuất bản Hồng Đức, 2012

8- Edward Conze, Lược sử Phật giáo do Nguyễn Minh Tiến dịch

https://thuvienhoasen.org/images/file/YxeTQJtG0QgQABcV/luocsuphatgiao-nguyenminhtien.pdf

9- và các tư liệu sách tham khảo đă liệt kê trong các bài trước

10- https://hoavouu.com/a26304/kinh-na-tien-mi-tien-van-dap-minlinhdapanha-hoa-thuong-gioi-nghiem

MI TIÊN VẤN ĐÁP (MILINDA PANHA)
Dịch giả: Ḥa thượng Giới Nghiêm (Maha Thera Thita Silo)
Tỳ kheo Giới Đức hiệu đính, ấn bản 2003

11- https://thuvienhoasen.org/a7793/thap-nhi-nhan-duyen

12- Hưu hướng Như Lai của thiền sư QUẢNG NGHIÊM do laiquangnam viết

13- VÔ NGÔN THÔNG VÀ TRUYỀN THỪA
http://langmai.org/tang-kinh-cac/vien-sach/giang-kinh/viet-nam-phat-giao-su-luan/-chuong-06-thien-phai-vo-ngon-thong?set_language=vi

14 - Hoang Phong, HAI BÀI THUYẾT GIẢNG ĐẦU TIÊN CỦA ĐỨC PHẬT và Sự h́nh thành của Phật giáo

https://thuvienhoasen.org/a6146/hai-bai-thuyet-giang-dau-tien-cua-duc-phat

15– trang https://vi.wikipedia.org
 

  

www. art2all. net