Ninh Giang Thu Cúc

Sách: Đọc Kiều Thương Khách Viễn Phương

-oOo-

 

KIM TRỌNG, THÚY KIỀU, KHÁCH VIỄN PHƯƠNG, TỪ HẢI

Sự Kư Thác của Nguyễn Du


 

Người xưa khi cầm bút để thực hiện một công tŕnh, một tác phẩm nghệ thuật – các vị đều mang một tâm nguyện là gửi gắm tâm tư, hoài băo lư tưởng để phụng sự cho đối tượng riêng, chung, nhỏ, lớn cho cuộc đời, cho xă hội, cho Tổ Quốc thân yêu của mỗi công dân.

Nhà Quân sự chiến lược, tâm lư chiến tài ba kiệt xuất – Ức Trai Nguyễn Trăi viết B́nh Ngô Sách đóng góp mưu trí cùng Lê Lợi đánh đuổi quân Minh xâm lược để bảo vệ từng tấc đất của ông cha.

Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm làm Chinh Phụ Ngâm để an ủi, sẻ chia nỗi buồn thương, trông ngóng của những người mẹ, người vợ, có con, có chồng đang “ Giă nhà đeo bức chiến bào(1) lăn ḿnh vào lửa đạn ở chiến trường trong sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc biên cương nhưng ḷng vẫn hướng về quê nhà, nơi có “Ḷng lăo thân buồn khi tựa cửa / Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm / Ngọt bùi thiếp đă hiếu nam / Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân(2).

Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều kư thác nỗi bất b́nh của kẻ sĩ bó tay trước thời thế bằng tác phẩm Cung Oán Ngâm Khúc, để tố cáo các chế độ quân chủ tập quyền, tranh bá đồ vương; bằng cách đồng cảm xót thương thân phận của lớp lớp cung nga thể nữ, họ bị giam hăm tuổi thanh xuân trong Tử cấm thành của mỗi triều đại Vua chúa để hầu hạ phục vụ chuyện gối chăn cho các v́ “Thiên tử”. Đến lúc về già nhan sắc tàn phai bị thất sủng ôm nỗi sầu cô quạnh, và biết đâu có người suốt một đời chưa hề diện kiến long nhan để nhận chút “ân mưa móc” bởi xe dê không dẫn lối đưa đường(3), mỏi ṃn ngồi trong cung lạnh đếm thời gian chờ đợi ngày về thiên cổ.

 

“….Trăm năm c̣n có ǵ đâu

Chẳng qua một nắm cỏ khâu xanh ŕ…”

(Cung Oán Ngâm Khúc – Nguyễn Gia Thiều)

 

Vậy sau khi đọc Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Tiên Điền v́ động lực nào, v́ cảm xúc nào thúc đẩy để ông viết Đoạn Trường Tân Thanh bằng ba ngàn hai trăm năm mươi bốn (3254) câu thơ lục bát mượt mà; để lại dấu ấn bất tử cho nền văn học cổ điển thời trung đại của dân tộc Việt Nam.

Đoạn Trường Tân Thanh là niềm thương cảm sầu vương cho bao nhiêu tầng lớp độc giả từ Á sang Âu… Nếu thuở sinh tiền, Tố Như tự hỏi: “Bất tri tam bách dư niên hậu / Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”, th́ bây giờ ở một cơi miền xa xôi nào đó, xin cụ yên ḷng v́ không chỉ ba trăm năm; mà kẻ hậu sinh này trộm nghĩ là c̣n nhiều và nhiều năm sau nữa tác phẩm của cụ vẫn là đề tài hấp dẫn làm tốn nhiều giấy mực và nước mắt của bao khách văn chương. V́ thế, không ngoa ngữ tí nào khi nhà báo Phạm Quỳnh chủ bút tờ Nam Phong tạp chí đă khẳng định: “Truyện Kiều c̣n, nước ta c̣n / Tiếng ta c̣n, nước ta c̣n. Câu nói bất hủ ấy sau này được viết trang trọng bằng chữ Nôm trên trụ cổng vào mộ phần của nhà báo, nhà văn hóa tài hoa họ Phạm ở khu đất phía trước Chùa Vạn Phước thành phố Huế.

Có rất nhiều ư kiến không đồng nhất về thời điểm Nguyễn Du viết tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh. Theo cụ Hoàng Xuân Hăn: “Liệt truyện và gia phổ đều viết Nguyễn Du đi sứ năm Gia Long thứ mười hai (1813), năm sau về. Lúc bấy giờ Nguyễn Du đúng 50 tuổi và mất năm 56 tuổi. Vậy quyển Đoạn Trường Tân Thanh viết ra trong khoảng năm 1814 – 1820”.

(Theo Nguồn Gốc Văn Kiều – Hoàng Xuân Hăn trang 30 – Hai Trăm Năm Nghiên Cứu Bàn Luận Truyện Kiều – Lê Xuân Lít)
 

Và trong So Sánh Dị Bản Truyện Kiều, NXB Văn Học 2006, tác giả Lê Quế cũng cho rằng truyện Kiều được viết vào năm 1814. Có thể tất cả luận điểm trên đều c̣n là những thắc mắc đang tồn nghi trong nền văn học cổ cận. Điều này chỉ có chính người viết ra nó mới giải đáp được ẩn số nhưng nay Cụ đă phiêu lăng hạc nội mây ngàn ở chốn thần tiên nào đó, để có lúc trung niên thi sĩ Bùi Giáng đă ngậm ngùi:

“…..Trời đất lạnh và ḷng anh không thỏa

Gửi hồn đi phương hướng hút heo ngàn

Hồn ngơ ngác loay hoay về hỏi dạ

Có bao giờ dạ thỏa giữa không gian..”

(Hận – Nhớ Tố Như – Bùi Giáng – Nhà Xuất bản Văn Nghệ 2005)

 

Chúng tôi (NGTC) là kẻ sinh sau đẻ muộn, đă từng học Truyện Kiều và đọc đến thuộc ḷng bằng tất cả niềm yêu quư dành cho tác phẩm, và sự trân kính, ngưỡng mộ dành cho người nghệ sĩ mát tay có tên Nguyễn Du, ông đă dày công nuôi nấng gầy dựng các nhân vật tiêu biểu bằng thịt xương sinh động.

Theo thiển ư của chúng tôi (NGTC), Truyện Kiều là một sáng tác vĩ đại của Nguyễn Tiên Điền, chứ không phải là tác phẩm chuyển thể từ tiểu thuyết văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân có tên gọi Kim Vân Kiều Truyện.

Nguyễn Du chỉ mượn nhân vật, bối cảnh, t́nh tiết của đất nước Trung Hoa triều đại nhà Minh. Mượn chuyện người để kể chuyện ḿnh, mượn không gian người để chuyển tải bao nỗi niềm ch́m đắm đau thương tranh danh đoạt lợi, tương tàn tương sát của xă hội Việt Nam thời Lê mạt – cái thời mà một số sĩ phu khoanh tay bất lực trước sự đàn áp của Chúa Trịnh với Vua Lê, các vị “con trời” thuở ấy chỉ c̣n là chiếc bóng mờ nhạt, là những ông Vua bù nh́n từ Lê Dụ Tông đến Lê Chiêu Thống… Những sỉ nhục đớn hèn của một hạng người xu phụ, những rối ren khủng khiếp, những đau đớn ê chề nhục nhă của một số tầng lớp quan quân buổi ấy đă được Ngô Gia Văn Phái tường thuật rạch ṛi, khiến người đọc phải chau mày nghiến răng cùng với tác phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí và Phạm Đ́nh Hổ với Vũ Trung Tùy Bút, Tang Thương Ngẫu Lục.

 

Là con trai thứ bảy (7) của Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm và bà Trần Thị Tần, người phụ nữ mỹ miều của xứ Kinh Bắc, cậu ấm Du sống trong nhung lụa với sự cưng chiều của gia đ́nh. Nhưng hạnh phúc không mỉm cười lâu hơn với cậu. Vừa lên mười (10) tuổi, nỗi bất hạnh lớn ập đến là thân sinh Nguyễn Nghiễm qua đời và hai năm sau phu nhân Trần Thị Tần cũng theo chồng về thiên cổ, bỏ lại bốn anh em Nguyễn Du côi cút, đành nương tựa vào người anh cả khác mẹ là Tả Thị Lang bộ H́nh kiêm Hiệp Trấn xứ Sơn Tây. Hoạn lộ của người anh Nguyễn Khản nhiều gập ghềnh biến động. Tuy vậy, Nguyễn Du vẫn được anh cho ăn học tử tế, thi đậu tam trường (Tú tài) rồi thôi không học tiếp nữa.

Chính những điều đau đớn từ xă hội đến gia cảnh, tự trong sâu thẳm của tấm t́nh bi đát, cậu thiếu niên công tử là nạn nhân, là chứng nhân của thảm kịch quốc phá gia vong. Quá khứ vàng son khép lại từ khi mồ côi cha mẹ mang mặc cảm sống nhờ ở đậu, cô đơn, người thiếu niên, rồi thanh niên ấy, t́m vui qua các buổi hát ḥ cùng với các cô, các cậu trai làng (hát phường vải). Bước lăng du của người con trai phong vận đưa chàng đến cây đa bến nước đầu làng để gặp người thôn nữ chèo đ̣ ngang đẹp như vầng trăng mười sáu, và có giọng hát trong veo như sương mai, họ yêu nhau nồng nàn.

“…Tiên thề cùng thảo một chương

Tóc mây một món dao vàng chia đôi

Vừng trăng vằng vặc giữa trời

Đinh ninh hai miệng một lời song song…”

 

Thế mà họ không thực hiện được lời thệ ước bởi quan điểm bất đồng giai cấp của bà mẹ lớn. Bà ép Nguyễn Du cưới vợ để chia cắt mối t́nh đầu của cậu ấm. Mối t́nh đẹp như trăng đành tan vỡ theo thành kiến môn đăng hộ đối, đă đem lại cho Nguyễn Du nỗi tuyệt vọng cùng cực, nỗi ám ảnh khôn nguôi...

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đ́nh Ngân với bài viết trong Nghiên Cứu Văn Học Số 6 - Năm 1960, th́ ông có t́m thấy trong thư viện Huế một tập thơ (di cảo) có tên T́nh Hận của Nguyễn Du.

 

Truyện Kiều ngoài 8 câu đề dẫn, phần vào nội dung ta thấy Nguyễn Du đă mở ra một không gian nghệ thuật bằng câu: “Rằng năm Gia Tĩnh Triều Minh”. Sao lại phải triều Minh bên Trung Hoa mà không phải là triều đại Vua Lê Chúa Trịnh ở nước ta?

Ba ngàn hai trăm năm mươi bốn câu (3254) lục bát mượt như nhung và thơm hương ngọc lan dịu nhẹ toàn tập là từng khúc ruột mang thương tích trầm kha nhức nhối, là nỗi thống khổ của thời đại, của cộng đồng, của cá nhân. Mỗi nhân vật chính diện của tác phẩm là một phát ngôn nhân, một công tố viên, một hội thẩm nhân dân, một luật sư bào chữa, mà bào chữa cho ai? Ai chánh án và ai tội phạm? Một quăng đời thanh niên Nguyễn Du đă theo gương cha đem trí lực phụng sự Lê triều. Khi nhà Lê sụp đổ cáo chung, Nguyễn Du mất phương hướng, ông không tỏ thái độ hưởng ứng hay chống đối phong trào nông dân Tây Sơn mà lẳng lặng phiêu bồng sương khói khắp miền non Lĩnh sông Lam mười năm đằng đẳng ngơ hầu t́m quên thế sự... V́ vậy có nhiều ức đoán của các nhà nghiên cứu là Đoạn Trường Tân Thanh ra đời ở giai đoạn này, những ức đoán, khẳng định, phủ quyết về năm tháng khai sinh tác phẩm là một điều vừa thú vị, vừa mệt mỏi, vừa kích thích sự t́m ṭi của bạn đọc xưa nay và mai sau...

Trong những tháng năm bất đắc dĩ phải chơi tṛ tiêu dao vui thú yên hà, dọc sông Lam và chín mươi chín ngọn Hồng lĩnh trên góc trời quê kiểng ấy với tuổi đời ngoài ba mươi (36), liệu Nguyễn Du có hội đủ chất liệu, sự trải nghiệm qua bao nhiêu tṛ đời, t́nh đời, lên voi xuống chó, đă đủ chưa những điều trông thấy? Có lẽ mới tạm đủ, nhưng để cho đầy đặn phủ phê những điều trông thấy ấy, phải là lúc ông vâng mệnh người khai sáng triều Nguyễn là Thể tổ Cao Hoàng đế Gia Long ra làm quan với tân triều bằng tâm trạng “hàng thần lơ láo”. Đây là giai đoạn Nguyễn Du bị khủng hoảng tâm lư trầm trọng, hệ quả là những ngày ốm đau bệnh tật lạnh lẽo nằm tại dịch quán của đất Cố Đô. Những thương ghét đố kị gièm pha bia miệng của người đời, của cuộc đời đă tạo cho ông sự đối kháng bằng im lặng. Trong vai tṛ Chánh sứ đi triều cống “Thiên triều Trung Hoa” với những tháng ngày công cán trên đất khách, lúc rảnh rỗi ông đă t́m thăm các di tích lịch sử của các triều đại đă lùi vào quá khứ, đă khóc v́ quư trọng sự trung liệt của một Nhạc Phi, đă căm giận sự gian hùng của một Tần Cối, đă ngậm ngùi trước Đồng Tước đài của Tào Tháo xây dựng với tâm niệm tặng Đại Kiều, Tiểu Kiều của Ngô Tôn Sách và Chu Du nếu Ngụy thắng Ngô, đến sông Mịch La nơi Khuất Nguyên trầm ḿnh... và gót du tử dừng chân ở núi Cô Sơn khóc thương người bạc mệnh:

“…Chỉ phấn hữu thần liên tử hậu

Văn chương vô mệnh lụy phần dư

Cổ kim hận sự thiên nan vấn

Phong vận kỳ oan ngă tự cư...”

(Độc Tiểu Thanh Kư – Nguyễn Du)

 

Với bản chất đa sầu, đa cảm, v́ vậy gặp một hoàn cảnh thương tâm nào cũng đem lại cho Nguyễn Du sự đồng cảm cao độ, sự sẻ chia thật chí t́nh và ông đặt ḿnh vào đối tượng để cùng khổ đau, ông khóc cho người và cho bản thân ông. Có lẽ trong nền văn học cổ cận - ông là nhà thơ khóc nhiều nhất!

Nhà thơ TCHYA (Đái Đức Tuấn) đă từng viết:

“...Nghệ sĩ trót sinh giàu cảm lụy…”

 

Vâng! Giàu cảm lụy là căn bệnh chung của nghệ sĩ, nhưng với Nguyễn Du - người nghệ sĩ biệt phái này th́ sự cảm lụy nhân lên đến vạn lần trời đất ạ.

Tố chất buồn thương đă là vốn liếng của cậu bé lên mười, tiến lên là một công tử phong vận lỡ bước cùng đường, gia đ́nh ly tán, bế tắc hoạn lộ công danh, nghèo túng quanh năm suốt tháng... Đến lúc được nhà Nguyễn chiêu mộ ra làm quan, đáng ra phải được vinh gia ấm tử và bản thân ông phải được sung túc lên xe xuống ngựa, được tẩm bổ bằng sơn hào hải vị. Vậy mà ông vẫn đói khổ, bệnh hoạn, xác xơ cho đến lúc nhắm mắt ĺa đời chưa được tuần sơ thọ. Đúng là tài hoa sóng bước bạn bầu oan khiên... là tài mệnh tương đố chăng???

Sự buồn khổ, thất chí, thất t́nh, từ buổi thanh my cho đến khi bạch phát, sự trải nghiệm bao nhiêu nỗi đoạn trường thân thế, sự chung đụng với nhân t́nh nơi th́ lạnh nhạt nơi th́ xót thương đă tích lũy cho ông một vốn sống quá phong phú, quá no đầy, để ông trải ḷng trải ư chấp chới trên đầu ngọn bút biến thành câu chữ ngọt ngào để lại một gia tài văn học đồ sộ cho cuộc đời, v́ thế ta có thể suy đoán là tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh ra đời sau khi ông đi sứ về (1814).

Nỗi niềm ḿnh, tâm sự ḿnh ông đă kư thác gửi gắm qua từng nhân vật.

 

a) Một công tử lịch lăm phong vận thông minh tài bộ hơn người “...Đề huề lưng túi gió trăng / Sau chân theo một vài thằng con con / Tuyết in sắc ngựa câu ḍn / Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời...”. “...Nền phú hậu bực tài danh / Văn chương nết đất thông minh tính trời / Phong tư tài mạo tót vời / Vào trong phong nhă ra ngoài hào hoa...

Đó là Nguyễn Du phác họa chân dung tự thân của ḿnh thời “c̣n cha gót đỏ như son”.

 

b) Những tháng ngày thanh xuân yêu đương trong sáng với cô lái đ̣ yểu điệu thục nữ - lời thề nguyện trăm năm hương lửa không thành - bởi sự so sánh thành phần của người cầm cân nảy mực trong đại gia đ́nh Nguyễn Du; nên lứa đôi phải tan đàn xẻ nghé, cuộc t́nh đầu găy đổ đă để lại cho Nguyễn Du niềm di hận khôn nguôi “...Bây giờ trâm găy gương tan / Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân...”.

 

c) Với Tứ vô lượng tâm của nhà Phật là Từ, Bi, Hỷ, Xả th́ một người có t́m hiểu về Phật pháp, và với tâm Từ Bi vô lượng, Nguyễn Du đă cho người khách viễn phương thực hiện hai điều căn bản là Tâm Từ và Tâm Bi, qua việc làm rất đẹp với người đàn bà bạc mệnh Đạm Tiên “...Sắm sanh nếp tử xe châu / Vùi nông một nắm mặc dầu cỏ hoa...”

 

d) Chí làm trai không thành, t́m không ra chân Chúa để phụng sự, để thực hiện lư tưởng an bang tế thế, để trên v́ nước, dưới v́ nhà, mộng công hầu tan ră bao phen, mặc dầu bản thân là người “...Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài / Đội trời đạp đất ở đời...

 

Bốn nhân vật tiêu biểu của Truyện Kiều: Kim Trọng, Thúy Kiều, Khách Viễn Phương, Từ Hải, chúng ta nhập bốn nhân vật điển h́nh ấy lại và phóng to sẽ thấy một chân dung Nguyễn Du cao vời vợi, với đa chiều tính cách mà người xây dựng muốn giới thiệu về bản thân ḿnh.

 

Kim Trọng là Nguyễn Du của thuở hoa niên với nền “phú hậu bực tài danh, văn chương nết đất thông minh tính trời”.

Thúy Kiều là Nguyễn Du với t́nh yêu nửa đường đứt gánh tương tư thăng trầm lên voi xuống chó; có nhiều lúc, đàn ông cũng phải bán ḿnh vào “lầu xanh” và làm ôsin để: “thanh lâu hai lượt thanh y hai lần”???

Khách viễn phương là Nguyễn Du với tấm ḷng rộng mở thương yêu gửi đến khắp cả thế gian, khắp cả mọi giai tầng trong xă hội với trái tim của một người học Phật.

Từ Hải là Nguyễn Du với chí lớn bất thành, không ḥa nhập được cuộc đời ḿnh vào ṿng quay của thời thế lúc bấy giờ, nên đành: Vỗ gươm mà hát / Nghiêng bầu mà hỏi / Thiên hạ man man / Ai người tri kỷ / Lại đây cùng ta cạn một hồ trường(4). Rốt cuộc một hành tŕnh cô độc với gươm đàn nửa gánh và biết trước là “...Hàng thần lơ láo phận ḿnh vào đâu…”. Nhưng biết và làm cái ḿnh biết là hai việc khác nhau.

 

Bốn gương mặt, bốn tính cách và những bi kịch của mỗi người cộng lại thành một chân dung, một nhân cách của đại thi hào Nguyễn Du. Bốn gương mặt đại diện cho một thân phận, một số phận, số phận phong vận kỳ oan, một nỗi niềm: cổ kim hận sự thiên nan vấn... Là thế đó Tố Như tiên sinh ạ! Bởi v́

 

Từ xưa nay đến mai sau

Tài hoa sóng bước bạn bầu oan khiên.
 

__________________
 

Chú thích:

(1), (2) Chinh Phụ Ngâm

(3) Vua Tần Thủy Hoàng thường đi chơi bằng xe dê, các cung nữ gắn lá dâu ở ngoài cửa pḥng ḿnh mong xe đưa vua đến để được chiêm ngưỡng long nhan...

(4) Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác



 

Trang Ninh Giang Thu Cúc

art2all.net