Ninh Giang Thu Cúc

 

NI SƯ THÍCH NỮ TRÍ HẢI

Ni sư Thích Nữ Trí Hải

 

Pháp danh: Tâm Hỷ (1938 - 2003)

Thế danh: Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh

Năm sinh: 1938

Nguyên quán: Vĩ Dạ - Huế

Thị tịch: 7.12.2003
 

 

TIỂU SỬ VÀ HÀNH TRẠNG

Trước khi trở thành Thích tử thiền môn - người con Phật này có thế danh là Công Tằng Tôn nữ Phùng Khánh, chào đời tại làng Vĩ Dạ vào ngày 9.3.1938 âm lịch là năm Mậu Dần, trong một gia đ́nh hoàng phái, thuộc phủ pḥng Tuy Lư Vương - là ái nữ của cụ ông Ưng Thiều tự là Mân Hương, pháp danh Như Chánh và cụ bà phu nhân Đặng Thị Quế, pháp danh Trường Xuân, duyên lành về con đường tu học đă được ươm mầm trong chủng tử thai nhi bởi hai đấng sinh thành đều là Phật tử tại gia cư sĩ. V́ thế cô tiểu thư trâm anh vọng tộc này đă được thọ tam quy ngũ giới và thính pháp văn kinh khi c̣n trong bụng mẹ, mà bổn sư thế độ là ngài tọa chủ chùa Tường Vân. Sau này là bậc cao tăng thạc đức nắm giữ mạng mạch Phật giáo miền Nam Việt Nam trên cương vị Đệ nhất Tăng Thống pháp hiệu Thích Tịnh Khiết.

Sau khi hoàn thành chương tŕnh trung học đệ nhị cấp, tiểu thư Phùng Khánh theo ngành sư phạm ở bậc đại học, tốt nghiệp cô được bổ dụng vào dạy môn sinh ngữ (Anh văn) tại trường trung học Phan Châu Trinh - Đà Nẵng.

Năm 1960 cô giáo Phùng Khánh được đi du học ở Mỹ, đến năm 1963 cô về nước với bằng cấp cao học ngành thư viện, thời gian này Viện cao đẳng Phật học Việt Nam được thành lập, ḥa thượng Thích Trí Thủ mời cô và cô Phùng Thăng cùng đến phụ tá cho Ni trưởng chùa Phước Hải cùng chăm lo cho đời sống của ni sinh, cũng như làm một số phật sự tại chùa Pháp Hội. Phùng Thăng là em út của tiểu thư thạc sĩ Phùng Khánh.

Cơ duyên tận hiến hoàn toàn cuộc đời cho Phật pháp đă đến. Năm 1964 người con gái Huế yêu kiều, cô quận chúa cành vàng lá ngọc Phùng Khánh thí phát xuất gia tại chùa Hồng Ân, mà bổn sư thọ kư là ni trưởng trụ tŕ Thích nữ Diệu Không, từ đây cái tên Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh đă xếp vào hồ sơ lưu trữ, mọi người chỉ gọi vị sa di ni này bằng pháp hiệu Trí Hải, Thích nữ Trí Hải.

Vâng, Trí Hải - Biển trí tuệ, vị nữ tu có pháp danh Tâm Hỷ và pháp hiệu Trí Hải này đă phụng sự đạo pháp bằng tất cả khả năng và sự thông tuệ ưu việt cũng như phụng hiến đồng loại, đồng bào, chúng sanh, bằng trái tim hạnh lạc an vui, đúng như pháp danh mà cô thọ nhận: Tâm Hỷ.

Đường tu học của cô cứ thế đi lên từng bước. Năm 1968 cô được thọ giới Thức xoa ma na tại giới đàn Nha Trang. Cùng lúc Viện đại học Vạn Hạnh được thành lập, cô được bổ nhiệm làm thư viện trưởng và giám đốc trung tâm An Sinh xă hội của Viện; đồng thời là giảng sư dạy các môn nội điển tại trường. Giai đoạn này các trường cao cấp Phật học và các học viện Phật học Việt Nam đều mời cô phụ trách giảng dạy các môn nội điển bằng Anh văn cho các tăng ni sinh.

Năm 1970, cô thọ đại giới Tỳ Kheo ni, và Bồ Tát giới tại giới đàn Vĩnh Gia Đà Nẵng. Từ đây, trách nhiệm về hoạt động Phật sự lan tỏa khắp các vùng miền, song song với hoạt động từ thiện xă hội, trùng tu các ngôi già lam xuống cấp, bảo trợ các cô nhi viện, các gia đ́nh cô quả ở vùng sâu vùng xa.

Về sự nghiệp văn học - cây bút tài hoa của người nữ tu này quá uyên thâm vi diệu, quá uyên bác hàn lâm. Người có gần một trăm đầu sách các thể loại từ sáng tác đến dịch thuật, biên soạn, phóng tác và hàng loạt bài viết ngắn, cùng nhiều bài thơ ư t́nh thắm đượm mùi pháp lạc đạo vị. Ni sư là một nhà văn, một nhà thơ, nhà triết học, nhà sư phạm với một trái tim rộng mở dâng hiến cho Đạo và Đời.

Nhưng trái tim nhân ái ấy đă ngừng đập cùng với hai thị giả trên bước đường du hóa vào một chiều mùa đông năm 2003 do một tai nạn giao thông trên lộ tŕnh Phan Thiết - Sài G̣n.

Ni sư viên tịch ở tuổi 66 là một mất mát lớn cho Phật giáo Việt Nam, cho nền văn học và giáo dục Phật giáo nói riêng, và cho nền văn học Việt Nam nói chung, nhưng biết làm sao chống lại được sự chi phối của luật vô thường?!

Nếu sống là thể phách, khi thể phách đă tan ră theo đất nước gió lửa th́ cái c̣n để lại cho đời là phần tinh anh - mà tinh anh, trí tuệ, văn nghiệp, đạo nghiệp của ni sư là một tài sản vô giá, một biển trí tuệ mênh mông măi măi trường tồn cùng tuế nguyệt. Vậy là Ni sư vẫn c̣n măi măi bên chúng ta, sự ra đi ấy, sự viên tịch ấy chỉ là sự quay về tṛn đầy không vơi cạn.

Soạn giả chỉ là một nữ phàm phu đầy hệ lụy, một tín nữ sơ cơ, sự am hiểu về đạo pháp quá nghèo nàn, nhưng với tất cả ḷng kính ngưỡng xin vô cùng tán thán công nghiệp, tài năng mà ni sư đă đóng góp cho ngôi nhà Như Lai và cho cuộc đời này, cho đất nước Việt Nam.

 

TÁC PHẨM TIÊU BIỂU CỦA NI SƯ THÍCH NỮ TRÍ HẢI

 

TRIÊU DƯƠNG CA
 

Trời cao trong và xanh

Gió ban mai tốt lành

Vũ trụ như ch́m đắm

Trong thiền định vô sanh
 

Chim chóc đang ca múa

Mừng lễ hội b́nh minh

Sau lùm tre thưa thớt

Vừng dương vừa ló lên
 

Thiên nhiên như vũ điệu

Như bài ca vô thanh

Tâm ḥa cùng vũ trụ

An trú trong bất sanh.

 

~~oOo~~

 

THÊM MỘT NGÀY
 

Thêm một ngày nằm bệnh

Thêm một ngày tu tâm

Niệm ơn sâu Tam bảo

Tấm ḷng bao người thân

 

Thêm một ngày đoàn tụ

Cùng pháp tử mến thương

Sẻ san chân diệu pháp

Vị ngọt thấm can trường

 

Thêm một ngày quán niệm

Chốn sinh tử hiểm nguy

Cơi niết bàn an lạc

Cũng trong một tâm này

 

Thêm một ngày chánh niệm

An trú trong bất sinh

Cẩn thận từng cảm xúc

Từng móng ư khởi tâm

 

Thêm một ngày cảm niệm

Ơn bạn lữ mười phương

Hỏi thăm và san sẻ

Ấm ḷng khách tha phương

 

Thêm một ngày sám hối

Lạy mười phương Như lai

Cho con sạch tội lỗi

Từ xưa cho đến nay

 

Thêm một ngày phát nguyện

Nguyện cùng tận vị lai

Luôn theo chân Phật tổ

Lợi ích cho muôn loài.


 

~~oOo~~

 

SỐNG CHẾT
 

Sống trong hơi thở vào

Chết cùng với hơi ra

Ngày đêm liên tục chuyển

Kiếp số như Hằng sa
 

Hít vào, ta c̣n đó

Thở ra, đă hết ta

Ta ḥa cùng với gió

Thành vũ trụ bao la
 

Ta như làn sóng nhỏ

Giữa đại dương cuộc đời

Sóng có khi c̣n mất

Biển cả không đầy vơi.

 

~~oOo~~
 

RỪNG SA LA

(Cảm tác kinh Gosinga Trung bộ 1)
 

Trăng sáng, rừng Sa La ngát hương

Không gian vẳng tiếng nhạc du dương

Bên lư trầm quyện chung trà nhắp

Pháp loại c̣n vang tiếng diệu thường
 

Ai sẽ làm chói sáng rừng cây?

Làm cho hương tuệ giác xa bay?

Mẫu người lư tưởng là ai thế

Tiếp nối đèn thiền, được mấy ai?
 

Đa văn, khổ hạnh hay thiền định?

Thuyết pháp, thần thông, nhẫn nhục nhiều?

Trí tuệ, biện tài, thông hiểu Pháp?

Hạng nào trong ấy thực cao siêu?
 

Độ chúng, xây chùa, tạo tượng tranh

Đúc chuông pháp khí cúng dường tăng

Pḥ nguy cứu khổ chuyên hành thiện

Danh tiếng vang lừng rạng tổ đăng?
 

Ai cũng góp công tŕnh dựng xây

Vườn thiền biển tuệ nhà Như lai

Nhưng người chói sáng rừng cây ấy

Vô vị chân nhân tỏ mặt mày.
 

(30.6.03)


 

~~oOo~~

 

CHÙA TƯỜNG VÂN
 

Chốn tổ Tường Vân bao kỷ niệm

Những ngày theo mẹ học ôn thi

Sớm khuya kinh kệ nương theo chúng

Bát nhă thuộc làu trước đại bi
 

Đi dạo vườn chùa mô đất cao

Bốn mùa cây trái tốt xinh sao

Bồ quân khế ngọt cùng cam quít

Tha hồ vơ vét đựng đầy bao
 

Xuống đến chỗ ngồi dưới bóng cây

Thầy c̣n cho bánh quả đơm đầy

Mâm bồng dâng cúng nơi bàn Phật

"Con hăy nhận quà của Phật đây".
 

Thầy lại trao cho kinh Pháp hoa

Bản kinh Việt dịch mới in ra

"Chứng minh Ḥa thượng" câu đề tặng

Thầy dạy con về ráng đọc qua
 

Thầy bố thí quà ăn học thi

"Cái chi ta cũng dành cho mi

Mà mi không chịu tu, mi chết"

Nhớ măi lời thầy dạy những khi

(2.7.03)


 

~~oOo~~


 

KÍNH DÂNG SƯ BÀ DIỆU KHÔNG
 

Mai đây cuộc thế vô thường

Thầy là sao sáng soi đường con đi

Huyễn thân mộng trạch sá ǵ

Bước chân đồng tử hẹn kỳ tái lai.

(1984)
 

Hoa từ bi rộ nở

Cho ta bà ngát hương

Thầy đâu con theo đó

Mang vui nẻo đoạn trường

(2003)

 

 

~~oOo~~

 

TIẾNG HẢI TRIỀU

Chị TG, trong kinh Phổ môn, phần kệ tụng có một đoạn đáng lưu ư, v́ đó chính là pháp môn tu của bồ tát Quan Thế âm được nói trong kinh Lăng Nghiêm: nhĩ căn viên thông. Đoạn ấy như sau:

"Diệu âm, Quan thế âm

Phạm âm, hải triều âm

Thắng bỉ thế gian âm

Thị cố tu thường niệm".

Do sự diễn dịch tài t́nh của thầy HH mà ta có thể khám phá điều trên:

"Tiếng mầu nhiệm, tiếng của Người - Nghe - Lời - Kêu - Đau - Thương của cuộc đời, tiếng thanh tịnh, tiếng Hải - triều đang dậy, Tiếng siêu việt mọi thứ tiếng trên đời: Ta hăy thường quán niệm Tiếng ấy".

Và: "Bỏ ra ngoài mọi nghi hoặc, hăy thường xuyên quán niệm bản chất thanh tịnh và siêu việt của Quan Thế Âm, bởi v́ trong mọi trường hợp tử sinh ách nạn sự quán niệm ấy sẽ là cách cửa mở đến Giải thoát".

Rơ ràng đây là một pháp môn thiền định, không phải một sự cầu xin. Thiền định bằng cách nào? Đó là lắng nghe lời kêu đau thương của cuộc đời. Tiếng kêu đau thương đó là một tiếng kêu thường trực như tiếng hải triều, một thứ tiếng lấn át cả mọi thứ tiếng trên đời: Tiếng Khổ. Hăy lắng nghe, cho đến khi chủ tể nghe và đối tượng bị nghe trở thành một, chỉ c̣n sự nghe, sự quán niệm mà thôi, sự quán niệm trong đó không c̣n con người hay cái tôi chủ tể sự quán niệm, không có cái bị nghe, đối tượng quán niệm. V́ sao sự quán niệm, sự lắng nghe một cách thụ động đó lại là cánh cửa mở đến Giải thoát? Bởi v́ trong đó không c̣n sự phân biệt "đây là nỗi khổ của tôi", không c̣n đây, kia, ta, nó, nhiều, ít. Chỉ thuần là khổ khắp Đông Tây Nam Bắc trên dưới trong ngoài, quá khứ, hiện tại, vị lai. Khổ thấm nhuần tất cả, lan tràn khắp cả như tiếng hải triều vang dậy. Đừng đặt câu hỏi: "Tại sao tôi khổ như thế này, tôi đă gây những nghiệp ǵ, để chịu khổ như thế kia…". Bởi v́ tất cả những thắc mắc đó đều là dấu hiệu của sự vùng vẫy, chống lại khổ, không chấp nhận lắng nghe nó một cách thụ động, không quán niệm nó, nhập làm một với nó, như bài kệ Phổ môn đă gợi ư. Tiếng khổ trong ta hay ngoài ta chỉ là một. Đại nguyện của bồ tát là "ngũ trược ác thế thệ tiên nhập" (chỗ nào có KHỔ là chỗ đó con thề đi vào trước hết). Cái khổ trực tiếp, rơ rệt nhất là thân ngũ ấm này, sao ta lại khước từ nó? Ngay nơi thân này, có khởi nguyên và cùng tận của thế giới, nghĩa là khởi nguyên và cùng tận, chấm dứt của Khổ. Nói theo Duy thức th́ nguyên nhân phát sinh khổ - khát ái dục - nằm trong hành uẩn, mà nguyên nhân tiêu diệt khổ - tuệ tâm sở - cũng ở trong hành uẩn. Dục tâm sở là sự bám víu, khát khao sự sống, chính nỗi khao khát bám víu này làm cho ta nổi sân trước những ǵ gây chướng ngại cho sự sống, như bệnh tật, nghèo đói. Do khát ái mới có sân hận bực tức. Ngược lại, tuệ tâm sở là thái độ quán niệm, lắng nghe một cách thản nhiên tất cả những ǵ xảy đến trong thân và ngoài thân: đó là thái độ của người lắng nghe, lời kêu đau thương của đời. Lắng nghe th́ không c̣n tư dục, không có phản ứng ưa ghét phát sinh từ trung tâm chấp ngă. Xóa bỏ cái trung tâm ấy tức là Thiền định. Kinh Thủ lăng nghiêm dạy có năm thứ bực xóa bỏ trung tâm ấy như sau:

Vong sở: Sở đây là "sở văn": cái bị nghe, tức trần cảnh. Ấy là không phân biệt giữa những cái bị nghe, như động và tịnh, hay và dở, khổ vui, ưa ghét. Sở nhập kư tịch, động tịnh nhị tướng liễu nhiên bất sanh: trần cảnh đă vắng lặng th́ hai tướng động tịnh không khởi nơi tâm, nghĩa là tâm không phân biệt. Đây là nhiếp động về tịnh: chỉ c̣n sự nghe.

Khi trần cảnh đă vắng lặng (đúng hơn là tâm không c̣n phân biệt trần cảnh, cho nên cảnh không c̣n chi phối được tâm) th́ tất cả là căn, v́ căn và cảnh thành một: như khi thiền định giữa đêm khuya tuyệt đối tĩnh lặng, lắng nghe cái im lặng ấy, ta không thể nói nó ở trong ta hay ngoài ta, nó không có trên dưới trong ngoài mà bao trùm hết mọi sự. Giai đoạn hai này là nhiếp trần về căn: "văn, sở văn tận", cái nghe và bị nghe chấm dứt, chỉ c̣n căn.

Nhưng căn là tên gọi để đối với trần cho nên khi trần đă hết th́ không c̣n lập căn làm ǵ. Bây giờ nó trở thành một tính giác sáng suốt thuần tịnh. Đó là nhiếp căn về giác.

Nhưng, giác cái ǵ? Giác cái KHÔNG. Mà giác cái không th́ cũng như không, nên nói: Giác, sở giác KHÔNG. Đây là nhiếp giác về không.

Giai đoạn cuối cùng là cái Không và biết không đều vắng lặng, tan ḥa vào nhau thành nhất tướng, đại thể siêu việt cả thế gian và xuất thế gian. Đến đây th́ phép lạ xảy ra là: tuy đồng sự với chúng sinh, mang một tấm thân ngũ ấm đau khổ mà bồ tát vẫn dự phần vào niết bàn của chư Phật. V́ cùng mang thân ngũ ấm khổ đau, nên bồ tát cảm thông với chúng sinh và trải ḷng từ bi mẫn đến vô tận; nhưng nhờ có trí tuệ, bồ tát có khổ cũng như không. Tất cả đều nhờ năng lực quán niệm, lắng nghe tiếng kêu đau thương của cuộc đời.
 

 

~~oOo~~
 

MẨU CHUYỆN NGÀY THƠ
 

Kinh nghiệm tôn giáo sớm nhất đời tôi là vào năm lên mười, bắt nguồn từ một biến cố nhỏ mà tôi sắp kể hầu quư vị dưới đây. Kinh nghiệm ấy bây giờ đă là một chiếc phao nổi cho tôi bám víu để vượt qua biển hoài nghi vốn cứ sâu rộng măi ra cùng với thời gian, với sự thâm nhập những tri thức nửa mùa. Mỗi khi, sau những tháng dài nỗ lực tu tập mà chẳng thấy được điềm lành tướng hảo ǵ ráo - lại c̣n thấy ma quỷ là đằng khác - tôi bắt đầu thất vọng và nghĩ có lẽ Phật đă bỏ rơi ḿnh, không thèm đếm xỉa tới; mỗi lúc tôi đâm ra chán nản như thế, th́ kỷ niệm trên lại vụt hiện trong trí nhớ, ủy lạo tôi, khiến tôi thầm nhủ: "Dù sao Quan Âm bồ tát rơ ràng đă giúp ḿnh trong dịp ấy, không thể chối căi. Chung quy, có lẽ bây giờ Ngài thấy không cần can thiệp". Thật đáng tiếc khi ta không c̣n tin tuyệt đối vào sự cầu nguyện như những ngày thơ, nhất là đối với một kẻ đă từng cảm nghiệp "ân sủng thiêng liêng" một cách cụ thể như tôi vậy.

Dạo ấy c̣n sinh tiền Nội tôi. Bà đă ngoài 80 tuổi. Chúng tôi được biết bà bị lao nhưng chẳng bao giờ nghe bà ho hen ǵ ráo. Tuy thế chúng tôi vẫn bị cấm triệt để ăn uống chung với Bà, một lệnh cấm đă làm tôi khổ sở v́ tôi thường ưa gần gũi những người già yếu. Tôi có thể h́nh dung lại cái trừng mắt của anh cả tôi mỗi khi thấy tôi mon men đến cạnh Bà, lục lọi ô trầu, hộp thuốc hay những vật dụng vặt vănh vây quanh Bà.

Nhà cha mẹ tôi ở cách nhà Nội chừng 300 thước. Mỗi chiều đi học về, tôi thường ghé thăm Bà và luôn tiện hái ít trái ổi, xoài, vả, mít cám (quả mít mới chớm mà có một lớp bột như cám vây ở ngoài, sẽ không đậu thành trái nên trẻ nhỏ nhà quê ưa hái chấm muối ớt ăn. Vị nó rất chát) hay để được Bà cho "hạ" những quả bồng trên bàn thờ Phật. Nhưng không phải lúc nào ghé tôi cũng được thong long. Có khi gặp mẹ trong vườn, bà thấy trái cây quá nhiều không ai ăn và thế là bà nẩy tứ bảo tôi hái tuốt đem ra chợ bán. Tôi có chút ít kinh nghiệm về "tiểu thương" là nhờ những dịp ấy. Tất cả những thứ đó năm th́ mười họa mới cần hái bán một lần, và tôi hănh diện được làm công việc. Tôi biết mẹ chỉ muốn sai cho có việc v́ thấy tôi ưa làm chứ không phải v́ túng thiếu, vả lại những thứ đó không bán th́ cũng chẳng để làm ǵ, nên tôi không bao giờ khó khăn với người mua. Tôi lại c̣n sợ họ không mua là đằng khác. Thế nên họ trả bao nhiêu cũng được. Và tôi thường bán sỉ cho những người ở chợ bán lại. Dĩ nhiên là họ trả rẻ mạt. Tôi không nhớ có lần nào bị mẹ la rầy v́ bán hàng rẻ, mặc dù tôi luôn luôn không c̣ kè ǵ cả. Song có một lần tôi bị mẹ rầy kịch liệt v́ bán quá rẻ. Lỗi không phải tại tôi, v́ tôi cứ y lệ trút hàng ra rồi lấy tiền về. Nhưng bận ấy người mua chỉ trả 4 cắc bạc cho một giỏ vả đầy ăm ắp. Đối với tôi th́ thế cũng là tốt, tôi không tiếc ǵ như khi phải bán ổi và xoài quá rẻ. Tôi hớn hở mang tiền về như thường lệ, nhưng mẹ tôi kêu lên:

- Con cái chi dại dột! Đem trả tiền lại, lấy vả lui về cho ta.

Tôi biết mẹ chỉ nói thế, chứ bà cũng biết đ̣i lại chẳng được nào. Nhưng cũng từ đấy tôi mới biết không cần phải bán các thứ ấy với bất cứ giá nào như bấy lâu tôi vẫn lầm tưởng. "Lần sau, nếu họ trả quá rẻ, ḿnh cứ việc mang hàng về". Tôi tự nhủ.

Như thường lệ, chiều hôm ấy tôi ghé qua nhà Nội và cũng gặp mẹ đang lúi húi dưới bức thành vôi lở làm ranh giới với vườn bên cạnh. Mẹ đang hái rau "càng cua", một thứ rau có màu xanh mơn mởn trông rất non mềm, thường mọc nhiều và mạnh ở những nơi không mấy sạch. Tôi ngạc nhiên thấy mẹ hái nhiều rau ấy khi gia đ́nh từ trước tới nay chưa hề dùng đến, nhưng tôi cũng hái phụ. Mẹ tôi bảo:

- Rau ni Tây thích ăn lắm. Đem bán cho mấy người bán la ghim bên chợ Đông Ba, họ cân bán lại cho Tây những mấy đồng một kư.

Thế là tôi sắp có dịp tái hành nghề, mà bán tận chợ Đông ba lận chứ không phải ở cái chợ xép như tôi thường vẫn bán các thứ trái cây và lá chuối. Tôi giục mẹ hái nhanh để kịp lên đường. Để rau khỏi nát và trông ngon lành hơn, Mẹ bỏ vào trong cái rổ lót lá chuối tươi thay v́ bỏ vào giỏ. Tôi hănh diện nách rổ rau đi, như một em bé chuyên nghề bán rau cải chính cống.

Nhà tôi ở cách chợ Đông Ba một cái cồn gọi là cồn Hến. Đi phía Đập Đá th́ chỉ qua một chuyến đ̣ ngang, c̣n đi phía Vĩ Dạ th́ phải qua hai chuyến, đ̣ Đông Ba và đ̣ cồn. Tôi thường đi phía Đập Đá v́ gần nhà.

Cảnh tượng những chị bán hàng rong đi qua sông ngồi rửa dọn gánh hàng cho tươm tất vẫn thường làm tôi ưa nh́n. Nó biểu lộ đức tính tần tảo, tham công tiếc việc của họ, tính say mê làm lụng của họ. Và làm sao tôi khỏi bắt chước họ khi có dịp, ở vào cái tuổi thơ dại ấy? Tôi cũng bắt chước bỏ rổ rau xuống sông rửa, khi đ̣ ra giữa sông. Nhưng v́ chưa thạo việc, tôi để nước cuốn trôi có gần nửa rổ. Tôi hoảng hồn lấy lên và thuyền cũng vừa cập bến. Tôi lên chợ, lần ṃ đến các hàng rau cải chuyên bán cho Tây để họ mua sỉ rổ rau với giá ít nhất cũng vài đồng như mẹ dặn. Nhưng tôi vô cùng thất vọng khi một bà bĩu môi trả : "5 cắc!" mà không thèm nh́n rổ rau của tôi cho sửa con mắt nữa (1). Tôi không bao giờ ghé qua quá hai gian hàng những lúc bán ế ở chợ xép, mà lần này tôi lại c̣n không ghé đến gian hàng thứ hai nữa, v́ nỗi thất vọng của tôi quá lớn, và nhất là kinh nghiệm bán trái vả vừa qua cho tôi nghĩ có thể mang hàng về. Thế là tôi nách rổ rau trở lại bến đ̣.

Trời đă gần tối, tôi vội vă lên đ̣ khi biết đó là chuyến đ̣ cuối cùng. Lạ thay, đ̣ đi một chút xíu là đến bến. Tôi ngỡ ngàng đi lên bộ theo mọi người, thấy người nào cũng gánh hến, tôi mới vỡ nhẽ đă đi lầm đ̣ Cồn. Mặc dù nhà ở cách cồn một khúc sông ngắn, tôi chưa bao giờ qua đấy. Tính phiêu lưu nổi dậy, tôi nghĩ nhân dịp này nên đi một ṿng cho biết cồn ra sao rồi qua đ̣ phía Vỹ Dạ để về. Tôi có biết đâu rằng đường đi từ đầu tới cuối cồn khá xa, và cũng quên sắp đến giờ giới nghiêm. Bến đ̣ đông đúc và quang cảnh chợ Đông Ba quen thuộc trước mắt khiến tôi mất hết ư thức sợ hăi. Nhưng khi tiến sâu vào cồn, khi đoàn người tản mát chỉ c̣n lại ḿnh tôi và một người nữa giữa đám ruộng mênh mông, tôi mới bắt đầu hoảng sợ. Bà bán hến độc nhất c̣n sót lại cũng sắp rẽ vào một đường hẻm. Tôi đi theo hỏi:

- Đây về bến đ̣ Vỹ Dạ xa không, bà?

- Xa lắm. Mà hết đ̣ rồi. Mi đi mô?

- Tui bị lạc đường.

- Rứa th́ vô ngủ lại nhà tao một đêm, mai về chứ chứ hết đ̣ rồi.

Tôi vốn đa nghi nên không dám nhận lời ngay. Tôi thoáng có ư nghĩ bà ta sẽ giết ḿnh để đoạt mấy đồng hiện đang có trong túi áo. Tất cả sản nghiệp của tôi có được mấy đồng - tiền tôi kiếm được nhờ mỗi chiều gánh nước tưới cây cho mẹ - tôi đều bỏ vào túi áo găm kỹ. Tôi cũng rất thường quên bẵng nó, song quái ác thay vào lúc này tôi nhớ ngay đến nó. Tôi chào bà bán hến để ra khỏi đường hẻm tiến về phía cuối cồn. Càng đi trời càng tối. Chẳng mấy chốc tôi đă ở dưới ruộng bắp, cây cao quá đầu. Tôi đâm hoảng sợ và hối hận đă không nghe lời bà bán hến nọ. Song đă quá muộn, tôi không c̣n nhớ đường hẻm dẫn vào nhà bà v́ trên cồn quá nhiều ngơ hẻm. Bóng tối trên ruộng bắp mỗi lúc một quái đản thêm ra, phía sông lại càng vô vọng hơn: không có lấy một ánh đèn trên mặt nước đen ng̣m. Tôi bắt đầu tưởng tượng những con rái cá và cá sấu có thể trườn lên từ phía ấy, và trống ngực tôi đánh liên hồi. Tôi bỗng nảy ra một ư: cứ măi niệm danh hiệu Quan Âm bồ tát, Ngài sẽ đến cứu tôi. Thế là tôi một mực niệm Ngài trong khi rảo bước. Niệm chẳng mấy chốc tôi đă nghe tiếng người trước mắt và thấy hai đóm lửa. Hai người đàn ông không biết từ đâu xuất hiện, đang đi trước mặt tôi một quăng, vừa đi vừa hút thuốc tṛ chuyện. Tôi mừng quưnh, chạy theo gọi: "Bác! Bác!". Họ dừng lại. Một người rẽ vào đường ruộng trong khi người kia đứng chờ tôi. Ông ta hỏi:

- Con cái nhà ai? Đi mô túi (tối) rứa?

- Bác làm ơn chỉ giùm cháu đường đến bến đ̣ sang Vỹ Dạ.

- Đi với bác. Bác cũng qua bên đó. Rồi ông ta gọi lớn qua bên kia sông.

- Bớ đ̣! Đem qua cho về với.

- Ai đó?

- Tui đây, Ngôn đây.

- Tưởng ai. Răng về túi dữ rứa.

Hai bên đối đáp một hồi cho đến khi đ̣ cặp bến và suốt khoảng thời gian chúng tôi qua sông. Th́ ra chuyến đ̣ ngang cuối cùng đă gác mái từ lâu, và chỉ nhờ một dịp may đặc biệt, nhờ gặp người quen với chủ đ̣, tôi mới về nhà được đêm ấy. Tôi quyết tin rằng chính đức Bồ tát đă cứu tôi, và nhờ tôi đă tha thiết khấn niệm hồng danh của Ngài.

Lên bờ tôi vừa đi vừa chạy một mạch đến nhà. Mẹ tôi ngạc nhiên:

- Răng về túi rứa? Mà đem rau trở về nữa?

- Con đi lạc. C̣n rau bán không được. Họ trả có 5 cắc nên con đem về.

- Dại quá, răng không bán quách đi cho rồi, đem về anh mi cũng đổ chớ làm chi.

Cả nhà cười phá lên. Thấy tôi ngơ ngác, chị tôi giải thích:

- Em không nhớ anh cả rất vệ sinh, không bao giờ cho ăn rau hái từ vườn bà Nội à?

- Rứa răng đem bán?

- V́ Tây ăn th́ họ có thuốc sát trùng cẩn thận.

 

~~oOo~~
 

ĐIỆU NHẠC VÔ THANH

(tháng 5 năm 2001)
 

Nghe nói chị đang bệnh, xa xôi không biết phải làm ǵ chỉ c̣n nước niệm Phật cầu nguyện cho chị luôn luôn chánh niệm, sớm b́nh phục. Ước ǵ Trí Hải có thể ở gần bên chị, cầm lấy tay chị mà nói rằng: chúng ta như những ḍng sông cùng đang xuôi về biển cả, người trước kẻ sau nhưng đều sẽ lại gặp nhau trong biển đại nguyện của đức Phật A Di Đà.

Mặc dù ít gặp nhau, Trí Hải vẫn luôn luôn nhớ đến chị và cám ơn Chị đă hết ḷng với bạn bè. Thân xác này sẽ tan ră, nhưng những hành vi đẹp của chị vẫn c̣n măi trong tâm người đă đón nhận bao lâu nó c̣n sống, những hành vi thật đẹp và dễ thương chị đă làm từ lâu xa về trước, mà nhiều lúc chính chị cũng đă quên đi. Dù có đau đớn ǵ, chị cũng cứ nên mỉm cười sung sướng về điều ấy nhé.

Trí Hải cũng đă 64 tuổi, ḍng sông này cũng đă gần ra đến biển, nó đang reo vui trong điệu nhạc vô thanh khi gần tới đích. Sống như du lịch, chết như về lại nhà. Kinh Pháp cú có câu:

Khách lâu ngày ly hương

Cuối cùng về đến nhà

Được người thân chào đón

Thật vui vẻ làm sao!

Cũng thế những việc lành

Chào mừng như thân hữu

Khi giă biệt đời này

Để đi qua đời khác.


 

Trang Ninh Giang Thu Cúc

art2all.net