Ninh Giang Thu Cúc

 

T̀M THẤY G̀

TRONG NHỮNG BÀI THƠ 56 CHỮ CỦA VI KHUÊ

(TRÍCH TỪ BẢN THẢO “NỮ LƯU MIỀN HƯƠNG NGỰ”)
 

 

Thấy ǵ ư? - Dạ thưa, thấy nhiều điều lắm, trước hết chúng ta thấy được mối t́nh lớn của tác giả đối với Đường thi qua bài "Nguyệt Tầm Dương" đă được dùng thay lời tựa ở đầu tập thơ thất ngôn bát cú (TNBC)
 

Và ta thấy được cái sung sướng của mỗi người làm con, cái hạnh phúc cao vời nhất của mỗi chúng ta là có Mẹ để được ấp ủ vỗ về, được thương yêu và để thương yêu, để được khóc cười trên vai mẹ, để được nhớ mẹ trong từng sát na của sự sống hằng ngày. Đối với chúng ta Mẹ là số một; bởi thế mà trong 63 bài thơ ở tập "Thất ngôn bát cú" bài đầu tiên nữ sĩ đă dành: Khóc mẹ

 

Nửa đêm thức dậy nhớ quê hương

Khóc mẹ ngày nao cầu đoạn trường

(Khóc mẹ - Vi Khuê)

 

Chỉ với cặp phá đề ở trên, ta đă thấu hiểu thế nào là nỗi "chín chiều ruột đau" của một người con ở góc biển chân trời đang vọng tưởng, đang xót xa khi thấy "ḷng lăo thân buồn khi tựa cửa"... bức màn tâm tưởng cứ khép mở khép mở hoài cho ta quay quắt với nỗi niềm "Nhà hương khói lạnh" mà xót xa cho t́nh cảm tự thân:

 

Đi mô bỏ mẹ ở nhà

Gối nghiêng ai sửa chén trà ai dâng

(Ca dao)

 

Nhưng cũng có nhiều sự ra đi cao cả vĩ đại hơn đa số những người con gái khác, bởi sao? V́:

 

"Mịt mù bụi cuốn giang san

Th́ thôi một cái hồng nhan kể ǵ"

 

V́ không kể ǵ một cái hồng nhan và v́ quốc gia mất hay c̣n, không phải chỉ riêng đàn ông mới "hữu trách" cho nên Huyền Trân Công chúa đành gạt nước mắt từ giă phụ hoàng mẫu hậu cam phận "chín tháng nằm trong thuyền chài" để được "nhẹ đành tơ liễu nặng v́ quốc gia" cho hai châu Ô Lí nằm trên bản đồ Đại Việt, cho hai dân tộc khỏi gầm ghè khởi chiến binh đao... đại sự viên thành, trung hiếu lưỡng toàn, c̣n niềm đau riêng th́ sao, chao ôi!
 

... “Sao lênh đênh thế - ḍng thu lệ

Luống vơ vàng ôi - nét liễu mày”

(Nhớ - Vi Khuê)

 

Và:

 

..." Trời hành chi rứa năm trăm lẻ

Nghĩ tủi Huyền Trân lạc bước giày"

(Nhớ - Vi Khuê)

 

A ha! Gánh t́nh nặng nhẹ chị em chung!?

 

"Nhớ" - bài thơ thứ 2 là chút tâm t́nh, là ḷng cảm cựu đối với người xưa, đồng thời là nỗi cảm thương thân phận cho bao người "nay." "Khóc mẹ""Nhớ" chỉ là bước dạo đầu cho các cung bậc trên hành tŕnh "Thất ngôn bát cú" của Vi Khuê.

 

"Thạch B́nh Thôn" - nhà thơ Hạnh Phương đă nhận xét và b́nh giải trong một tiểu luận "Đây nhé là Thạch B́nh thôn! Thôn Thạch B́nh là làng nội của nhà thơ Vi Khuê. Sao không là thôn Thạch B́nh? Sao lại là Thạch B́nh Thôn? Ngay cách đặt nhan đề bài thơ đă khiến bạn đọc lâng lâng tiếp xúc được khí hậu của Đường thi".

 

Vâng, Ninh Giang Thu Cúc đồng ư với lập luận của Hạnh Phương!

 

Tôi chạnh nhớ Bạch Cư Dị với: "Cùng một lứa bên trời lận đận", hay gần hơn là Vũ Hoàng Chương: "Lũ chúng ta lạc loài năm bảy đứa..." Vậy cho nên Vi Khuê hay kẻ viết bài này hay Hạnh Phương - chúng ta vẫn là năm bảy đứa lạc loài.. cách nửa ṿng trái đất, tất nhiên đó là sự lạc loài vô hạn, nhưng ở ngay trong ḷng địa phận mang h́nh cong chữ S, chúng tôi vẫn là loài chim di trú để măi vọng về cố thổ trên ngàn dặm thiên di...

 

Nơi chôn nhau cắt rốn, nắng lửa mưa dầu thiên tai dịch họa, cứ đẩy dần đẩy dần những đứa con ra khỏi lũy tre xanh, ra khỏi mái đ́nh làng có cây đa bến nước với muôn ngàn kỷ niệm tuổi thơ ta…

 

Thạch B́nh thôn của Vi Khuê, Gia Độ thôn của Hạnh Phương, hay An Ninh thôn của soạn giả (NGTC) th́ vẫn mang bao bóng dáng h́nh hài ấy, nhưng khác nhau ở chỗ tác giả sử dụng thế nào, sắp xếp ra sao, để tạo dựng nên một thi ảnh như Vi Khuê:

 

Con hói, lênh đênh bèo, sóng giạt

Ŕa bưng, hiu hắt lá, sương sa

Biết bao biển lệ, ḍng mưa cũ

Cả một trời thương, giọt nắng tà

(TBT - Vi Khuê)

 

Bốn câu trên là xương sống của bài "Thạch B́nh thôn" cặp trạng như một bức tranh thủy mặc mà họa sĩ Vi Khuê bằng những nét chấm phá tài t́nh sinh động, cho chúng ta thấy ḍng hói, chiếc bèo đang lênh đênh trên từng đợt sóng nhấp nhô, và cả một dải bưng biền vàng hoa mướp đang căng ḷng đón nhận từng giọt sương nuôi nấng cuộc tồn sinh.

 

Cặp trạng đẹp về thi thuật và chỉnh đốn phân minh về kỹ thuật. Cặp luận buồn như cơi ḷng sương phụ, giữa thương hải tang điền nặng ḷng cố quận nẻo trời xa.

 

Những "bà nội trợ" có tŕnh độ chuyên nghiệp chẳng ai thích đi chợ buổi chiều, dân ta có thành ngữ: "Rau héo chợ chiều" đă cho thấy mặt hàng nào của chợ chiều cũng đều dở ẹt, c̣n rau héo chỉ là cách nói biểu trưng...

 

Cũng có thể tác giả chỉ mượn cảnh chợ chiều thực thể với rau trái cỏ hoa héo xàu khô quắt, với “Rổ cá con lằn xanh đủng đỉnh. Cành bông cái nhặng biếc liêu xiêu...” là để nói đến một cảnh tượng "chợ chiều" khác giữa cuộc bon chen hệ lụy với "kẻ qua người lại dáng đăm chiêu"... đầy hỉ, nộ, ái, ố, dục, lạc chăng?

 

Tôi có chờ đâu có đợi đâu

Đem chi xuân lại gợi thêm sầu

Với tôi tất cả đều vô nghĩa

Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau...

 

Cách đây hơn nửa thế kỷ nhà thơ Chế Lan Viên đă viết những câu thơ về mùa xuân như thế, nghe buồn như buổi chiều trên nghĩa địa... rồi có nhà thơ lại nao nức với mùa xuân, với mưa xuân khi viết:

 

... “Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy

Hội chèo làng Đặng về ngang ngơ

Mẹ bảo: Thôn Đoài hát tối nay”

(NB)

 

Mỗi nhà thơ đều có mỗi cái nh́n về mùa xuân về mưa xuân tùy theo tâm thể, theo hoàn cảnh lúc sáng tác. Ta đọc "Mưa xuân ở Virginia" để cộng cảm và chia sẻ với người thơ xứ Huế đang lưu trú tận trời xa:

 

Mưa xuân tầm tă mấy hôm nay

Chẳng khác trời Nam chút mảy may

 

Có thật chẳng khác hay tác giả cố nghĩ vậy để phỉnh phờ ḿnh cho bớt xót xa, hai câu thực đă cho ta đáp số rơ ràng:

 

Chạnh nhớ cố hương phong cảnh cũ

Vui chi khách địa nước non này

 

Và chúng ta ngậm ngùi theo nỗi khắc khoải vọng tưởng của tấm ḷng người con hướng về mẹ, người chị nghĩ về em:

 

Mẹ c̣n tuổi hạc mong hôm sớm

Em vẫn pḥng thơ đợi tháng ngày

 

Chao ôi! "Sầu biệt ly vơi sớm đầy chiều", Cụ Vũ Bằng mới từ Bắc vào Nam mà đă kêu lên tha thiết như vậy huống ǵ người cách nửa địa cầu...

 

Với người thơ - hai mùa đẹp nhất trong năm có lẽ là mùa Xuân và mùa Thu. Không có người làm thơ nào không ca ngợi vẻ đẹp u hoài của mùa thu khi thấy từng chiếc lá vàng ĺa cành bay lăng đăng ở không trung - gợi cho người thơ bao nỗi nhớ như nỗi nhớ của nhà thơ Vi Khuê.

 

... Nhớ một con thuyền xưa lạc bến

Đau ngh́n trang giấy mới nên chương...

 

Nỗi đau của giấy mực là nỗi đau truyền kiếp của người thơ khi bóp trán t́m vần - vần vẫn bí, cau mày kiếm tứ - tứ không ra, viết th́ có chi khó - nhưng viết để đọng lại chút dư ba trong ḷng người thưởng lăm th́ mới là lẽ cần bàn, giấy đau th́ người viết càng đau gấp bội, đó là sự tương quan máu thịt của nghiệp chướng trời đày. Không vậy mà thuở nọ vào thời kỳ nhà Đường (Trung Đường) Giả Đảo đă khóc khi làm được hai câu đắc ư sau 3 năm thôi xao mài dũa.

 

"Ba năm làm được hai câu

Ngâm lên một dạo lệ đau hai hàng"

 

Cho nên, khi đọc câu thứ 6 ở bài “Thu ở Virginia” soạn giả dựng tóc gáy cho sự khắc nghiệt của loại văn học cổ điển mà một thời đă có một số người mổ xẻ phỉ báng không thương tiếc. Nhưng không sao, chân lư thuộc về mọi người - bởi với một thể loại văn học đă đạt tới đỉnh cao của nhân loại, th́ phi thời gian không gian và cả sự phỉ báng cũng phi hiệu quả, bởi phỉ báng sao được với một loại h́nh nghệ thuật mà phải "Đau ngh́n trang giấy mới nên chương" như nữ sĩ Vi Khuê đă khẳng định bằng bao trải nghiệm xương máu khi đặt bút làm thơ luật Đường kia chứ!?

 

Đọc thơ luật Đường của Vi Khuê ta mới thấy thế nào là "Đau ngh́n trang giấy" bởi tác giả đă bao phen.

 

... "Mượn cay mượn đắng làm gia vị

Vay gió vay mưa để thắng màu..."

(Vốn liếng - Vi Khuê)

 

Tôi thật sự tâm đắc với cặp trạng này ở bài "Vốn liếng", chỉ có phụ nữ mới thẩm thấu tứ thơ này, mới có sự đồng cảm và cộng cảm cao độ với người viết, nghe như nói "ba lơn"cho vui, nhưng mà đau lắm, đau với nhiều tầng ngữ nghĩa, và tài hoa lắm khi hạ bút hai vế “làm gia vị”, “để thắng màu”. Màu là đường nấu trên lửa sôi đến quằn quại, cho đến lúc thành chất nước sền sệt, màu cánh gián để ướp cá kho khô, từ chất nước đường bị cô lại, gần hóa thành caramen ấy lại phục sinh để làm đẹp con cá kho khô hay miếng thịt heo kho tàu, biến hóa khôn lường qua bao lần dầu sôi lửa bỏng, cũng như người làm thơ phải khổ luyện để gạn đục khơi trong từng câu chữ vần điệu, sự so sánh rất bếp núc đơn sơ nhưng lại thâm thúy vô cùng.

 

Về đề tài thân phận, Vi Khuê đă kư thác bao ư t́nh mà đọc đến là thương bởi nghe như có ḿnh trong đó:

 

... “Ba ngh́n đêm trắng tàn hoa nến

Tám chín thu khô úa mộng hời

Nhớ nước trong câu ḥ mái đẩy

Thương ḿnh bên vực thẳm mù khơi”

(Riêng con - Vi Khuê)

 

Người thơ trước hết là viết cho ḿnh, v́ thế không chỉ là thi sĩ nghĩa là ru với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn theo mây, mà họ c̣n gởi gắm nỗi niềm của tự thân:

 

... "Trăng xưa đă khuất đôi bờ liễu

Thềm cũ c̣n in một dấu hài

Giấc bướm tàn theo hồn bướm lạnh

Hoa đào nở cợt - má đào phai"

(Một tiếng đàn - Vi Khuê)

 

Và:

 

... "Mấy chục năm dư sầu vạn cổ

Mười hai bến nước gái thiên kim"

(Tím - Vi Khuê)

 

Như:

 

... "Thương cho con nhạn không liền cánh

Tội chiếc thuyền lan khó thuận dằm"

 

Ở mảng thơ ca ngợi danh nhân của đất nước Việt Nam gồm có 29 bài, cho ta thấy ḷng trân trọng của tác giả dành cho tiền nhân ở mọi lănh vực từ quân sự, với quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo, đến bậc danh thần vị quốc vong thân Nguyễn Tri Phương, đến các nhà chính trị như các cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, các bậc danh y đă đem y thuật để cứu đời, như Hải Thượng Lăn Ông, Tuệ Tĩnh và các văn nhân thi sĩ cận, hiện đại đă đóng góp cho ngôi đền văn học của dân tộc như Bạch Vân Cư Sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm - một kẻ sĩ bất cần danh lợi mà thú hưởng nhàn của cụ khiến bao người tâm phục:

 

... "Thu ăn măng trúc đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp

Nh́n xem phú quư tợ chiêm bao"

 

Và bao gương mặt nữ nhân tài hoa đức hạnh làm rạng danh cho đất nước như một Huyền Trân, một Ỷ Lan, một Đoàn Thị Điểm, với hai vế đối tài hoa trong bộ cánh của một cô hàng bán nước chè xanh:

 

"Bắc quốc chư đại phu

Giai do thử đồ xuất"

 

Với tấm ḷng trân quư dành cho tiền nhân, nữ sĩ Vi Khuê đă viết về họ bằng tất cả sự ngưỡng mộ chân thành, mỗi bài thơ là một nén tâm hương.

 

Và chúng tôi, kẻ hậu sinh hậu học đă đọc tập thất ngôn bát cú với ḷng mến mộ về câu chữ về ư tưởng mà nữ sĩ đă bằng tất cả tâm huyết đă "làm đau ngh́n trang giấy" để có 63 bài Đường luật, đẹp như trăng và trong như sương.

 


 

GIỌT LỆ

(Nxb Giang Châu 1971)
 

... "Ai ngày xưa rơi lệ

Ḿnh nước mắt nhỏ sa

Nhớ thương tràn thương nhớ

Kỷ niệm đầy tha ma"...

(Vi Khuê - 1970)
 

Cầm tập thơ "Giọt lệ" nhiều thể loại trên tay soạn giả đọc lui đọc tới 57 bài thơ toàn tập để t́m đáp số của chủ đề.

 

A! Linh hồn của "Giọt lệ" là đây - là Mẹ già (trang 62)


Mỗi ngày mẹ đón đọc tờ báo
Để t́m trong đó chữ ḥa b́nh
Hai chữ ḥa b́nh nét thật xinh
Màu đen lóng lánh như đôi mắt
Của đứa em thơ của ḷng ḿnh

Mẹ đọc tờ báo trong bóng chiều
Dưới giàn thiên lư nắng xiêu xiêu
Gió lùa hoa biếc rung rinh phất
Tóc bạc trên đầu cũng phất theo

Mẹ đọc tờ báo mười lăm năm
Tự ngày tóc mẹ c̣n xanh mái
C̣n sáng trên gương mặt nguyệt rằm
Cho đến bây giờ xuân đă tắt
Trên giàn thiên lư đă mưa giăng
Thời gian của một trang tài sắc
Vương Thúy Kiều xưa - đă đoạn tràng

(Mẹ già - Vi Khuê)

 

Mẹ già là nguyên nhân để Vi Khuê đổ lệ, để tất cả con dân có một chút tâm huyết với Mẹ già đều đổ lệ.

 

Vâng, chúng tôi hiểu (theo cách hiểu của chúng tôi) rằng Mẹ già đây không phải duy nhất là người mẹ riêng của mỗi chúng ta mà là Mẹ Tổ quốc, Mẹ Việt Nam đang khổ đau khi đêm đêm trằn trọc nghe tiếng đại bác vọng về từ mọi vùng chiến trận, đang xé ḷng nh́n những đứa con ruột thịt chia ĺa trong khói lửa chiến tranh, đầu rơi máu chảy, nhà trống vườn hoang, cảnh điêu tàn chết chóc cứ hiển hiện hằng ngày, cơ thể Mẹ tả tơi đầy thương tật, tâm hồn Mẹ - tấm dư đồ rách nát tang thương. Mẹ trông chờ đến ṃn mỏi, đến tóc bạc da mồi, đến xuân đă tắt, mưa đă giăng, xuân sắc Mẹ c̣n ǵ khi cầu đoạn trường vẫn sừng sững cách chia niềm ruột thịt... năm xuất bản tập Giọt lệ (1971) - đó là những năm tháng mà chiến tranh Việt Nam đang ở cao trào. Mẹ Việt Nam - "Mẹ già" của Vi Khuê đang thắc thỏm:

 

Mỗi ngày mẹ đón đọc tờ báo

Để t́m trong đó chữ ḥa b́nh

Hai chữ ḥa b́nh nét thật xinh

Màu đen lóng lánh như đôi mắt

Của đứa em thơ của ḷng ḿnh

 

Ôi! Mẹ! Mẹ Việt Nam! Vi Khuê và tất cả con dân Việt Nam đang mong đợi: hai chữ H̉A B̀NH!
 

 

Ninh Giang Thu Cúc

 

 

 

 

Trang Ninh Giang Thu Cúc

art2all.net