PHẠM Đ̀NH LÂN, F.A.B.I.

 

NGƯU TỘC TÂM T̀NH

 

       

Một nhạc sĩ chuyên sáng tác nhạc hài hước họ Ngưu tŕnh bày bản "Ngưu Là Trâu Hay Là Ḅ?" khiến cho hội trường trở nên nhộn nhịp. Đại biểu các tộc động vật cười nghiêng ngả. Bản Ngưu Là Trâu Hay Ḅ? vừa dứt th́ bản Đàn Khảy Tai Trâu trổi lên. Một đại biểu tộc Tê Giác cười đến tắt thở mà chết. Chủ tịch Sư Tử hỏi các bác sĩ Bồ Câu Trắng đại biểu Tê Giác tộc chết v́ bịnh ǵ? Một bác sĩ trưởng Bồ Câu Trắng cho biết ông ấy bị bịnh Tŕnh Giảo Kim mà người Pháp gọi là bịnh Voltaire (Maladie Voltairienne). Chủ tịch Sư Tử hỏi vị bác sĩ chăm sóc sức khỏe cho ông ta về bịnh Tŕnh Giảo Kim hay Maladie Voltairienne nhưng vị bác sĩ này không thấy chứng bịnh này trong Từ Điển Y Khoa. Nghe nói hai lăo Tŕnh Giảo Kim và Voltaire v́ cười nhiều quá mà chết. Lăo Tê Giác vừa rồi chết v́ cười nhiều quá độ! Vị bác sĩ tư của Chủ tịch Sư Tử nói.

Cuộc vui bỗng trở nên buồn.  Hỉ, nộ, ái, ố đều có những hậu quả không mấy tốt đẹp.  Bầu không khí trở nên nặng nề.  Chủ tịch Sư Tử ra lịnh cho Bồ Câu bay đi Phi Châu báo tin buồn cho gia đ́nh Tê Giác; thi sĩ Dế chuẩn bị điếu văn; nhạc sĩ Ve soạn bản nhạc cầu hồn. Ra lịnh đến đây th́ trưởng lăo Hồ tộc đến rỉ tai Chủ tịch Sư tử: "Chủ tịch ơi!  Sao ông quá lo lắng về cái chết của thằng Tê Giác?  Ông ra lịnh cho thằng Bồ Câu tung tin ra Hong Kong hay Bắc Kinh cho họ biết có một Tê Giác hai sừng chết v́ cười khi nghe bản Đàn Khảy Tai Trâu.  Vậy ai muốn mua sừng Tê Giác cho biết giá để giao dịch.  Thế là hội nghị có tiền để trang trải mọi chi phí.” Chủ tịch Sư Tử tỏ ra đắc ư với đề xuất của trưởng lăo Hồ tộc.  Ông ấy tự nhủ:  "Ḿnh ở Phi Châu nên không lanh lợi bằng tụi thằng Hùm, thằng Hồ ở Á Châu. "   

Ban Tổ Chức giải quyết xong về cái chết đột ngột của trưởng lăo Tê Giác theo đề nghị của trưởng lăo Hồ tộc.  Đại diện Ngưu tộc được mời lên diễn đàn để lên án loài người về cách đối xử của họ đối với Ngưu tộc.  Đại diện Ngưu tộc là trưởng lăo Ḅ Zebu Ấn Độ to lớn, sừng dài, mặc quần áo trắng trông uy vệ.

****

Tôi, trưởng lăo Ngưu tộc Zebu Ấn Độ, là đại diện của Ngưu tộc thế giới trong Hội Nghị Quốc Tế Động Vật lên án tội ác của loài người.  Người Việt Nam gọi chúng tôi là B̉ hay văn vẻ hơn là NGƯU.  Đa số người Việt Nam cho rằng Ngưu là Trâu.  Có học giả Hán học gọi Ḅ là Huỳnh Ngưu và Trâu là Thủy Ngưu v́ Ḅ thường quần áo màu vàng.  Thực tế cũng có các anh chị Ḅ mặc quần áo đen, trắng, và đen trắng hay đen, trắng, vàng.  Các anh chị Trâu, bà con gần của chúng tôi ở miền sông nước, đầm lầy.  Ḅ, Trâu, Trâu Yak, Ḅ Bison đều là động vật ăn cỏ, nhai lại, có xương sống, có máu đỏ, có vú, sinh con thuộc gia đ́nh Bovidae.  Tôi lần lượt nói qua về Ḅ, Ḅ Bison, Trâu, Trâu Yak.

 

Tên khoa học của Ḅ chúng tôi là Bos taurus, Bos indicus, Bos primigenius thuộc gia đ́nh Bovidae.  V́ chúng tôi sớm gần gũi với loại người và giúp ích rất nhiều cho loài người nên loài người dành cho chúng tôi nhiều tên gọi.  Người Việt Nam gọi chúng tôi là Ḅ; Huỳnh Ngưu.  Người Anh và Pháp gọi chúng tôi qua nhiều tên gọi rất phân biệt:

Quốc Gia

Ḅ Nam

Ḅ Thiến

Ḅ Nữ

Ḅ Con

Anh

Bull

Ox, Steer

Cow

Calf

Pháp

Taureau

Boeuf

Vache

Veau

 

Về nguồn gốc của chúng tôi, người ta cho rằng tổ tiên chúng tôi là Ḅ Aurochs trên lục địa Âu, Á và Bắc Phi đă tuyệt chủng.  Tên khoa học của các vị này là Bos primigenius thuộc gia đ́nh Bovidae.

Ở Âu Châu có Ḅ Taurine Bos taurus taurus, hậu duệ của Ḅ Aurochs.  Ḅ Taurine được loài người nuôi trong vùng Lưỡng Hà Châu ở phía đông nam Thổ Nhĩ Kỳ và bắc Iraq cách đây 10,500 năm.

Ḅ Zebu ở Ấn Độ Bos indicus cũng là hậu duệ của Ḅ Aurochs.

Chúng tôi là động vật ăn cỏ, nhai lại, có xương sống, có máu đỏ, có vú và sinh con.  Ḅ và các thân thuộc gần như Trâu, Ḅ Bison đều có sừng.  Chúng tôi là động vật ăn cỏ to lớn như Voi, Tê Giác, Hà Mă.  Chân móng guốc.  Hai chân sau to lớn và mạnh hơn hai chân trước.  Bao tử có 04 túi của động vật nhai lại.  Các chị Ḅ ăn mỗi ngày 06 tiếng đồng hồ và mất 08 tiếng đồng hồ để nhai lại các thức ăn thuần cỏ, lá cây, lá mía, xơ mít v.v.  Các anh chị Ḅ đều có cặp sừng trên đầu.  Sừng của các anh Ḅ Mộng dài hơn sừng của các chị Ḅ kéo cày và các anh Ḅ Thiến.  Các anh Ḅ Thiến mất dương tính.  Các anh ấy mập mạp nhưng không mạnh như các anh Ḅ Mộng.  Sừng là vơ khí của các anh Ḅ.  Đối với nông dân và người chăn nuôi Ḅ bị Ḅ cụng, Ḅ đá hay Ḅ đạp là những tai nạn nghề nghiệp có thể dẫn đến tử vong.  Chuyện này cũng dễ hiểu thôi.  Mỗi anh Ḅ dài trên 2 m kể cả đuôi và cân nặng từ 750 ki- lô đến 800 ki-lô.  Trọng lượng trung b́nh của một nông dân Việt Nam không đến 50 ki-lô và cao lối 1.60 m.  Nếu bị một anh Ḅ 700- 800 ki- lô đạp, đá hay húc th́ không chết cũng bị bịnh hầu kinh niên.

Tuổi thọ của tộc Huỳnh Ngưu chúng tôi xê dịch từ 20 đến 25 tuổi.  Trên thực tế tuổi thọ chúng tôi không cao như vậy.

1.  Trong trạng thái hoang đă chúng tôi bị bọn Sư Tử, Cọp, Beo, Chó Sói xé xác, ăn tươi nuốt sống.    

2.   Trong trạng thái được thuần hóa chúng tôi phải làm lụng cực nhọc mỗi ngày.  Khi th́ cày, khi th́ bừa, lúc th́ kéo xe chở nông sản và nông cụ nặng cân đi trên những đoạn đường dốc gồ ghề hay trên những đoạn đường cát nóng bức.  Thức ăn chúng tôi có ǵ ngoài nắm cỏ khô vàng úa?  Hôm nào có xơ mít hay là mía chúng tôi c̣n có chút chất ngọt trong ḿnh.  Thông thường chỉ ăn cỏ hay rơm rạ vô hương, vô vị.  Do đó ở tuổi 10- 15 đa số Huỳnh Ngưu chúng tôi đều bị bịnh lao.  Có lẽ quí vị có nghe người Việt Nam nói:  Dở như phổi Ḅ?  Đó là lời nhắn nhủ đừng ăn phổi Ḅ v́ có trùng lao đó!

3.   Ở các nước kỹ nghệ, nông nghiệp được cơ giới hóa.  Chúng tôi không c̣n vai tṛ ǵ trong xă hội loài người.  Loài người lập trại chăn nuôi Ḅ để lấy thịt, sữa và da.  Do đó tuổi thọ của Huỳnh Ngưu bị rút ngắn.  Thịt Huỳnh Ngưu c̣n tơ mới ngon.  Càng già thịt trở nên dai.  Ḅ già và lao động nhiều càng dễ nhiễm trùng lao.

Tuổi yêu đương của Huỳnh Ngưu tộc là 2 cho nữ Huỳnh Ngưu và 3 tuổi cho nam Huỳnh Ngưu.  Các nhà động vật học cho biết nam Huỳnh Ngưu 07 tháng tuổi có đủ tinh dịch để ham muốn ái ân với nữ Huỳnh Ngưu.  Nhưng họ cũng cho biết tinh trùng của nam Huỳnh Ngưu đảm bảo sự thụ thai khi b́u ngoại thận (scrotum) đo được từ 35 đến 40 cm.  Thời gian mang thai của các chị Huỳnh Ngưu là 283 ngày tức 09 tháng 13 ngày tương đương với thời gian mang thai của loài người.

Các nhà đấu Ḅ (Matador) ở Tây Ban Nha và các nước Trung Mỹ và Nam Mỹ dùng khăn màu đỏ để làm cho Ḅ tức giận nhảy bộ tới húc anh ta.  Như vậy Huỳnh Ngưu không thích màu đỏ.  Ở Việt Nam Ḅ được nuôi ở nông thôn nơi nông dân mặc quần áo màu đen (Nam Bộ) hay màu nâu (Bắc Bộ).  Ḅ quen với hai màu nầy nên gặp các màu khác đặc biệt là màu trắng Huỳnh Ngưu tỏ ra khó chịu.

Ḅ ở Việt Nam có màu sắc và h́nh dáng giống Ḅ Banteng Bos javanicus được t́m thấy nhiều ở Indonesia, Thái Lan, Mă Lai, Miến Điện, Lào, Cambodia, Ấn Độ.

  Ở Phi Châu có Ḅ Ankole.  Các chị Ḅ Ankole có sừng dài hơn các anh.  Ḅ hoang ở Phi Châu là Ḅ Gnu hay Wildebeest (Thú hoang) sừng giống sừng Trâu;  đuôi giống đuôi của Ngựa; thân ḿnh của Ḅ.  Tên khoa học của Ḅ hoang Gnu là Connochaetes taurinus.

Các giống Ḅ thường thấy ở Âu- Mỹ là Ḅ Holstein- Friesian, Ḅ Jerseys và Guernseys, Ḅ Herefords, Ḅ Aberdeen Angus ở Scotland là Ḅ không có sừng.

 

 

Ḅ Bison ở Bắc Mỹ và Âu Châu là những thân thuộc có vóc dáng của Ḅ và Trâu.  Người Anh gọi Ḅ Bison là American buffalo (Trâu Mỹ Châu).  Tên khoa học của các anh chị Ḅ Bison là Bison bison, Bos americanus, Bos bison thuộc gia đ́nh Bovidae.  Sừng của các anh chị nầy ngắn nhưng thân h́nh các anh Ḅ Bison nở ở phần vai.  Các anh ấy mặc quần áo dày luộm thuộm v́ địa bàn sống của các anh chị Bison là miền ôn đới hay bán hàn đới.  Ḅ Bison càng ngày càng giảm dân số.  Tộc Bison sống hoang dă lối 15,000.  Được các nông trại tư gia nuôi lối 500,000 anh chị Ḅ Bison và lối 30,000 đơn vị được nuôi trong các trại chăn nuôi chánh phủ trong khi số Huỳnh Ngưu trên thế giới lên đến 1.5 tỷ đơn vị.  Các anh chị Ḅ Bison sống trong trạng thái hoang dă trong Công Viên Quốc Gia Yellowstone, tiểu bang Wyoming.  Quần áo các anh chị Bison mặc màu Đen + màu hung đỏ + màu Vàng. Đó là màu quần áo của các anh chị Trâu và Ḅ.  Các chị Ḅ Bison mang thai khoảng 270 ngày th́ sinh một con.  Hiếm khi các chị Ḅ Bison hay Huỳnh Ngưu chúng tôi sinh hai con.

Các anh chị Ḅ Bison không đến nỗi gian khổ như Huỳnh Ngưu chúng tôi.  Các anh chị Bison không phải kéo cày, bừa hay kéo xe nặng nhọc.  Các anh chị ấy sống hoang dă trong Công Viên Quốc Gia Yellowstone để du khách ngắm nh́n và chụp ảnh.  Khi đại gia đ́nh Bison đi ngang qua đường, xe cộ phải dừng lại.  Nói như vậy không có nghĩa là là loài người thực sự tử tế với tộc Bison.  Người ta vẫn hạ thịt các anh chị ấy để bán steak với giá cao hơn steak bằng thịt Huỳnh Ngưu chúng tôi!

Bây giờ tôi xin nói qua về thân thuộc khác của chúng tôi.  Đó là các anh chị TRÂU.    

Nếu Huỳnh Ngưu chúng tôi và Ḅ Bison là thân thuộc gần th́ các anh chị TRÂU tức THỦY NGƯU có các anh chị TRÂU YAK là thân thuộc gần.  Tất cả chúng tôi đều họ NGƯU và thuộc gia đ́nh Bovidae.

 

TRÂU

 

Trâu Yak sống ở Hi Mă Lạp Sơn, Tây Tạng, Mông Cổ, Nga và các nước Trung Á. Người Anh gọi các anh chị ấy là Yak âm theo tiếng Tây Tạng.  Tên khoa học của các anh chị Trâu Yak là Bos grunniens (Ḅ càm ràm- grunting bull).  Trâu Yak trong rừng mang tên khoa học Bos mutus (Ḅ câm- silent bull).  Có lẽ mấy anh chị Trâu Yak được loài người thuần hóa và bị loài người bóc lột công sức quá nhiều nên bất măn cằn nhằn chăng?  C̣n các anh chị Trâu Yak sống hoang đă không có ǵ để than phiền nên im lặng?

Trâu Yak có vóc dáng như Thủy Ngưu:  quần áo đen, sừng cong và dài, tướng đi chậm chạp, lừ đừ.  V́ sống trên cao độ và vùng lạnh nên các anh chị mặc quần áo dày và dài.  Quần áo của họ có các màu: đen, xám, hung đỏ- đen.  Các anh chị Trâu Yak sống bằng cỏ và các loài hoa dại, lá cây trên cao độ từ 4,000 đến 6,000 m.  Chiều dài trung b́nh của các anh chị Trâu Yak xê dịch từ 1.60 m đến 2.30 m.  Các anh dài và nặng cân hơn các chị.  Các anh Trâu Yak có sừng dài hơn các chị.  Trọng lượng của các anh Yak xê dịch từ 350- 580 ki- lô.  Trọng lượng trung b́nh của các chị xê dịch từ 225- 270 ki- lô.  Tuổi yêu đương của tộc Yak cũng giống như tuổi yêu đương của Thủy Ngưu tức 3- 3 1/2 tuổi.  Thời gian mang thai từ 260 đến 270 ngày tức khoảng 09 tháng.  Từ năm 1960 đến 1990 dân số tộc Yak sụt giảm 30%.  Đến năm 1995 tộc Yak chỉ c̣n khoảng 15,000 đơn vị.  Cuộc đời của các anh chị Trâu Yak cũng không có ǵ sung sướng.  Sống trên nóc nhà thế giới giá buốt,  thức ăn không dồi dào.  Các anh chị ấy phải phục dịch cho loài người đủ thứ:  chuyên chở hàng nặng cho họ trên núi, cao nguyên hiểm trở; cung cấp sữa cho họ sống và làm bơ, phô- mai mà người Tây Tạng gọi là Chhurpi;  người Tây Tạng dùng phân phơi khô của các anh chị Trâu Yak để làm chất đốt.  Vào những ngày lễ ở Tây Tạng người ta tổ chức đua Trâu Yak.  Giai đoạn cuối của cuộc đời là bị loài người xẻ thịt để ăn thịt, lấy da, lấy sừng và sạn mật nếu có.

 

 

Thủy Ngưu mang tên khoa học Bubalus bubalis thuộc gia đ́nh Bovidae.

Quốc Gia

Tên Gọi

Việt Nam

Trâu; Thủy Ngưu (Hán- Việt)

Anh

Water buffalo

Pháp

Buffle, Buffle d’eau

Trung Hoa

Shuiniu (Thủy Ngưu)

 

Gọi là Thủy Ngưu v́ các anh chị ấy thuộc tộc Ngưu nhưng thích dầm ḿnh dưới nước.  Đặc điểm này cho thấy sự khác nhau giữa Trâu và Ḅ.  Ḅ mặc quần áo vàng, trắng, đen hay áo vá trắng- đen, trắng- hung đỏ,  trắng- đen- vàng.  Trâu mặc quần áo đen.  Trâu mặc quần áo trắng rất hiếm.  Đó là các anh chị Trâu C̣ thường thấy ở Lào và Thái Lan.  Nông dân Việt Nam chê các anh chị Trâu C̣ không hữu dụng bằng các anh chị Hắc Thủy Ngưu trong công việc đồng áng.  Thủy Ngưu được t́m thấy nhiều ở Nam Á, Đông Nam Á, Trung Hoa, Nam Mỹ, Phi Châu và Nam Âu Châu nơi có sông nước và đầm lầy.  Ở Đông Nam Á Châu có Trâu Rừng mang tên khoa học Bubalus arnee.  

Người ta phân biệt: Trâu Sông (Hy Lạp, Ư, Ai Cập) và Trâu Đầm Lầy (Ấn Độ, Đông Nam Á, Đông Bộ Trung Hoa).  Thủy Ngưu được người Ấn Độ thuần hóa và dùng vào công việc đồng áng cách đây 5000 năm.  Từ thung lũng sông Indus (bây giờ nằm trên lănh thổ xứ Pakistan) Trâu được bán sang vùng Lưỡng Hà Châu (Mesopotamia), hay nói chính xác hơn xứ Iraq bây giờ, vào năm 2500 trước Tây Lịch.

Thủy Ngưu to lớn hơn Huỳnh Ngưu và có sừng dài hơn sừng của Huỳnh Ngưu.  Trọng lượng trung b́nh của Thủy Ngưu xê dịch từ 700 ki- lô đến 1,200 ki- lô.   Thủy Ngưu kéo cày, bừa dưới ruộng lầy khoẻ hơn Ḅ.    

Tuổi thọ của Thủy Ngưu tương đương với các anh chị Ḅ.  Nhưng tộc Thủy Ngưu có nhiều chứng bịnh khiến cho dân số Thủy Ngưu không bằng Ḅ.  Tộc Thủy Ngưu có nhiều chứng bịnh như tiêu chảy (Scours do trùng E. coli gây ra), đau rún, sưng phổi, trùng lăi trong phổi, trùng Strongylus vulgaris trong máu, máu thiếu magnesium (hypomagnesemia).    

Tuổi yêu đương của Thủy Ngưu bắt đầu từ 2 đến 3 tuổi.  Tinh trùng của các anh Thủy Ngưu khá yếu, đôi khi không đủ sức tạo thai sau một lần ái ân!  Thời gian mang thai của các chị Thủy Ngưu kéo dài từ 310 ngày đến 330 ngày.  V́ vậy phụ nữ của loài người mang thai quá 09 tháng 10 ngày mà chưa sinh được gọi là có chửa Trâu.    

Hiện nay trên thế giới có 172 triệu Thủy Ngưu so với 1.5 tỷ Huỳnh Ngưu.  Ấn Độ chiếm 56.5% tổng số Thủy Ngưu nầy tức 97.9 triệu Thủy Ngưu.  Ở Ấn Độ có các loại Thủy Ngưu nổi tiếng như Murrah, Nili- Ravi, Badhawari, Jafarabadi, Nagpur, Toda v.v.  Pakistan có 23.47 triệu Thủy Ngưu; Trung Hoa: 22.76 triệu Thủy Ngưu; Phi Luật Tân: 3.2 triệu; Việt Nam: 3 triệu v.v.

****

Huỳnh Ngưu và Thủy Ngưu được loài người sớm thuần hóa.  Vài chục thế kỷ trước loài người xem chúng tôi là máy cày, máy bừa, máy xới và xe vận tải.  Chúng tôi mang sự no ấm cho họ.  Thủy Ngưu làm lụng dưới ruộng lầy và chuyên chở nhiều hàng hoá hơn Huỳnh Ngưu nên loài người trong thời kỳ kinh tế nông nghiệp chưa cơ giới hóa xem trọng Thủy Ngưu hơn Huỳnh Ngưu.  Có nơi người ta nói Thủy Ngưu là Phật Bồ Tát!!  Vào thời kỳ kỹ thuật thô sơ việc giết hại Huỳnh Ngưu hay Thủy Ngưu bị xem là một trọng tội v́ giết hại tộc họ Ngưu th́ loài người có khả năng bị chết đói hay phải tự kéo cày, kéo bừa để trồng trọt và kéo xe chở hàng ra chợ bán. Ở Ấn Độ người ta xem Huỳnh Ngưu ḍng Zebu là vật thiêng.  Họ xem Huỳnh Ngưu là nhân tố tạo lương thực, là tài sản, là biểu tượng của sự sống.  Nữ Huỳnh Ngưu là hiện thân của nữ Thần Devi.  Người Ấn Độ không ăn thịt Huỳnh Ngưu nhưng uống sữa, ăn bơ, phô mai, dùng nước tiểu và phân của Huỳnh Ngưu.  Phân dùng để bón cây, làm chất đốt.  Nước tiểu của các nữ Huỳnh Ngưu được xem là linh dược bày bán với giá cao hơn cả sữa tươi của Ḅ!

Ấn Giáo, đạo Jain, đạo Zoroastria (đạo cổ ở Iran) cấm tín đồ không được ăn thịt Huỳnh Ngưu.

Ở Ai Cập cổ người ta xem Huỳnh Ngưu là nữ Thần Hathor.  Ngưu Thần Hapi được thờ ở Memphis (Ngưu Thần đây là Ḅ chớ không phải Trâu)

Thần Enlil là Ngưu Thần của Sumer cổ (phía nam Lưỡng Hà Châu tức Iraq bây giờ).

Trong huyền thoại Hy Lạp có đề cập đến đàn Ḅ của Thần Thái Dương Helios ăn cỏ trên đảo Thrinacia tức đảo Sicily của Ư.  Quái vật Minotaur trong huyền thoại Hy Lạp có đầu Ḅ, ḿnh người.  Đó là con đẻ của hoàng hậu Pasiphae trên đảo Crete và một con Ḅ.  Quái vật Minotaur được giấu trong cung riêng biệt.  Cứ 09 năm phải đem 07 thanh nam và 07 thanh nữ đến Athens cho con quái vật nửa người nửa thú nầy ăn thịt.  Huyền thoại Hy Lạp cho thấy Thần Zeus tức Thần Jupiter của La Mă được một nữ Huỳnh Ngưu nuôi.

Trong Cựu Ước Kinh Huỳnh Ngưu được nhắc đến rất nhiều trong sách Genesis, Exodus, Leviticus, Numbers, Deuteronomy, Joshua, Joel, Job, Haggai, Zechariah và trong Luke, John của Tân Ước Kinh.  Giấc mộng 07 con Ḅ mập và 07 con Ḅ ốm của vua Ai Cập được Joseph đoán là 07 năm thịnh vượng và 07 năm đói kém.

Khái niệm Thủy Ngưu là Phật Bồ Tát là khái niệm mà Việt Nam học từ Trung Hoa.  Ngày 07 tháng 07 Âm Lịch được xem là ngày mưa Ngâu trong chuyện Ngưu Lang (Niu Lang)  - Chức Nữ (Zhi Nu).  Trong 12 con giáp của Âm Lịch Trung Hoa Trâu đứng sau Chuột và Cọp.  Năm Thủy Ngưu được gọi là năm Sửu.  Trong la bàn Tử Vi Tây Phương có cung Huỳnh Ngưu Taurus cho người sinh từ ngày 20-04 đến 20-05.  Cung Taurus nằm sau cung Aries và trước cung Gemini.

Huỳnh Ngưu và Thuỷ Ngưu đều lao động cực khổ nên phổi dễ bị nhiễm trùng lao.  Nói theo thời đại kỹ thuật ngày nay chúng tôi là máy cày, máy xới, máy bừa và xe vận tải chở nông sản.  Xe Ḅ, xe Trâu vẫn c̣n là phương tiện giao thông vận tải quan trọng ở các quốc gia nông nghiệp chậm tiến Á- Phi và Châu Mỹ La Tinh.  Vào thế kỷ XIX nhà thơ Nguyễn Công Trứ ngao du sơn thủy bằng xe Ḅ.  Họ Ngưu làm lụng nặng nhọc như vậy mà c̣n bị nông dân cầm cây đánh đập không một chút thương tâm chỉ v́ làm sai lời điều khiển "Thá", “Ví" của họ.  Đến những ngày lễ hội lớn loài người ở các nước nông nghiệp ở Nam Á, Đông Nam Á bắt Ḅ, Trâu chúng tôi chạy đua hay cụng lộn với nhau đến bể đầu, lủng bụng mà chết!  Ở Tây Ban Nha và các nước Trung Nam Mỹ c̣n tổ chức đấu Ḅ.  Các hiệp sĩ thắng trận (Matador) sau khi giết chết Ḅ được xem như anh hùng.

Khi già yếu không c̣n sức lao động loài người không ngần ngại giết Ngưu tộc để xẻ thịt.  Đó là lúc họ nói:  Ḅ ngă nhiều gă cầm dao.  Người ta ăn thịt Ḅ, uống sữa Ḅ, dùng sữa Ḅ làm bơ, phô- mai (fromage- cheese), dùng phân Ḅ, phân Trâu làm phân bón hay chất đốt.  Da Ḅ, da Trâu làm da thuộc, bịt trống; sừng Trâu, Ḅ làm tù và để thổi.  Đôi khi người ta dùng sừng Trâu thay thế sừng Tê Giác trong Đông Y trị liệu.  Sạn trong túi mật của Huỳnh Ngưu hay Thủy Ngưu được gọi là Ngưu hoàng (Niu-huang, Bezoar) dùng để tẩy độc chất trong cơ thể trong Đông Y và làm thuốc hượt trường, tiết mật, hạ nhiệt, trị co giật, cao huyết áp trong Tây Y.  Ngưu hoàng (bezoar, ox gallstone) có hợp chất bilirubin C33 H36 N4 O6.  Các anh chị Ḅ có Ngưu hoàng thường đứng ngó mặt trời.  Ở Ấn Độ người ta uống nước tiểu của các nữ Huỳnh Ngưu để thanh sạch cơ thể và trị bịnh tiểu đường, phong hủi, ung thư, ho lao theo phương pháp trị liệu cổ truyền ghi trong cổ thư Ayurveda cách đây 5000 năm.  Nước tiểu này gọi là Gomutra.  Người ta cho rằng các chị nữ Huỳnh Ngưu mang thai nước tiểu có nhiều kích thích tố và khoáng chất.  Cũng có người cho rằng chỉ uống nước tiểu của các trinh nữ Huỳnh Ngưu mà thôi, và nước tiểu trinh nữ Huỳnh Ngưu phải lấy vào lúc rạng đông.  Ở Miến Điện và Nigeria cũng có cách trị liệu bằng nước tiểu của các nữ Huỳnh Ngưu.  Ở Phi Châu có nơi người ta tắm hay gội đầu bằng nước tiểu nữ Huỳnh Ngưu.  Cách trị liệu bằng nước tiểu nữ Huỳnh Ngưu (Gomutra)   khó chinh phục các nhà y học Âu- Mỹ.

Loài người thích ăn thịt Ḅ và uống sữa Ḅ hơn thịt Trâu và sữa Trâu.  Trong truyện Tàu mỗi khi mở tiệc người ta lại giết Trâu.  Người Thượng trên Cao Nguyên Nam Trung Bộ và người thiểu số ở thượng du Bắc Bộ cũng thích ăn thịt Trâu.  Người Ấn Độ, Pakistan dùng sữa Ḅ lẫn sữa Trâu.  Người Anh gọi thit Ḅ là beef và thịt Trâu là carabeef hay buffen.  Thịt ngon và mềm là thịt Bê (Ḅ Con) gọi là veal.  Các quốc gia Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Bangladesh Ư, Nga, Ai Cập, Bulgaria nuôi Trâu để ăn thịt.  Thịt Trâu màu không tươi như thịt Ḅ.  Mỡ thịt Trâu màu trắng sữa.  Mỡ thịt Ḅ màu vàng- trắng.  Xương Trâu cứng hơn xương Ḅ.  Người Ấn Độ và Hồi Giáo trên lục địa Ấn Độ đều ăn thịt Trâu.  Ấn Độ là quốc gia xuất cảng nhiều thịt Trâu nhất thế giới.

Thịt Ḅ được dùng để nấu phở, Ḅ kho, Ḅ sa-tế, Ḅ lúc lắc, Bê thui tương gừng, ḷng Ḅ ăn với khế, chuối chát, rau thơm và mắm nêm, nấu ra- gu, món steak (ḅ bíp- tết), Chateaubriand steak, làm thịt hộp, thịt hamburger v.v.    

Thịt Ḅ ngon được truyền tụng là thịt Ḅ Kobe hay Wagyu tức Huỳnh Ngưu Nhật Bản.  Ḅ Kobe được lai từ 04 giống Ḅ:

1. Ḅ màu hung đỏ Akashi + 2. Ḅ đen Kuroge Washu + 3. Ḅ không sừng Mukaku Washu + 4. Ḅ sừng ngắn Nihon Tankaku Washu.    

Thịt Ḅ Kobe ngon loại A-5 giá $US1,200 / pound (pound: 453 grams)!  Người ta cho rằng các anh chị Ḅ Kobe được nuôi bằng thức ăn đặc biệt, uống rượu sake, rượu bia, được đấm bóp và nghe nhạc.

Huỳnh Ngưu và Thuỷ Ngưu phục vụ cho loài người, tiết kiệm công sức lao động cho họ, mang no ấm cho họ.  Họ đă đối đăi với chúng tôi như đă thấy ở phần trên.  Chẳng những thế họ c̣n khinh bỉ chúng tôi bằng những ngôn từ không mấy tốt đẹp.  Nào là ngu như Ḅ, như Trâu; lỳ như Ḅ. Nào là cực khổ như Trâu.  Nào là Đàn khảy tai Trâu, kiếp Trâu Ngựa.  Rồi dùng h́nh ảnh chúng tôi để chọc ghẹo lẫn nhau:

Thấy anh hay chữ thử hỏi đôi câu.

Thuở xưa ông vua Thuấn cày Trâu hay Ḅ?

Ăn cái ǵ dở th́ nói là Dở như phổi Ḅ.    

Những người nhút nhát bảo thủ nghề nghiệp của cha, ông và bám sát nơi chôn nhau cắt rún bị chê là Ḅ chết chẳng khỏi rơm.    

Người ta dùng cụm từ Ḅ chết chờ khi khế rụng để nói về sự rủi ro của người này là cái may của người khác.

Mang thai 09 tháng 10 ngày mà chưa sinh th́ gọi là Có chửa Trâu.  Người mạnh th́ gọi là Mạnh như Trâu cui.    

Sự đụng độ giữa hai kẻ lớn là sự thiệt tḥi kẻ nhỏ.  Đó là cảnh Trâu, Ḅ húc nhau Ruồi, Muỗi chết.    

Kẻ phi nhân, phi nghĩa là kẻ có Ḷng Trâu dạ Chó.    

Tính toán sai lầm gây lỗ lă th́ nói: Trật con toán bán con Trâu.    

Sự ganh tỵ giữa kẻ có người không có được gói ghém trong câu Trâu cột ghét Trâu ăn.    

Trâu cột th́ ghét Trâu ăn,

Quan vơ th́ ghét quan văn dài quần

Trâu béo kéo Trâu gầy nói lên sự cán đáng công việc kéo cày của Trâu mạnh thay cho Trâu yếu.  Trong xă hội loài người người giỏi, siêng năng, cần mẫn thường làm luôn công việc cho người kém khả năng hay lười biếng.

Người chậm chạp thiếu óc bon chen được ví với Trâu chậm uống nước đục.

Cùng cảnh ngộ mà người đồng hành của ḿnh bị hại th́ đừng lấy đó làm vui.  V́ trước sau ǵ ḿnh cũng giống như anh ấy.  Đó là cảnh Trâu Chết, Ḅ cũng lột da.    

 Thái độ thủ lợi của người ích kỷ trước cái khổ, cái chết của người khác được gởi gắm trong câu Trâu chết mặc Trâu, Ḅ Chết mặc Ḅ, củ tỏi giắt lưng.  Đó là chuyện Sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi.    

Các bà nội trợ Việt Nam cho rằng Trâu teo, Heo nở.    

Khi hữu sự ḿnh đi t́m người giúp chớ đừng nghĩ rằng người giúp đi t́m ḿnh.  Đó là cảnh Trâu t́m cọc chớ cọc không t́m Trâu.    

Những người già ba gai, không sợ chết được ví với Trâu già không nệ dao phay.    

Đa số người Việt Nam là nông dân nên Thủy Ngưu được xem là tài sản, là của quí.  Người ta nói nhiều về các anh chị ấy trong văn thơ.  Nào là:

Chồng cày vợ cấy con Trâu đi bừa

Nào là:

Trâu ơi ta bảo Trâu này,

Trâu ra ngoài ruộng Trâu cày với ta,

Cấy cày vốn nghiệp nông gia,

Ta đâu Trâu đấy ai mà quản công.

Ngày nào cây lúa c̣n bông

Th́ c̣n ngọn cỏ ngoài đồng Trâu ăn.

*

Muốn có tiền th́ nuôi Trâu nái

Muốn phá sản th́ nuôi Bồ Câu.

 *

Ruộng sâu Trâu nái.

 *

Làm thân Trâu Ngựa đền nghi trúc mai

 *

Trâu Ngựa đau kêu chi cũng mặc

Thân c̣n chẳng kể, kể chi danh.

 

Trâu trắng, Trâu đen là cảnh ḱnh báng lẫn nhau.  Dưới mắt nông dân Việt Nam Trâu trắng đến đâu thất mùa đến đó

Căn cứ vào tướng Trâu nông dân Việt Nam không mua Trâu:

-   có lông mọc lộn xộn

-   có sừng cong lộn xuống đất

-   có lưỡi đen (thường chết v́ bịnh dịch)

-   có đuôi trắng (nhiều chuyện gây phiền ḷng cho chủ)

-   có vệt trắng trên cổ v́ lười cày, bừa.

Năm 1967 ông Phan Khắc Sửu ra tranh cử tổng thống VNCH cùng với bác sĩ Phan Quang Đán trong liên danh Trâu Cày.  Thủy Ngưu biểu tượng cho sức cần lao, là dấu hiệu của Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam (CVT:  Confédération Vietnamienne du Travail).

Trong Tây Du Kư, Lăo Tử cỡi Trâu Xanh.  Các nghệ nhân Việt Nam và Trung Hoa thường vẽ h́nh ảnh của Huỳnh Ngưu và Thủy Ngưu.  Thủy Ngưu, dưới nét vẽ của các họa sĩ Trung Hoa, có bụng căng no tṛn như nói lên sự no ấm và phú túc.  Mục đồng ngồi trên lưng Trâu thổi sáo cũng là đề tài hội hoạ thường thấy.  Trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư có bài Ai Bảo Chăn Trâu Là Khổ?  Nhạc sĩ Phạm Duy dựa vào ư của bài tập đọc này để phổ nhạc.  Cũng trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư có bài tập đọc liên quan đến Trâu, Cọp và trí khôn của loài người.  Đại ư của bài tóm lược như sau:

Một anh chàng Cọp đi ngang một đám ruộng và thấy một anh nông dân cầm roi đánh đập một anh Trâu kéo cày và quát tháo inh ỏi dưới ruộng lầy.  Cày xong người nông dân cho Trâu nằm nghỉ mệt.  Anh chàng Cop tiến lại gần Trâu và nói:

Trâu ạ!  Tao thấy mày ngu lắm.  Mầy to lớn như vậy, có hai sừng cong và nhọn ngon lành như vậy mà mày để cho thằng nông dân ốm tong, ốm teo đánh đập, chửi bới ỏm tỏi.  Tao hết hiểu nổi rồi!  Mày nói cho tao biết tại sao vậy?”

“ Cọp ạ!  Mày không hiểu nổi đâu.  Nó ốm yếu như vậy nhưng nó có trí khôn.” Trâu nói.

"Trí khôn là cái ǵ?” Cọp hỏi.

"Mày đến hỏi nó th́ biết.”      Trâu đáp.

Cọp lại gần người nông dân và hất hàm hỏi:

“ Ê! Thằng nông dân kia!  Trí khôn mày đâu cho tao xem?”

"Trí khôn tao để ở nhà.” Người nông dân đáp.

"Mày về nhà lấy cho tao xem được không?” Cọp nói.

"Được.  Nhưng tao phải trói mày vào bụi tre này.  Nếu mày chịu, tao về nhà lấy trí khôn cho mày xem.” Người nông dân nói.

“Sao phải làm như vậy?” Cọp hỏi.

"Nếu không, trong lúc tao về nhà mày ăn thịt Trâu của tao.  Nếu mày không chịu th́ thôi.”  Người nông dân nói.

"Tao chịu.” Cọp nói.

Người nông dân lấy dây cột Cọp vào bụi tre rồi lấy cây vừa đập tới tấp vào đầu Cọp vừa nói:  "Trí khôn của tao đây nè!”.

Cọp chết đau đớn v́ quá tin tưởng vào sức mạnh vạn năng của ḿnh và v́ chủ quan cho rằng Trâu ngu để quên rằng trên đời không ai ngu dại để bị người khác lợi dụng hay áp bức nếu không ở thế yếu về một số mặt nào đó.  Trên đời này cũng có nhiều cách đánh bại kẻ khác mà không cần dùng đến sức mạnh.  Người nông dân đă dùng cách đó để đối phó với Cọp.  Cọp chết v́ chủ quan và v́ chỉ biết sử dụng sức mạnh mà không biết trí khôn.

Trong chuyện tiếu lâm Nguyễn Quỳnh tức Cống Quỳnh đă dùng Trâu nghé đấu với Trâu Bắc Quốc.  Nhờ mưu kế của Cống Quỳnh mà Việt Nam có một thắng lợi giả tưởng đáng ghi nhớ mặc dù không rơ chuyện xảy ra ở đâu? ngày, tháng, năm nào? đời vua nào?  chúa nào?!  Dù là giả tưởng, câu chuyện cũng cho ta thấy người nhỏ, ốm yếu vẫn thắng được người to lớn, khỏe mạnh như David thắng Goliath vậy.  Thắng lợi của Trâu nghé khát sữa chạy lại bú vú Trâu Bắc Quốc.  Bị nhột Trâu Bắc Quốc phải bỏ chạy.  

Trong lịch sử Việt Nam có Đinh Bộ Lĩnh là một mục đồng khi c̣n thơ ấu.  Sau này ông đánh dẹp các sứ quân và lên ngôi tức vua Đinh Tiên Hoàng.

Ở Bắc Ninh có một tu viện Phật Giáo gọi là Kim Ngưu.

Ở Trung Hoa có chuyện Ngưu Lang (Niu Lang) Chức Nữ (Zhi Nu), mưa Ngâu (Ngưu) ngày 07-07 Âm Lịch.  Dựa vào chuyện này ở Việt Nam có bài hát Sầu Ô Thước.

Trong Đề 40 con của Trung Hoa Thủy Ngưu chiếm số 9 sau Thỏ (số 8) và trước Rồng Bay (số 10).

Trong tinh tú học có sao Ngưu (Taurus).

Trong ngành vi trùng học có Ngưu đậuvi trùng đậu mùa trong mủ của Thủy Ngưu do người cấy ra để trồng trái ngừa bịnh này.

Trong thực vật học chữ Trâu được dùng như h́nh dung từ chỉ cái ǵ to lớn như Cần Trâu Oenanthe stolonifera, Hành Trâu Allium robusta, Cà Phê Trâu Coffea robusta.      

Ngưu bàngmột loại cỏ có nhánh mang tên khoa học Arctium lappa.   Trái và rễ Ngưu bàng dùng làm thuốc nhuận tiểu, trị bịnh ngoài da, viêm cuống họng, sốt xuất huyết, sưng phổi.    

Dă Ngưu Bàng Aster tartaricus (purple aster) được dùng làm thuốc bổ phổi, trị ho, đàm.    

Ngưu tất (đầu gối Ḅ hay Trâu) Achyranthes bidentata dùng làm thuốc nhuận tiểu (Rễ), trị phong thấp.    

Ngưu thiệt (Lưỡi Ḅ hay Trâu) tức cỏ chút chít Rumex wallichii dùng làm thuốc xổ.  Lá dùng để trị lác đồng tiền.

Muồng Trâu Cassia alata dùng làm thuốc xổ, xức lác.    

Dây Sữa Ḅ tức Hà Thủ Ô Nam Streptocaulon juventas.  Củ dùng làm thuốc bổ gan, thận, làm cho râu tóc đen như thanh niên vậy.    

Cây Vú Ḅ cao lối 1 m, có mủ trắng.  Tên khoa học là Tabernaemontana garcinifolia.      

Cây Vú Sữa là cây ăn trái to lớn, trái tṛn như cái chén màu trắng hay tím, vị ngọt.  Tên khoa học của cây Vú Sữa là Chrysophyllum cainito.

 

****

Thưa quí vị đại biểu, loài người càng ngày càng đông đảo.  Địa bàn sống của các động vật hoang dă càng ngày càng bị thu hẹp.  Sự phát triển khoa học kỹ thuật của loài người làm cho vai tṛ các động vật to lớn giảm sút đi rất nhiều.  Người ta không dùng Ngựa trong chiến trận.  Không dùng Voi trong các trận đánh hay chuyên chở hàng hóa nặng.  Giảm thiểu việc dùng Trâu, Ḅ trong công việc chuyên chở và đồng áng.  Tượng tộc, Tê Giác, Hà Mă tộc càng ngày càng ít đi v́ những sự săn bắn để lấy ngà, sừng và răng.  Quí vị thấy không, khi loài người chưa phát triển khoa học kỹ thuật họ thờ vật tổ.  Các động vật to lớn có địa vị đáng kể trong tâm năo của họ.  Các động vật cung cấp thịt như Heo, Ḅ, Gà, Vịt được họ lập trại tập trung nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe đầy đủ v́ có bác sĩ thú y trông coi.  Nhưng các động vật trong các trại tập trung nầy có tuổi thọ rất thấp.  Gà nuôi 08 tuần th́ làm thịt.  Heo nuôi nặng trên 100 ki- lô th́ hạ thịt.  Ḅ nuôi một năm th́ thịt mềm có thể làm món Bê thui tương gừng ăn luôn cả thịt lẫn da! Nuôi trong các trại tập trung, động vật mất quyền tự do đi lại và nhất là mất sự tự do yêu đương.  Anh Ḅ bị hoạn.  Anh Trâu bị hoạn.  Anh Heo bị hoạn.  Anh Gà trống bị hoạn.  Tất cả hành động độc ác này nhằm mục đích giúp cho loài người có nhiều thịt.  Họ cướp luôn quyền làm cha, làm chồng và thú yêu đương nam- nữ của Ngưu tộc, Mă tộc, Trư tộc bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo.  Với phương pháp nầy loài người cấm các động vật tự do luyến ái mà yêu đương theo ư muốn và sự lựa chọn ḍng giống của họ!!    (Dưới hội trường có tiếng hô to "Đả đảo loài người!  Đả đảo!  Đả đảo!’)

Chúng tôi xin chấm dứt bài tham luận của Ngưu tộc ở đây và mời quí vị theo dơi cuốn phim về các phương pháp giết Ḅ và Trâu trên thế giới.  Chúc quí vị một ngày vui, thân, tâm ăn b́nh trong một vũ trụ luôn luôn chuyển động và đấu tranh không ngừng.

 

Trưởng Lăo Ngưu tộc Zebu Ấn Độ Bos indicus   

   

           

Trang Phạm Đ́nh Lân

art2all.net