Nguyễn Quốc Trụ

 

 

Nguyễn Quốc Trụ giới thiệu:

 

Kỳ 3

 

Đỗ Long Vân

 

VÔ KỴ GIỮA CHÚNG TA hay là HIỆN TƯỢNG KIM DUNG


 


8. Tiến tới một sự phân loại

"Dear Reader: Behind every story you read, there’s another story waiting to be told"
(Bạn đọc thân mến: Đằng sau mỗi câu chuyện bạn đọc, có một câu chuyện đang chờ tới lượt ḿnh).
The Guardian Weekly.

"Người ta thường xuyên gặp trong Kim Dung thái độ nước đôi ấy trước trí năng, vừa cảm phục vừa nghi kỵ."
"Không phải ngẫu nhiên mà họ là những đạo sĩ và tăng nhân đă thoát tục. Nhưng không lẽ…"
ĐLV

"Qui est Ky?"
De Gaulle

 

Cái bể vơ học chập chùng chẳng biết đâu là giới hạn. Không vơ công nào giống vơ công nào. Nhưng nếu chưa thể thu ngần ấy cái độc đáo vào một mối, th́ trong khi chờ đợi, sao không thể xếp loại chúng? H́nh như Kim Dung đă chia tất cả vơ công trên đời ra làm hai khối lớn: Âm công và Dương công. Vơ công thuộc Âm công th́ mau, mềm mại và ác độc; thuộc Dương th́ chậm nhưng dũng mănh và cương trực. Người đời coi thứ vơ công này là chính giáo và thứ vơ kia là môn. Vơ công tuy nhiên chỉ là phương tiện. Khác nhau duy ở mục đích cuối cùng của người dụng vơ. Âm hay Dương th́ vơ công nào mà chẳng giết người. Xem Kim Dung nhấn mạnh trên mọi sự phân biệt giữa Âm và Dương th́ người ta thấy rằng tất cả cố gắng của ông là để xem những tiêu chuẩn tự nhiên thay thế cho những tiêu chuẩn nhân văn và đạo lư. Tà và Chính đổi thành Âm và Dương nghĩa là hai mănh lực của tự nhiên; trong tự nhiên không có Tà và Chính, và Âu Dương Phong và Hồng Thất Công, một người đại diện cho Ác tâm và một người đại diện cho Thiện chí, sau mười mấy ngày đấu liên tiếp, lại có thể ôm nhau để cùng chết giữa lúc tiếng cười của họ càng chấn động cái hoang vu của những đỉnh núi tuyết ngh́n năm. Mẹ tự nhiên đă giải hoà hai đứa con xung khắc của ḿnh. Xă hội người đặt chúng vào cái thế tương nghịch. Ác của đứa này tuy nhiên cũng như thiện của đứa kia đều có gốc ở năng tính. Và năng tính giống như một mănh lực của tự nhiên, trong Kim Dung, người ta biết là bao giờ cũng tốt. Khả nghi nhất là những con người của trí năng. Ấy là những Hoàng Dược sư chẳng hạn. Người đời thường hỏi họ thiện hay ác. Nhưng họ khinh dư luận, coi rẻ đạo lư của người đời và tự đặt những quy luật riêng để hành động. Tham vọng của họ là mang tài ḿnh ra cướp quyền tạo hoá. Không những giỏi vơ công mà, trong những lĩnh vực khác, kiến thức của họ thường cũng thâm viễn vô cùng. Ngoài cái tài hoa của một nghệ sĩ, Hoàng Dược sư c̣n thông thạo trận đồ, kiến trúc và những kỹ thuật làm máy móc. Xa lục địa, trên đảo Đào Hoa, ông xây dựng cả một giang sơn biệt lập cho ḿnh. Cái trí, cái xảo, cái tài hoa ấy tuy nhiên có một cái ǵ điêu bạc. Những con người ấy quá nhậy cảm và giàu tưởng tượng. Óc của họ không ngừng làm việc, bầy mưu và thiết kế. Làm sao trong sự giao động thường xuyên họ có thể có cái tĩnh cần thiết để tới cái chân nguyên của vơ học mà chỉ thông đạt những tâm hồn chất phác và đơn thuần nghĩa là gần tự nhiên hơn? Cho nên những vơ công mà chính cái tài hoa của họ làm họ không tài nào luyện được. Và vơ công của họ thường cũng mang ấn tích của cái tài hoa ấy mà họ vốn có thừa, nghĩa là phức tạp, khi thực khi hư, mau lẹ và uyển chuyển, nhưng nhu Lạc Anh quyền, đôi khi không khỏi thiếu phần cương trực. Người ta sẽ thường xuyên gặp trong Kim Dung thái độ nước đôi ấy trước trí năng, vừa cảm phục lại vừa nghi kị. Ấy là cái ng̣i bảo thủ trong văn ông.

Năng tính là giải thuyết của sự đối lập giữa Thiện và Ác. Nhưng giữa năng tính và trí năng th́ sao? H́nh như Kim Dung lại muốn vượt sự đối lập ấy trong con người của Đạo. Sau khi nghe giảng Thái Cực quyền lần thứ nhất, th́ Vô Kỵ chỉ nhớ một nửa những chiêu đă học. Nhưng nghe giảng một lần nữa th́ xét lại, chàng c̣n nhớ có hai ba chiêu trong đầu. Người ta không khỏi ngạc nhiên. Nhưng đáng ngạc nhiên hơn nữa là khi cái lối càng học càng quên ấy lại được coi là một tiến bộ. Cũng như thế, trong một truyện khác, người ta thấy một anh hùng giang hồ than thở là kiếm pháp trên đời tuy ông đă thuộc cả, nhưng vẫn chưa đến chỗ tối cao là quên được những kiếm pháp đă học ấy! Th́ ra cái biết thực của vơ học không ở những cách khoa chân và múa tay của những chiêu lẻ mà ở nguyên lư của chúng. Khi thấy cái nguyên lư ấy rối, nghĩa là đă thu những tạp chiêu ấy và một mối, th́ người ta không cần nhớ đến chúng nữa. Một chiêu c̣n nhớ là một chiêu chưa thấu triệt, sự thống nhất chưa trọn vẹn, và cái biết c̣n dở dang. Cái biết thực của vơ học cũng như trong đạo là một sự lăng quên những ảo ảnh của ngoại thể để tới cái chân nguyên của tất cả. Nhưng người và tự nhiên khi ấy mới thực tương đồng, trí năng và năng tính là một. Cá nhân thực hiện được sự thống nhất của ḿnh. Những xôn xao của ngoại giới không thể làm hắn phân tâm nữa và cái tĩnh thuần nhất của ḷng hắn không c̣n ǵ giao động nổi. Ngay vơ công luyện được hắn cũng quên đi. Ấy là khi vơ công đă thấm vào người hắn đến chỗ có thể tuỳ nghi tự ư phát động mà không cần sự can thiệp của ư chí. Tương Trùng Dương trong Anh hùng xạ điêu, Trương Tam Phong và bộ ba Độ Ách, Độ Nạn, Độ Kiếp trong truyện Đồ long đao, nhà sư già coi Tàng Kinh Các trong Thiên Long bát bộ là những người đă gần như tới độ tối cao của vơ học. Không phải ngẫu nhiên họ là những đạo sĩ và tăng nhân đă thoát tục. Nhưng chẳng lẽ Kim Dung lại kể chuyện vơ hiệp để ca ngợi cái đức của sự tu hành? Nhưng có lẽ một cái nh́n kỹ lưỡng vào thế giới và nghệ thuật Kim Dung sẽ cho người ta một đáp thuyết vững vàng hơn.

 

Đỗ Long Vân

 

_________

 

Ghi chú:

Ở trên, trong phần ghi chú, người giới thiệu đă cho rằng, Đỗ Long Vân đă sử dụng cơ cấu luận như một phương pháp "tiện tay, đương thời" để đọc Kim Dung.

Gérard Genette, trong bài "Cơ cấu luận và phê b́nh văn học", in trong H́nh Tượng I (Figures I, nhà xb Seuil, tủ sách Essais, 1966), đă nhắc tới một chương trong cuốn Tư Tưởng Hoang Sơ (La Pensée Sauvage) theo đó, Lévi-Strauss đă coi tư tưởng huyền thoại như là "một kiểu loay hoay về tinh thần" (une sorte de bricolage intellectuel). Chúng ta có thể mượn quan niệm trên đây của Lévi-Strauss, để giải thích tại sao Đỗ Long Vân lại dựa vào cơ cấu luận, khi viết "Vô Kỵ giữa chúng ta". Từ đó, chúng ta có thể đi đến kết luận: Vô Kỵ là ai? (Qui est Ky?, mượn lại câu hỏi của de Gaulle, khi hoà đàm về Việt Nam đang diễn ra tại Paris; Ky ở đây là Nguyễn Cao Kỳ). Biết đâu, nhân đó, chúng ta có thể xác định vai tṛ của một người viết, như Đỗ Long Vân, ở giữa chúng ta.

Thế nào là một tay loay hoay, hí hoáy (le bricoleur)?

Khác với viên kỹ sư, đồ nào vào việc đó, nồi nào vung đó, nguyên tắc của "hí hoáy gia" là: xoay sở từ những phương tiện, vật dụng sẵn có. Những phương tiện, vật dụng, được sử dụng theo kiểu "cốt sao cho được việc" như thế, ở trong một hệ thống lư luận như thế, chúng không c̣n "y chang" như thuở ban đầu của chúng nữa.

Cơ cấu luận đă có những thành tựu lớn lao qua một số tác giả như Lévi-Strauss, Roland Barthes, Gérard Genette… và nhất là Michel Foucault, cho dù ông đây đẩy từ chối nhăn hiệu cơ cấu (làm sao nhét vào đầu óc của những kẻ thiển cận…tôi không hề sử dụng bất cứ thứ ǵ của cơ cấu luận). Trong số những tư tưởng cận đại và hiện đại như hiện sinh, cơ cấu, giải cơ cấu, hậu hiện đại… đóng góp của cơ cấu luận là đáng kể nhất, theo chủ quan của người viết.

***

"Nhưng nếu chưa thể thu ngần ấy cái độc đáo vào một mối, th́ trong khi chờ đợi, sao người ta không thử xếp loại chúng?"

Trong khi chờ đợi (Godot?): Thời gian chờ đợi - nếu chúng ta cùng gật gù với Barthes - "Huyền hoặc thay, sở hữu thế gian không bắt đầu từ Sáng Thế Kư, mà là khi tư hữu bắt đầu, tức là từ Đại Hồng Thủy, khi con người bắt buộc phải đặt tên cho từng chủng loại, lo nơi ăn chốn ở cho chúng, tức là tách chúng ra khỏi những chủng loại khác." - phải tính từ Đại Hồng Thủy, và cái công việc "thử xếp loại", cũng đă bắt đầu từ đó. Và đây là lịch sử nhân loại trước khi, và chắc là chẳng bao giờ được thu về một mối.

Và đó cũng là một trong những "chủ đề" của cuốn "Chữ và Vật".

"Les Mots et les Choses", nhan đề bản tiếng Anh có lẽ sáng sủa và thích hợp với chúng ta: "The Order of Things (Trật tự của những sự vật)." Trong Lời Mở Đầu, ông cho biết, cuốn sách được gợi hứng từ một bài viết của Borges. Và cùng với bài viết, là tiếng cười làm rung rinh cơi tư duy của chúng ta (Tây phương). Borges nhắc tới một cuốn bách khoa nào đó, ở xứ sở của Kim Dung, theo đó, loài vật được chia ra như sau:

a/ thuộc về Hoàng Đế, b/ được tẩm nước thơm, c/ được thuần hóa, d/ heo sữa, e/ nhân ngư, f/ huyền hoặc, g/ chó thả rông, h/ ở trong bảng sắp xếp này, i/ cử động như người điên, j/ không thể đếm được, k/ được vẽ bằng một ngọn bút lông lạc đà thật mịn, l/v…v… và v… v, m/vừa đánh bể một cái b́nh, n/ ở xa trông như ruồi.

Theo Foucault một bảng phân loại như thế đúng là thách thức lối tư duy của Tây phương. Làm sao có thể hiểu nổi những con vật không có ǵ giống nhau, lại ở cùng trong một bảng sắp xếp, ngoài cái trật tự abcd như trên? Trong khi t́m hiểu một trật tự như vậy, ông nh́n ra một điều: lịch sử của sự khùng điên sẽ là lịch sử của Kẻ Khác, lịch sử trật tự của những sự vật sẽ là lịch sử của Ta (Le Même). Và đối với văn minh Tây phương, lịch sử của Kẻ Khác – không phải lịch sử trật tự của những sự vật – bị coi là thứ yếu, xa lạ, và bị đẩy bật ra khỏi lịch sử của những Ta. Đây là lư do người điên bị tống vào tù, hoặc bị cưỡng bức lao động.

****

Thu về một mối, ôi cái giấc mơ "thống nhất, đại đồng, hết c̣n vong thân, hết c̣n giai cấp..", sau cùng hoá ra là một cơn ác mộng.

Và chúng ta có lẽ nên bằng ḷng cứ thế chờ đợi, như anh chàng nhà quê của Kafka, trước cánh cửa mở ra cái thế giới thu về một mối…

Và con người tự do trong cái hữu hạn đó: trong khi chờ đợi, chẳng biết làm ǵ, bèn bịa đặt ra những kư hiệu, những ư nghĩa, đặt tên sự vật, sắp xếp, suy nghĩ về chúng, và về chính ḿnh, như là một kẻ ở giữa hai cực điểm: nhà thơ và tên khùng, theo một định nghĩa của Foucault: Thi sĩ đẩy sự tương đồng về những kư hiệu nói lên sự tương đồng đó, người điên coi tất cả những kư hiệu đều chỉ ra, chỉ một sự tương đồng [mọi vật đều giống nhau hết], cuối cùng xóa nhoà mọi kư hiệu.

***

"Remember me,"
whispers the dust.
("Hăy nhớ đến tôi,"

Hạt bụi th́ thầm.)
Peter Huchel (thi sĩ Đức)

[Joseph Brodsky trích dẫn, trong "Ca ngợi buồn phiền", "In Praise of Boredom"]

***

Đỗ Long Vân mất tại quê nhà tháng Tám năm 1997. Người viết chỉ được biết, nhân đọc mục thư tín trao đổi với bạn đọc của một tạp chí văn học ở hải ngoại.

Và sau đó có viết vài ḍng về ông, như một tưởng niệm muộn, và mượn ngay tên bài viết của ông làm của ḿnh. Cả bài viết của ông, sau bao tai biến, chỉ c̣n lại một cái tên trong trí nhớ người viết. Gửi theo ông rồi, mới quên điều tính hỏi: Vô Kỵ là ai, mà ở giữa chúng ta?

***

"Mỗi một bài viết bạn đang đọc…", bạn đọc hăy coi những ḍng sau đây, như là một bài viết bên lề, vẫn như một lời tưởng niệm muộn, gửi theo người đă khuất.

***

Chết là hết, như người Việt thường nói. Nhưng Volkov, trong bài viết tưởng niệm thi sĩ Joseph Brodsky, "Con sói cô đơn của thơ ca", đă trích dẫn câu thơ của nữ sĩ Akhmatova, "Khi một người đàn ông chết, những bức chân dung của người đó thay đổi", và đưa ra nhận xét, "có chút chi lạnh lẽo ở hai ḍng thơ này". Theo ông, thường ra, khi được tin một người bạn mất, và được trao công việc lọc lựa những bức chân dung, ông nhận thấy có những thay đổi thật tế vi, đôi khi gây kinh ngạc, từ nét mặt người quá văng. Như thể thần chết vạch giùm cho chúng ta thấy một ư nghĩa, một viễn tượng nào đó, ở nơi người chết, chỉ sau khi đă phán bảo: người này chết rồi. Những giai thoại-sau cái chết (the posthumous legend) càng mạnh, hậu quả của chúng càng xáo trộn, ở nơi những bức chân dung đó. Và theo Volkov, chuyện như vậy đă không xẩy ra, trong trường hợp của Joseph Brodsky. Sau khi ông mất v́ bịnh tim vào ngày 28 tháng Giêng năm 1996 ở New York City, giai thoại về ông khi c̣n sống nhập hẳn vào những bức h́nh của ông, qua đó, là thời niên thiếu nổi loạn trong một thành phố bị vây hăm, cuộc vây hăm 900 ngày, dài nhất trong lịch sử cận đại, chưa kịp hồi phục bị giáng thêm đ̣n thanh trừng thời kỳ Stalin, rồi tới bản án theo kiểu Kafka của nhà nước Xô viết…

Người viết đă có lần giới thiệu bài tưởng niệm Joseph Brodsky, của T. Tolstaya, rồi nhân đó, tưởng niệm một nhà thơ Việt. Một người quen đă bực ḿnh, tại sao lại để hai nhà thơ kế nhau như thế? Brodsky th́ ai cũng biết, nhà thơ bạn anh, đâu có ai biết đến mà chơi cái tṛ ăn theo!

Tôi thật sự ngạc nhiên, khi bị hỏi như vậy, lần đó.

Trong bài viết của Tolstaya có nhắc tới một người thợ mộc ở Moscow, nhân được phỏng vấn, đă trả lời: Tôi chỉ mong có một cuộc sống riêng tư. Như Joseph Brodsky!

Anh bạn nhà thơ của người viết sau 1975 đă làm nghề thợ mộc. Trước đó anh làm nghề dạy học. Anh khoe, t́m thấy những vân gỗ y hệt những vần thơ!

Cái ông thợ mộc chẳng ai biết đến đó lại mong có một cuộc đời rất riêng tư của một nhà thơ được giải Nobel văn chương!

Cái ông thợ mộc bạn tôi, giả sử như gặp nhà thơ Nga ở cái thế giới nào đó, có thể sẽ là hai người bạn thân. Tôi thực sự mong mỏi như vậy. Và tôi c̣n tin rằng Joseph Brodsky sẽ thèm thuồng cái số phận của anh bạn thơ của tôi, ở trong cái thế giới cả hai đă cùng từ bỏ.

Nhà thơ Nga bị nhà nước Nga tống xuất, xin xỏ măi để được ở lại, mà không được. Bạn tôi cứ tà tà ở lại, chẳng ai đuổi, và cũng chẳng thèm đi! Bạn tôi làm thợ mộc, nhà thơ Nga phải làm nghề mổ tử thi. Ông tự hào về nghề đó, và xấu hổ khi phải bỏ nghề. Anh bạn nhà thơ của tôi tự hào là một anh thợ mộc, và anh t́m thấy thơ ở đó, khi không c̣n có thể làm thơ được nữa.

Thử hỏi Brodsky có t́m thấy thơ từ những xác chết hay không?

Anh bạn nhà thơ của tôi, là bạn thân của Đỗ Long Vân.

Tôi viết bài tưởng niệm Đỗ quân cũng trong ước vọng đó: được có một cuộc đời riêng tư như Đỗ quân.

Bởi v́ cái cuộc đời riêng tư đó thật là hiển hách vô cùng, đối với đám tụi tôi. Đám chúng tôi, khi đi tŕnh diện nhập ngũ, trưng đủ thứ bằng cấp, để được đi học sĩ quan (bằng tú tài), để được biệt phái về một đơn vị không tác chiến (bằng chuyên môn)…

Đỗ quân, tuy bằng cấp đầy ḿnh, đă từng du học Paris, giáo sư đại học, đi tŕnh diện như một cái bang chẳng có một túi nào!

Sĩ quan, binh lính miền nam trước 1975 thường mặc quân phục bó sát người. Kỷ niệm của tôi về Đỗ quân, trong lần t́nh cờ đi cùng anh bạn thi sĩ Joseph Huỳnh Văn ghé thăm ông tại Đài Truyền Tin Phú Lâm, là một anh lính trong bộ quần áo nhà binh rộng thùng th́nh, tươi cười, thoải mái. Tôi có cảm tưởng ông thoải mái hơn cả lần đầu gặp tại quán Cái Chùa, đường Tự Do.


 


( xem tiếp Kỳ 3b )
 

Những câu trích từ bài viết làm đề từ, là do người giới thiệu bầy đặt ra, như một cách hiểu, hoàn toàn mang tính cá nhân, tức chủ quan, bài viết của Đỗ quân, và những vấn đề mà bài viết đặt ra.

 

 

(Nguồn : Tin Văn

http://www.tanvien.net/tgtp/tgtp19_voky_dlv_03.html

www.tanvien.net )

 

trang nguyễn quốc trụ

art2all.net