phan bá thụy dương

 

WILBERT RIDEAU: KẺ TỬ TỘI THẤT HỌC

TRỞ THÀNH MỘT CÂY BÚT LỪNG DANH

 

 

 

“Tương lai mỗi tội nhân là một vị thánh.

Quá khứ mỗi vị thánh là một tội nhân.”

                                Saint Augustine.
 

Không phải kẻ nào mang án tử h́nh cũng hoàn toàn tuyệt vọng, mất đi niềm tin về sự sống c̣n của ḿnh. Thảm trạng cùng nhục cảnh tù đày nhiều lúc lại là môi trường, cơ hội tốt để con người có thể phát huy, ghi lại những suy tư, những khổ ải, gian truân mà họ đă kinh qua, chiêm nghiệm… Tác phẩm của những kẻ khổ nạn này thường được người đọc ưu ái đón nhận và nhiều khi được xem, liệt vào hàng kiệt tác trong các lănh vực báo chí, văn học, chính trị…

 

Chỉ mới vài ba thập niên trở lại đây thôi, người ta lại có dịp được hiểu biết thêm những danh tài mới. Chẳng hạn như Jack Henry Abbott - tác giả mấy cuốn sách đắt giá: My ReturnIn The Belly Of The Beast: Letters From Prison thuộc loại best-seller toàn cầu. Theo tin của các giới báo chí, truyền thông và viên chức cải huấn trại Wende Correctional Faculty thuộc New York loan báo th́ nhà văn da đen này đă treo cổ tự vận trong pḥng giam cấm cố, biệt lập của ḿnh vào buổi sáng chủ nhật ngày 10 tháng 2 năm 2002 khi vừa 58 tuổi. Chẳng hạn một nhân vật lừng lẫy khác là Eldridge Cleaver - nguyên chủ bút tạp chí Remparts, tác giả tập Soul on Fire [Linh Hồn Lửa] và nhất là tác phẩm thời danh Soul on Ice [Linh Hồn Băng Giá].
 

EC là một tay hùng biện giỏi và đă từng gây nhiều cuộc tranh luận sôi nổi, ồn ào trong giới ủng hộ và phản đối. Đă có thời ông làm ủy viên Thông Tin cho đảng Black Panther và năm 1968 EC cũng đă từng đứng ra tranh cử Tổng Thống Hoa Kỳ dưới màu cờ của đảng Peace and Freedom. Ông ta c̣n là một nhà tranh đấu chủ trương bạo động và đă làm nhiều giới lănh đạo hành pháp, tư pháp nhức đầu. Khi cố Tổng Thống Reagan c̣n là Thống Đốc tiểu bang California, có lần ông đă tuyên bố một cách giận dữ - khi được biết vài trường đại học và nhất là University of California tại Berkeley mời Cleaver giảng thuyết cho sinh viên của họ: “Nếu để cho EC dạy dỗ con em chúng ta, coi chừng có ngày bọn chúng trở về nhà cắt cổ chúng ta vào ban đêm.”
 

Nghe nói vào cuối thập niên 60 Eldrige c̣n ngang nhiên thách đố ông Ronald Reagan cùng chơi tṛ sanh tử tay đôi theo kiểu cao bồi miền Tây và dành cho thống đốc quyền tự ư chọn vũ khí giao đấu. Liều lĩnh, chơi bạo như thế có lẽ v́ EC biết rơ Reagan, trước khi bước chân vào lănh vực chính trị ông ta đă từng là tài tử đóng phim Western, tức phim cao bồi miền Tây.
 

Eldrige đă mất đi vào ngày 1 tháng 5 năm 1998 tại Pomona Valley Hospital ở ngoại ô Los Angeles, chấm dứt một cuộc sống đầy sôi nổi, sóng gió, v́ chứng ung thư nhiếp hộ tuyến, hưởng thọ 62 tuổi. Ông c̣n được nhiều người truyền tụng xem như là hậu thân, hiện thân của Malcom X.
 

Ngoài ra, chỉ kể riêng từ trại Louisina State Penetentiary [khu cải huấn Angola] trong nhiều năm qua người ta đă có cơ hội biết thêm về những người-tử-tội-trở-thành-nhà-báo như Billy W. Sinclear, Ron Wikberg, Tommy Mason… Ba người này đều do WR đưa về tờ Angolite. Đặc biệt là trường hợp Wilbert Rideau, kẻ được rất nhiều người ủng hộ và tên tuổi lừng danh nhất.
 

Cuộc đời của WR mang nhiều sắc thái đặc thù, đầy hấp lực và là một tấm gương trong sáng cho nhân loại trên hoàn vũ. Nhờ những nỗ lực vươn ḿnh, hướng thiện không ngừng mà ông, từ một kẻ sát nhân, mang án tử h́nh, bị thất học, trong thời gian chờ ngày lên đoạn đầu đài đă chịu khó tự học, đọc sách để trở thành một nhà báo, nhà văn được vô số giải thưởng cao quư và sự nể trọng, ưu ái của mọi giới, mọi người.
 

Vào tháng 3 năm 1993 tạp chí Life đă vinh danh WR là: “tù nhân hoàn lương được phục hồi danh dự nhất nước Mỹ”. Đó cũng là câu nói mà những người gần gũi Wilbert, các bạn tù, nhân viên giám sát, cũng như viên chức cải huấn thường miêu tả, phát biểu khi đề cập về ông.
 

Chính Edwin Edwards vị Thống đốc tiểu bang Louisiana cũng tuyên bố trong cuộc họp báo ngày 17-6-1986 rằng: “Nếu có quyền hành xử riêng theo niềm tin của ḿnh, tôi đă kư lệnh phóng thích WR. Tôi đồng ư với những người nói rằng ông ta đă được phục hồi danh dự.”


 

● NHỮNG NGÀY CÙNG KHỔ.
 

WR sanh ngày 13 tháng 2 năm 1942 trong một gia đ́nh nghèo, bất ổn tại xóm Lawtell thuộc tiểu bang Louisiana - nơi năm vừa qua đă bị cơn băo Katrina tàn phá dữ dội. Tháng trước lại bị thêm nạn hạn hán và nhà chức trách ở đây hiện đang cố gắng phục hồi, lôi kéo cư dân trở lại. Mới đây, người ta lại vừa tổ chức tại New Orleans Fairgrounds Race Course một chương tŕnh đại nhạc hội quan trọng về nhạc Jazz, Blues, Rap, Zydeco… liên tục trong 2 cuối tuần, gồm 6 ngày. Cuộc tŕnh diễn đă bắt đầu vào ngày thứ sáu 28-04-06 và vừa chấm dứt vào đêm chúa nhật 07-05-06, với những ca nhạc sĩ thượng thặng như Bob Dylan, Dr. John, Bruce Springsteen, Ani DiFranco, Peter Seeger, Keith Urban, Paul Simon, Irma Thomas, Pete Fountain, Lionel Richie…
 

Khi ông lên 6 th́ theo cha mẹ di chuyển về khu Lake Charles - Jim Crow South ở miền Tây Nam Louisiana, chỗ tiếp cận với ranh giới miền Đông tiểu bang Texas. Đó là một thị trấn phát triển và khai thác dầu khí với nhiều ṣng bài, nằm trong khu vực được gọi là vùng “Deep South”. Nơi đây vấn đề kỳ thị chủng tộc, màu da đă được định h́nh, đậm nét cố hữu. Tính chất phân biệt này đă hoàn toàn chia cách cuộc sống xă hội và nếp sinh hoạt văn hóa, dân sinh... của người da trắng và da màu.
 

Kư giả Ray I. Broussarf của tờ News Banner tại Covington - Louisina, trước đây trong một bài báo lên tiếng yêu cầu trả tự do cho WR đă viết: “Nếu quí vị chưa từng sống trong vùng Cực Nam, vào thời kỳ quyền b́nh đẳng chưa được thực thi th́ quư vị không thể nào hiểu rơ miền Nam và chắc chắn là quí vị không biết ǵ về Louisiana trong giai đoạn đó… Tôi đă từng nh́n kỹ vào mắt của những người da đen, khi thấy bọn thanh niên da trắng to con ra lệnh cho họ đi xuống xếp hàng đằng sau, ngồi vào phía chót xe bus, hay đuổi họ ra khỏi cửa các quán cà phê, các quày hàng tiệm ăn chỉ dành riêng cho người da trắng. Quư vị có thể nhận thấy rơ ràng được những ánh mắt của người bị hạ nhục kia chứa đầy sự phẫn uất, thù ghét.”
 

Nhà báo Broussart là một trong những người da trắng luôn ủng hộ việc xin phóng thích WR sau khi nhận ra các nỗ lực hoàn thiện, hướng thiện đáng khen qua những hoạt động xây dựng tích cực của người tử tội này.
 

Khi c̣n thơ ấu, Wilbert đă theo học tại Second Ward Elementary School một trường tiểu học dành riêng cho người da đen và là một học sinh giỏi, thông minh, linh hoạt, yêu thích khoa học. Có lúc cậu bé nhút nhát này đă mơ ước mai sau sẽ trở thành một nhà du hành vũ trụ, giống như nhân vật anh hùng Flash Gordon luôn luôn bay bổng, ngao du trên không, được miêu tả trong các tập sách truyện vẽ bằng tranh.
 

Gia đ́nh WR vốn nghèo khó - nghèo khó hơn cả mức độ thiếu kém của những người khác trong cộng đồng người cùng màu da. Đời sống gia đ́nh lại càng tụt dốc, tồi tệ hơn sau khi cha mẹ ông ly dị. Wilbert sống với mẹ và thức ăn trưa mỗi ngày đi học của cậu học tṛ ốm yếu, cơ hàn này chỉ là một củ khoai lang lạnh ngắt. Nhiều khi Wilbert phải vất ném đi v́ cảm thấy ngán ngẩm, xấu hổ. Mặc cảm thua thiệt cùng bản chất rụt rè, vụng về khi giao tiếp, thân cận, đă làm WR càng ngày càng xa lánh, mất đi các bạn cùng trường.
 

Sau khi lên lớp 8, WR được chuyển về trường W.O Boston Colored HS. Từ đó ông bắt đầu biết trốn học để đi chơi xúc xắc với bọn trẻ lêu lổng bên những ngôi mộ bị phá hoại, cỏ mọc um tùm, trong khu nghĩa trang trước mặt nhà ông. Cuối cùng ông bỏ học. Khi ấy ông vừa mới 13 tuổi. Nhờ khai gian là đă 16 nên Wilberg xin được việc dọn dẹp, lau chùi cho một tiệm tạp hoá của người da trắng với tiền lương dưới mức tối thiểu. Sau đó xin được những công việc bán thời gian khác, thông thường một ngày ông làm 2, 3 nơi, nhưng cũng chỉ là công việc thấp kém như ban ngày th́ cầm chổi quét dọn, ban đêm th́ đẩy xe cút kít. Bị hắt hủi và kỳ thị nhiều lần khiến WR cảm thấy chán đời và tự ghét thân phận ḿnh hơn.
 

Năm 1990 ông đă kể lại với cô Anne Butler một cây bút tại Louisiana: “Sau khi nh́n qua sự phân biệt giữa chúng tôi và họ, có lúc tôi đă phát hiện và khẳng định rằng cuộc đời chỉ mang ư nghĩa hễ là người da trắng là có tất cả và đó là phương thức mà người ta đang áp dụng, hành xử. Tôi không chấp nhận sự việc này. Sự việc đó phi lư, không thể dung dưỡng được. Tôi cần sự thay đổi, tôi muốn có điều kiện tốt đẹp hơn… và thoát khỏi t́nh trạng tuyệt vọng, mất niềm tin mà tôi đă gánh chịu.” Đó hẳn là cảm nghĩ mà ông và đă thừa hưởng từ những người lớn tuổi trong cộng đồng da đen.
 

Tuy những công việc bấp bênh, bị khinh bạc kia chẳng cải thiện được cuộc sống bao nhiêu nhưng với số tiền kiếm được $35 mổi tuần cũng giúp WR phần nào trên lộ tŕnh kết giao bằng hữu mới, qua các cuộc uống rượu “gin” hay trong những hội trường bài bạc, cá độ… Môi trường xấu này đă vô h́nh chung dẫn dắt WR vào ngơ cụt. Cho đến ngày 16-2-1961 lúc vừa 19 tuổi Rideau đă liều lĩnh dùng súng lục cướp chi nhánh ngân hàng Gulf National tại thị trấn Lake Charles.
 

Khi bị phát hiện, để thoát thân WR đă bắt cóc ông giám đốc và 2 nữ nhân viên ngân hàng làm con tin. Cả 3 đều là người da trắng. Trên đường đào tẩu, khi ra tới vùng ngoại ô th́ cô Julia Ferguson cho xe chạy chậm lại và họ t́m cách trốn thoát. Kêu dừng lại không được, Wilbert đă nă hết 6 viên đạn và làm 3 người bị thương. Khi Julia gượng đứng dậy th́ WR dùng dao đâm vào ngực cô.
 

Theo lời tường thuật của cảnh sát th́ cô này gượng dậy để xin tha mạng. C̣n theo lời khai của Wilbert th́ ông dự tính sau khi đến nơi có thể thoát thân ông sẽ thả họ về an toàn. Việc giết cô Julia chỉ là hành động thiếu suy nghĩ trong lúc lo sợ, bối rối.
 

 

● BƯỚC VÀO CON ĐƯỜNG SÁNG TRONG BÓNG TỐI LAO LUNG.
 

Bị buộc tội cố sát và kết án tử h́nh 3 lần vào các năm 1961, 1964, 1970, với các bồi thẩm đoàn toàn người da trắng. Nhưng các phán quyết trên đều lần lượt bị các Toà Thượng Thẩm, Toà Phá Án liên bang tiêu hủy bởi v́ các tiến tŕnh xử án này đều bị xem là bất hợp lệ, sai lầm, thiếu vô tư. Sau đó không lâu, vào năm 1972 Toà Thượng Thẩm lại tuyên bố h́nh phạt tử h́nh là vi hiến. Nhờ vậy WR thoát chết, trở thành tù nhân chung thân khổ sai và năm 1973 ông được đưa ra khỏi khu biệt lập dành cho những người chờ ngày ra pháp trường thọ lệnh hành quyết.
 

Theo lời nhận định của ông qua bài Why Prisons Don’t Work th́ năm 1962 ông cùng với 30 kẻ sát nhân khác bị chuyển sang trại Louisina State Penitentiary để chờ bị xử tử hoặc thọ án chung thân cấm cố. Tuy gương mặt của những người phạm tội này có sự khác biệt nhưng họ đều có chung nhiều điểm tương đồng: thiếu tay nghề, thất học, bốc đồng và đă từng làm những việc nông nổi, hồ đồ, thậm chí ngu xuẩn. Họ là những người đă từng thất bại, từ chối hay không thể thích ứng, hội nhập được với xă hội bên ngoài.
 

Cảm thấy ân hận về tội lỗi của ḿnh, Wilbert bắt đầu miệt mài tự học và đọc sách. Ông đọc một cách say mê các sách về tôn giáo, thánh kinh mà luật lệ nhà giam cho phép cũng như những thể loại, đề mục khác mà luật lệ nhà tù cấm đoán. Qua sách vở cũng như sự thân cận, trợ giúp của những người trong trại tù, ông thấy xă hội, đời sống quanh ông đầy dẫy những nhân vật anh hùng và người tốt bụng. Trường hợp kề cận bên ông nhất là những nhân viên cải huấn - những người có nhiệm vụ canh chừng ông, cải tạo ông, lại là người thường lén lút cung cấp sách vở bị cấm đoán để cho ông tự trau dồi kinh sử, mở mang kiến thức. Tưởng cũng cần nói thêm là những người tạo dựng con đường thăng tiến cho Wilbert ở đây đều là người da trắng. Điều này đă giúp Wilbert thay đổi hẳn nhăn quan của ḿnh. Có lẽ đối với ông, đó là một dấu mốc quan trọng, mới mẻ. Ông nh́n cuộc đời và con người bằng một lăng kính trong sáng hơn. Những ư niệm vẩn đục, mơ hồ cũ đă hoàn toàn tan tác theo sương khói.
 

Sau một thời gian tự học hỏi, ông thấy hứng thú trong việc sáng tác và bắt đầu viết. Ông khởi đầu bằng cách viết thư giúp các bạn tù, rồi những bài nhận định, phân tích về tội phạm, h́nh luật thành một cuốn sách dày và bản thảo một tập truyện dài mà ông hy vọng người ta có thể t́m thấy, lưu truyền sau khi ông bị xử giảo.
 

Dần dần nhờ được giao dịch thư từ với thế giới bên ngoài và sự hướng dẫn thường xuyên của Clover Swann - một biên tập viên trẻ của một nhà xuất bản ở New York, ông trở nên hăng say sáng tác, cống hiến những nhận xét, suy luận của ḿnh về thế giới tội phạm trong những bức tường, trong những hàng rào kiên cố. Tiếng nói của ông càng ngày càng được người ta quan tâm, tiếp nhận. Nhờ vậy Wilbert cũng t́m thấy cho riêng ḿnh một niềm hứng khởi, hy vọng, sinh lực mới.
 

Nhiều nguồn tin cho biết trong suốt 44 năm trong trại giam, ông luôn giúp đỡ các bạn tù khác và tuân thủ luật lệ, qui điều nghiêm ngặt và cũng chưa bao giờ bị sai phạm. Công việc nào ban quản huấn trao cho, nhờ cậy, cho dù khó khăn, gian nan, Wilbert Rideau đều hoàn thành mỹ măn, xuất sắc, chẳng hề so đo, từ chối.
 

Năm 1973 ông xin cộng tác với tờ Angolite nhưng bị khước từ v́ Ban Biên Tập và nhân viên của báo này đều là người da trắng và chỉ dành cho người da trắng. Không nản chí ông đứng ra qui tụ nhiều người da đen khác để tự thành lập tờ The Lifer với chủ trương phục vụ giới mang án tù chung thân. Năm sau đó ông bắt đầu viết hàng tuần trên mục The Jungle.
 

Năm 1975 Toà án liên bang ra lệnh cải cách, cải thiện toàn bộ thể chế nhà tù tại trại cải tạo Angola và mở rộng quyền b́nh đẳng cho tất cả tội phạm. Vị quản thủ trại - ông Paul Murray Henderson, trước khi đi đă vội vă ủy nhiệm tờ Angolite cho Wilbert Rideau. Ông Paul Phelps - người kế thừa chức vụ, bèn hợp thức hoá việc bổ nhiệm ấy, đồng thời c̣n thoả thuận để WR được toàn quyền điều hành tờ báo đúng theo tiêu chuẩn áp dụng cho giới báo chí của thế giới tự do bên ngoài. WR có thể viết, cho đăng bất cứ chuyện ǵ, ngay cả tố giác các sai trái, lạm quyền, bất công... trong trại, miễn là ông có chứng cớ trung thực.

 

Sau khi nắm tờ Angolite, Wilbert đă đưa Billy W. Sinclair, Tommy Mason - người cùng chủ trương tờ Lifer về với ông. Họ đă nhanh chóng biến bản tin tức quay bằng ronéo thành một tạp chí có giá trị và khá hoàn mỹ. Ngay năm sau, tờ Angolite đă đoạt nhiều giải thưởng toàn quốc. WR đă chính tay tuyển chọn các biên tập viên, văn nghệ sĩ cho tờ báo... Nhiều người khác trong bộ biên tập cũng đă thu hoạch được những giải thưởng quan trọng. Đồng thời tờ Angolite c̣n được giới truyền thông trên thế giới tự do ca ngợi, đánh giá cao. Bỉnh bút của ông là Ron Wikberg - người cùng viết cuốn Rage and Survival Behind Bars với ông, được xem là người có công trong việc khiến nhà tù hủy bỏ việc xử giảo tử tội bằng ghế điện để thay thế bằng phương pháp tiêm độc dược, hầu giảm trừ sự đau đớn, kinh hoàng cho những người thọ án, qua bài The Horror Show.
 

Tiếng nói của ông càng ngày càng được thế giới bên ngoài tán thưởng, cỗ xúy. Cho đến cuối thập niên 70 WR đă trở thành một diễn giả xuất sắc về lănh vực tội phạm và báo chí. Ông thường được mời thuyết tŕnh, nói chuyện tại các trường đại học, trên các đài truyền thanh, truyền h́nh khắp nơi. Trong nhiều lần xuất hiện trên chương tŕnh Nightline ABC-TV, có lần ông đă cùng ngồi bàn luận với vị chánh thẩm Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ là Warren Burger về những vấn đề lịch sử. Liên tục 2 năm 1989 và 1990 ông đă bay về Washington DC để thuyết tŕnh trước cuộc họp thường niên của American Society of Newspapers Editors. Ông và Ron Wikberg cũng đă từng cộng tác với giáo sư Burk Foster của University of Louisiana vào năm 1991 để viết sách giáo khoa về nguyên tắc tài phán tội phạm và quyển này được áp dụng cho đến ngày nay. Kể từ 1974 về sau ông thường xuyên công tác với tiểu bang, với giới tư pháp cũng như các trường học, các cơ sở, đoàn thể công, tư… từ việc cải tiến chế độ lao tù, tạo công ích cho xă hội cho đến những chương tŕnh ngăn chặn việc học sinh bỏ học… Để có thể dành nhiều thời gian hơn cho công cuộc nghiên cứu và những hoạt động xây dựng, năm 1995 WR đă từ chức, nhường tờ Angolite cho các trợ thủ của ḿnh.
 

Với những hoạt động, đóng góp tích cực, không ngừng như vậy ông đă được trao tặng vô số giải thưởng và tuyên dương danh dự của các giới chức hành pháp, tư pháp, hiệp hội báo chí, luật gia, truyền thông, truyền h́nh…Trong số đó đáng kể nhất là:
 

- Giải Silver Gavel của Hội Luật gia Mỹ năm 1980. WR là tù nhân đầu tiên được vinh dự cao quí này trong suốt lịch sử hơn 100 năm của A.B.A.

- Giải George Polk 1980 của trường đại học Long Island. WR cũng là tù nhân đầu tiên được L.I.U trao tặng. 14 năm sau ông lại được trường đại học này trao giải một lần nữa qua truyện In For Life – ABC New’s Day One.

- Merit for Oustanding Service to the City of New Orleans 1989 do Thị trưởng N.O trao tặng. Thêm một lần nữa, WR lại là tù nhân duy nhất từ trước đến nay được vinh dự nhân lảnh bằng tưởng lục này.

- Giải Golden Eagle của CINE 1996 và giải Thurgood Marshall Justice về truyện Final Judgement: The Execution of Antonio James, sản xuất bởi Gabriel Films, Ltd – NY, chiếu trên đài Discovery…
 

Trong thời kỳ sửa soạn việc tuyển chọn giải Oscar năm 1999 cho cuốn Life Sentences, ông là chủ đề trong các bài tường thuật, phỏng vấn trên các đài Good Morning America, CBS, Fox, CNN… trên các báo nội địa Hoa kỳ và các quốc gia khác như Anh, Pháp, Đức, Úc, Hoà Lan, Bỉ… Trong hơn 30 năm qua ông luôn là đề tài chính cho vô số bài viết được quảng bá, lưu truyền khắp nơi.
 

Ngoài 2 cuốn Life Sentences và In The Place Of Justice, ông c̣n thực hiện nhiều phim tài liệu, tranh ảnh, video tape cho các lớp học… Riêng cuốn phim tài liệu The Farm chẳng những trúng giải trong kỳ đại hội Sundance 1998 mà c̣n được đề bạt giải Oscar.
 

 

● XÂY DỰNG CUỘC ĐỜI MỚI TRONG LỨA TUỔI VỀ CHIỀU
 

Nhờ sự tranh đấu của nhiều lực lượng, hội đoàn hỗ trợ để xin cải danh tội trạng, đặc biệt là sự can thiệp, tiếp tay của NAACP và Educational Fund cùng sự bào chữa của luật sư đắc giá Johnnie Cohran, ông được giảm án và tức khắc được trả tự do ngày 15 tháng 01 năm ngoái v́ thời gian ông ở tù đă gấp đôi h́nh phạt dành cho tội ngộ sát.. Nhiều người, trong đó có kư giả Mathew W. Jacobs của nhật báo Shreveport, James Gill của tờ Times Picayune, Ray I. Broussard của New Banner…cho rằng ông phải nằm khám dài đến 44 năm có thể v́ ông là một tù nhân đặc biệt và quá nổi tiếng.
 

Trong lúc mọi người cùng tuổi đang hay sắp an hưởng cảnh nhàn hạ trong tuổi hưu trí th́ Wilbert mới khởi đầu xây dựng lại cuộc đời. Một tuần lễ sau ngày được phóng thích ông đă phải đi xin thẻ căn cước v́ trước đó, khi ông đến phi trường để bay đi Washington hầu xuất hiện trên chương tŕnh Nightline theo lời mời, th́ ông bị từ chối v́ chưa có thẻ nhận dạng và giấy an sinh xă hội… Tại Nha Lộ Vận ông đă phải trưng dẫn các trang đầu của 3 tờ báo vừa đăng h́nh ông trong các bài tường thuật, sau khi WR được phóng thích. Nhờ vậy ông mới được cấp thẻ nhận dạng đặc biệt [unusual ID] để xử dụng. Ông cũng hy vọng sẽ lấy được bằng lái xe đầu tiên vào mùa Xuân năm nay.
 

WR cho biết: “Việc trước mắt là tôi cần phải làm ra tiền. Đó là một ưu tiên, kiếm tiền để lo an định tương lai, bỏi v́ tôi chỉ c̣n được vài năm để làm việc.” Vấn đề hội nhập lại với xă hội mới, rộng lớn sau hơn 4 thập niên sống trong những bức tường kiên cố, ở lứa tuổi về chiều như ông hiển nhiên không tránh khỏi nhiều khó khăn, bất tiện. Từ việc phải mua bảo hiểm sức khoẻ, tập lái xe, học cách xử dụng cellphone, thẻ rút tiền… cho đến cả việc học thắt cà vạt đối với ông có khi vẫn c̣n lúng túng, bỡ ngỡ. Linda LaBranche một chuyên viên nghiên cứu về pháp luật cho Rideau Project tại Đại học Loyola và cũng là bạn thân của ông đă nói: “Việc học lái xe không phải là điều dễ dàng ǵ đối với một người đă 63 tuổi. Việc ấy sẽ tiến h́nh một cách chậm chạp.”
 

Sau khi gặp lại gia đ́nh Wilbert cho biết: “...tôi phải tập làm quen với ư nghĩ được tự do. Tôi phải tập thích ứng với một thế giới tương đối khác biệt với thế giới trước ngày tôi vào tù….”
 

Kể từ 1997 đến nay Rideau là chủ tịch Angola Human Relations Club - một cơ quan chuyên trợ giúp những người tù già, đau yếu và gia đ́nh họ. Từ việc sắp xếp các cuộc thăm viếng, ủy lạo, cung ứng hoa quả tươi... cho đến việc tẩm liệm, chôn cất những người quá văng.
 

Qua những hoạt động liên tục, đóng góp tích cực của ḿnh trong thời gian chờ lên đoạn đầu đài, mà WR đă gíúp việc cải thiện trại cải tạo Louisiana từ một nơi hắc ám nhất, trở thành một nhà tù an toàn nhất.
 

Từ ngày được trả tự do đến nay WR đă nhận thêm nhiều giải thưởng cao quí về tư pháp và nhân quyền. Đồng thời ông đă trở thành một chuyên viên tư vấn đắc giá về tội phạm và về pháp luật. Ông cũng là diển giả thường xuyên cho các cuộc hội nghị và chương tŕnh giáo dục về luật pháp, phạm tội học. Cuốn sách mới nhất của WR là: “In the Place of Justice: A Story of Punishment and Deliverance” do Knogf Pub. Group thuộc nhà xuất bản Random House ấn hành từ 27 tháng 4 năm 2010 vừa rồi. Sách dày 368 trang, b́a cứng với giá US$26.95.
 

Đây là một cuốn tự truyện được sắp xếp, tŕnh bày theo niên biểu nói về 44 năm ông ngồi tù. Ông đă đưa độc giả từ các dữ kiện khiến ông quyết định cướp ngân hàng Gulf South National bị bắt, bị kết án tử h́nh 3 lần cho đến những sự đố kỵ, ghanh ghét, rồi giết người rồi được giải án, thoát chết và về các cuộc phỏng vấn… Năm 2007 khi được khuyến khích viết tác phẩm này, ông đă nhận được tài trợ từ G. Sogos Foundation với số tiền là 75 ngàn mỹ kim
 

Sách được nhiều cơ quan truyền thông, báo chí và người đọc ủng hộ, nhiệt t́nh khen ngợi, nhưng lại bị chính Billy W. Sinclair - hiện là một luật sư, người bạn tù đă cộng sự lâu dài với ông trong thời kỳ khổ ải và được ông đưa về tờ Angolite. Billy đă phê b́nh, chê trách, cho rằng Wilbert đă dựng nhiều chuyện không thật để tự ca tụng, đánh bóng ḿnh. Giới ủng hộ WR th́ cho rằng đây chỉ là hành vi của một thứ “trâu cột ghét trâu ăn”.
 

WR đang trù định tiếp tục viết sách và muốn chuộc lại lỗi lầm, cũng như làm những việc hữu ích để cống hiến cho đời, cho những người đă bênh vực, đặt kỳ vọng, niềm tin nơi ông bao nhiêu năm qua có thể nh́n thấy. Có nguồn tin cho rằng ngay sau khi ra tù Rideau đă được mời kư một hợp đồng đầu tiên trị giá năm trăm ngàn mỹ kim. Bây giờ, với tŕnh độ cao và nhiều kinh nghiệm, mỗi ngày được tự do đi lại, có nhiều thời giờ nghỉ ngơi, làm những điều ḿnh tâm nguyện, ưa thích, chắc hẳn đó sẽ là những niềm vui vô bờ cho riêng ông, cho một-người-về-từ-cơi-chết.
 

phan bá thụy dương

 

 

art2all.net