Thái Bạch Vân

 

 

HUẾ VẪN THƠ

 

 

Mưa… mưa mù mịt cả đất trời
Hồn thơ chùng xuống… Huế… Huế ơi
Khiến ta nhớ quá thời xưa ấy
Cảm xúc trào dâng đến nghẹn lời.


Qua cửa sổ phi cơ, tôi thấy trời một màu trắng đục, mịt mờ… Trong phi cơ vang vang lời thông báo” Không phận Huế… không phận Huế nhiêt độ bên ngoài đang là 10 độ C. “ Tôi chợt thấy lạnh buốt, vội mặc thêm áo len rồi khoác luôn cái manteau đă mang theo sẵn. Lời thông báo lại vang vang…” Máy bay sắp đáp xuống phi trường Phú Bài “… nhiệt độ bên ngoài … 10 độ C…

Nghe mấy tiếng “Phi Trường Phú Bài” tôi chợt thấy bồi hồi, vội nhoài người tới khung cửa sổ máy bay nh́n xuống. La liệt nhiều dăy đèn mờ mờ… tỏ tỏ nhấp nháy dưới màn mưa trắng. Tôi như đang thấy cái dáng buồn xưa và cái nét chịu dựng cũ của Huế đô muôn thuở…

Huế ơi! vẫn buồn xưa
Hắt hiu… ngày tháng cũ

Âm thầm trải gió mưa
 

Thật vậy, cái nét buồn đó, cái dáng âm thầm chiu đựng đó của Huế là cái đặc thù của Huế khiến cho những con người xứ Huế ḷng vẫn dằng dặc khó quên Huế thân thương, Huế dấu yêu, cho dù ở tận góc bể, chân trời… Điều này làm cho Huế đă thơ càng nên thơ hơn chăng, hỡi các nhà thơ của đất Huế?!

Phi cơ đáp xuống sân êm ái mặc dù trời vẫn mưa nặng hạt… Hành khách ra khỏi máy bay, xuống đất, bằng thang sắt rồi lên xe buưt. Xe rời sân bay đưa hành khách vào pḥng nhận hành lư. Mọi người co ro, trẻ dắt già, mẹ bế con thơ dưới cơn mưa với cái lạnh giá 10 độ C của Huế… Huế ơi, Huế vẫn nghèo… vẫn cơ cực… thật thương quá là thương.

Hành khách không có thân nhân đón tại chỗ, muốn về trạm hàng không chính trên phố Huế th́ lại lên xe buưt. Tôi cùng cô cháu chậm chân nên không kịp lên xe buưt đó; đành phải đi taxi trả gấp đôi tiền để về khách sạn khi trời sập tối… và Huế ơi, Huế vẫn mưa và vẫn thêm lạnh… như thách đố người từ xứ lạnh trở về. Huế nào có biết đâu là tôi đă khổ sở biết bao nhiêu bởi một tuần lễ bị thiêu đốt dưới cái nóng “ác ôn” bụi bặm của Sài G̣n!.

…Rồi th́ điện thoại viễn liên lời lời nhắn nhủ từ bên kia nửa ṿng trái đất dặn ḍ, nhắc nhở đủ điều... Rồi th́ điện thoại bà con bạn bè tại Huế thăm hỏi, mừng vui tíu tít, hẹn ḥ ngày mai, chương tŕnh gặp mặt... Sau đó là giấc ngủ muộn đầy mộng mị, buồn vui khóc cười lẫn lộn…

Ngày đầu tiên trên đất Huế của tôi hôm ấy là vào bệnh viện Huế thăm Họa sĩ Thái Bá, cậu em con ông chú ruột tôi đang điều trị bệnh phổi nan y ở đây… Ôi chao! ngày đầu tiên tôi đă gặp chuyện buồn rồi!! Thấy cậu ta gượng vui chào đón bà chị phương xa về mà ḷng tôi nhói buốt tuy miệng làm vui mở lời hỏi han an ủi…

Sau Tết mới sáu ngày… Cây Nêu Tết chưa hạ… Huế chưa ăn Tết xong! Tôi và bà O cùng năm tiểu Nữ họ Thái, bảy O cháu họ Thái già trẻ ra khỏi bệnh viện kéo nhau lội mưa đi tảo mộ ôn mệ trên núi Nam Giao… Những ngôi mộ đă được vun xới chăm sóc trước Tết nằm tươi tắn nh́n đàn hậu duệ thắp hương khấn vái… Có phải ông bà tiên tổ từ chín suối đang thân thương mỉm cười với chúng tôi.

Trước khói hương tỏa ngát… mưa nhẹ bay bay nghe thoảng đâu đây tiếng chuông chùa xa ngân vọng lại… ḷng tôi bỗng thanh thản nhẹ nhàng… Tôi cúi xuống nhổ mấy cây cỏ dại mới mọc trên ngôi mộ bà nội và như thoáng thấy trong cơi mơ hồ cái vẫy tay của bà… trong khi mấy kiều nữ họ Thái của tôi đang chia nhau đi cắm nhang ở các ngôi mộ láng giềng của ôn mệ chúng tôi.

Không biết dến khi nào mới trở về thăm lại nơi đây nên tôi đă chụp thật nhiều h́nh mặc dù trời mù mù dưới mưa bay… trông cảnh vật chung quanh dường như đang ngái ngủ… Với tôi th́ trông cảnh vật, cỏ cây, mộ bia trùng trùng…tiếp nối… thấp thoáng bóng dáng các cô các bà đi tảo mộ khiến cảnh trở nên thoáng chút liêu trai… mộng mị…

Trên đường về, bà O bảo xe taxi chạy chầm chậm, đưa tay chỉ những nơi có di tích lịch sử cho mấy cô cháu thấy: nào đây là cổng vào chỗ tế trời, kia là Đàn Nam Giao chỗ nhà Vua lập đàn tế trời mỗi năm một lần.

Về tới nhà cô cháu út, một bàn đầy thức ăn đặc sản Huế đă được bày sẵn: bánh bèo, bánh lá chả tôm, bánh ít kẹp bánh ram, bánh chưng Nam Phổ, bánh bột lọc, bánh ít tôm thịt; dĩ nhiên là rất đặc biệt Huế v́ loại bánh nào cũng được làm nhỏ xíu và gói rất đẹp, mới nh́n thôi cũng đă thấy ngon rồi.

Hôm sau là ngày giỗ bà thím, bà mẹ của bà O. Đám giỗ khá lớn, bà O mời bà con rất đông…Mấy chị em tôi ăn vừa xong bấm nhau chào ra về để c̣n đi thăm mộ nơi dăy đồi sau chùa Linh Mụ. Nơi đây là nơi an nghỉ của ba tôi, các chú và một số các em tôi.

Tôi vẫn c̣n mấy em sống ở Huế nên các ngôi mộ này được chăm sóc chu đáo. Nh́n mộ ba, tôi không sao cầm được nước mắt. Nhớ ngày nào trước khi đi xuất cảnh, tôi về thăm, ba tôi đă nắm lấy tay tôi ngậm ngùi nước mắt lưng tṛng nói: “Con đi mô cho ba đi với.“ Ôi! ba ơi làm sao con mang ba đi dễ dàng vậy được!!! Bây giờ th́ ba đâu cần đi với con nữa rồi phải không ba ?? Con tin là nơi ba đang ở vui hơn chốn ta bà này của con nhiều!!

Nh́n thấy tôi nước mắt ràn rụa mấy em tôi cũng cúi đầu thương cảm…

Bày biện bánh trái hoa quả, mấy chị em thắp nhang th́ thầm khấn vái từng ngôi mộ. Trời cũng lại mưa lất phất, chiều sụp xuống, cảnh đồi núi trở nên âm u, chúng tôi vái lạy lần nữa rồi xuống đồi…

Ngang qua ngọn đồi thứ hai tôi bỗng sựng lại… Đây rồi, đồi sim cũ… nơi ḥ hẹn t́nh xưa… nơi tôi với chàng – người xưa của tôi – thuở ấy đă từng bên nhau, nàng làm thơ, chàng kéo đàn vào nhạc khi trời ngả chiều, mây tím bềnh bồng loang xuống đồi sim… Tôi c̣n nhớ lúc đó: “ Tôi cùng chàng ngước nh́n phía chân trời, vài cụm mây trắng đang dần pha hồng rồi sắc tím chợt loang tới… Ôi chao huyền ảo… giờ đây trời mây như xuống thấp, rất gần với chúng tôi… Đồi sim như biến dạng chỉ c̣n là một thảm nhung tím ngát… và trời… và mây… và hoa… và hương… và sắc đang quyện lấy hai chúng tôi… chàng khẽ nắm tay tôi rồi như chúng tôi đang d́u nhau nhẹ bay lên trời…” (1)

Thoáng một cái đă qua gần năm mươi năm… Tôi bừng tỉnh khi trượt chân nơi một vũng nước, cô em đi bên cạnh đang níu lấy tay tôi… Bây giờ th́ nơi đây đă có khá nhiều ngôi mộ rải rác ở ven đồi… và chàng xưa của tôi cũng đă đang soạn ”nhạc t́nh” ở nơi xa xăm nào đó trên trời… bên cạnh những tiên ông tiên bà… tiên cô xinh đẹp… suốt ngày chỉ ca hát… không chút lo âu muộn phiền…

Chúng tôi rời đồi núi, đi ṿng về phía trước chùa Linh Mụ, tháp Phước Duyên phía trước chùa, cao sừng sững. Nơi đây cũng có rất nhiều kỷ niệm với tôi: khi c̣n nhỏ th́ dắt đàn em bảy tám đứa lên chơi; khi thành thanh thiếu nữ th́ đi cắm trại, chơi tṛ chơi lớn, lleo lên lưng chú rùa lớn bằng đá đọc chữ khắc trên tấm bia đá được dựng trên lưng rùa; khi th́ vào tháp chuông lấy guốc gơ nhẹ vào chuông rồi ghé sát vào để nghe tiếng u u u vọng ngân nho nhỏ rờn rợn bên tai; thỉnh thoảng lại mang hoa dại hái hai bên vệ đường đặt lên bệ thờ ông Thiện ông Ác được thờ như thần giữ chùa nơi tam quan chùa nằm giữa tháp bảy tầng và cái sân rất rộng trước điện Phật chính.

Ôi kỷ niệm… kỷ niệm tuyệt vời của thời hoa mộng mà ai cũng có và luôn mang theo trên đường đời đế trang trải… chống đỡ an ủi và cũng để làm vui cho ḿnh trước những đắng cay những âu lo muộn phiền, những thất bại năo nề trong trường đời… cuộc sống.

Dưới bến chùa nay có khác xưa, nơi trước kia là mấy khóm trúc thả bóng xuống nước ven sông lung linh gợn sóng… gợi thi hứng cho thi nhân :.

“ Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Linh Mụ, canh gà Thọ Xương.
”*

Chỗ này nay sạch sẽ, sáng trưng, nổi bật 3 chiếc thuyền rồng (2) túc trực ở đó, ư chừng để du khách thuê đi chơi trên sông Hương hoặc ngồi trên đó để chụp h́nh. Mấy chị em chúng tôi cũng chụp vài tấm nhưng đứng trên bờ cho thuyền rồng ké vào sau lưng làm cảnh chơi thôi v́ chúng tôi không có nhiều th́ giờ lên thuyền và để đỡ tốn tiền…- Việt kiều này nghèo quá mà …

Từ giă bến chùa Linh Mụ, bốn cô cháu chị em chở nhau trên hai chiếc “Honda ôm” trở về phố Huế… Huế vẫn mưa bay bay, chúng tôi trùm khăn và phải đội “mũ an toàn” đúng luật giao thông hiện tại ở Việt Nam… Tôi bảo hai cô em chạy xe chầm chậm để ngắm cảnh.

Nước sông Hương lăn tăn sóng gợn và nay đă trở lại trong trẻo sau mấy năm nước đục và đỏ ngầu v́ đất núi phía trên nguồn bị phá lở… Vài chiếc đ̣ dọc, chèo khua nước, thảnh thơi trôi. Chợ Kim Long đă họp nơi khác nay chỉ c̣n trơ lại cái đ́nh đứng chơ vơ buồn tênh.

Cầu Bạch Hổ im ĺm nằm dọc bên canh cầu Dă Viên ngang qua sông Hương vẫn… tư lự với màu sơn đen muôn thuở mặc mưa bay gió cuốn.

Ngang qua Vườn Ương nơi ương và trồng các loài cây và hoa giống giờ đây không c̣n như xưa, nay được gọi là Công Viên Cây Xanh vắng vẻ…đ́u hiu… hoa kiểng lơ thơ mươi chậu hoa Thược dược, vài chậu hoa Vạn thọ khiến tôi không khỏi ngậm ngùi. Thuở trước tôi cũng có nhiều kỷ niệm nơi đây, tôi đă có rất nhiều ảnh đẹp của một thời xuân sắc. Tôi c̣n nhớ tấm h́nh tôi được chụp; mặt kề bên đóa hoa hồng nhung màu vàng thắm mà “chàng của tôi” đă thu h́nh rất đẹp và đă đem ra khoe rồi ra luôn câu đối:
“Mặt hoa lồ lộ, hoa bên hoa”

và bắt tôi phải đối lại. Tôi nhớ đă đối lại:
“Mộng t́nh tỏ tỏ, t́nh bên t́nh “

Kỷ niệm nào mà chẳng đẹp nhưng mà đối với tôi kỷ niệm nào cũng mang nặng nỗi niềm…


Trên con đường xuôi xuống Huế đó tôi đă ghé Phu Văn Lâu nơi đă phát sinh câu ḥ bất hủ:


Chiều chiều trước bến Văn Lâu,
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm,
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông.
Thuyền ai thấp thoáng bên sông,
Đưa câu mái đẩy chạnh ḷng nước non
“ **


…đă vang bóng một thời nơi đă có các v́ Vua Chúa ngự ra đó ngồi câu cá giải sầu.
 

Sau bến Văn Lâu c̣n một nơi tôi phải ghé lại – Bến đ̣ Thừa Phủ – Phải, nơi đây tôi đă cùng bạn bè bao nhiêu năm trên chuyến đ̣ ngang cắp sách đến trường có biết bao là kỷ niệm thương mến thiết tha… Cái kỷ niệm khó quên nhất của tôi là vụ tôi bị “té sông“ được “người hùng Khải Định” nhảy xuống nước ẵm lên (câu chuyện dài ḍng này tôi đă ghi lại trong bài hồi kư “Đôi Mắt Quỷ Quái “…ở tập Thơ Văn Mây Tím của tôi xuất bản năm 2002)… Cho nên tới khúc đường ngay bến đ̣ Thừa Phủ, cô em tôi dừng xe… tôi vội vă đi nhanh xuống mé sông… Nhưng than ôi! nơi đây chẳng c̣n một dấu tích ǵ, cây phượng vỹ hoa đỏ rực mùa hè trên bến năm xưa chẳng thấy đâu… Ở đây bây giờ là băi đất bồi cao, cách mé nước vài mét là một căn lều bán cà phê và nước giải khát xập xệ, vài bộ bàn ghế lỏng chỏng vắng khách. Cô em tôi nói: “ Từ khi xây cầu Mới th́ bến đ̣ này dẹp bỏ luôn rồi chị ơi! “ Tôi nh́n về hướng cầu Tràng Tiền th́ thấy cây cầu Mới này cách bến đ̣ xưa không xa…

Trước khi về khách sạn tôi c̣n xuống bến Thương Bạc ngồi ở đó nh́n ghe đ̣ chầm chậm chèo trên sông và kia là cầu Tràng Tiền vẫn sáu vài mười hai nhịp như thuở nào, vẫn trắng bạc mơ màng dưới mờ mờ mưa bay, nằm vắt ngang t́nh tứ trên ḍng Hương giang lăn tăn gợn sóng.

… Ôi ! chiếc cầu thân thương…chiếc cầu yêu dấu nơi mà sáng sáng…trưa trưa…chiều chiều đàn thiếu nữ Đồng Khánh chúng tôi đi học qua đó… áo trắng tung tăng, đi đi về về … phải chăng đây là nét nổi bật, và sinh động biết bao cho cảnh sắc Huế đô. Cho Huế muôn đời, Huế Vẫn Thơ !!

Tràng Tiền ơi, bao nỗi nhớ !
Hương Giang ơi, làm sao quên
Và Đồng Khánh ơi, áo trắng thân thương
mà giờ đây đă muôn phương lạc lơng…




“Huế xưa, ôi ! Huế xưa c̣n đó
Sao người xứ Huế lạc phương xa
Tràng Tiền mấy nhịp hoài trăn trở
Bến cũ Hương Giang tím đợi chờ
” ***

Thật vậy… với thi nhân… và ít nhất với tôi, HUẾ VẪN THƠ !

Thái Bạch Vân

 

_____


Ghi Chú:


(1) Trong “ Màu Tím Hoa Sim


(2) Thuyền có chạm trổ đầu ḿnh rồng hai bên mạn thuyền.


* Ca dao

** Thơ của cụ ƯNG B̀NH THÚC DẠ THỊ và những chữ Ai ở trong bài là để chỉ Vua Duy Tân (theo lời bạn tôi – nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương, con của cụ Ưng B́nh th́ cụ thân sinh bạn đă vô cùng xúc động nên viết thành câu ḥ bất hủ trên khi nghe được tin Vua Duy Tân giả dạng thường dân ra ngồi câu cá ở Phu Văn Lâu, chờ gặp Trần Cao Vân để bàn quốc sự …)

*** Thơ Lê Hữu Minh Toán

 

 

art2all. net