Thiếu Khanh


VÀI HỒI ỨC VỀ LÀNG B̀NH THẠNH.
 

“Thiếu tiểu ly gia lăo đại hồi…”

                     (Hạ Tri Chương)

Băi đá bảy màu B́nh Thạnh - ảnh từ Fb Anh Linh
 

Làng B́nh Thạnh, cũng có tên là La Gàn, có người nói là một từ phiên âm tiếng Pháp, nhưng có lẽ là tên cổ của người Chiêm Thành xưa, là một ngôi làng nhỏ thuộc Huyện Tuy Phong, tỉnh B́nh Thuận.

 

Làng nằm biệt lập ven biển, cách thị trấn Liên Hương (Tuy Phong) về phía Tây khoảng 7 cây số, cách quốc lộ 1 với các tuốc-bin điện gió khoảng năm cây số. Vào thập niên 40 của thế kỷ XX, đó là một ngôi làng nhỏ, rất trù phú và có phong cách của một làng văn hiến cổ xưa. Đầu làng có chùa và cuối làng có đ́nh và miếu, đó là nét văn hóa giống một làng quê miền Bắc có người thi đỗ đại khoa. Trên gành đá ở biển sau làng c̣n có một Chùa Hang, tức Chùa Cổ Thạch xây trên một ngọn đồi đá, tận dụng các hang đá tự nhiên làm điện thờ Phật. Ngôi chùa trên đồi đá nh́n xuống biển xanh, có phong cảnh rất u tịch.

 

Người trong làng có hai nghề: đánh cá và làm vườn. Vườn của làng cũng nằm ven biển, kéo dài từ đầu làng cho đến gần Trại Lưới, (về phía Duồng – Phan Rí). Tất cả các khu vườn ở đây tuy nằm ngay trên bờ biển nhưng có nước ngọt quanh năm v́ ngay từ thời Pháp thuộc dân làng tự giác bảo vệ động vườn rất tốt. Động vườn là khu rừng thưa cây bụi trên vùng đất cao hơn phía sau vườn. Lớp cây cối này tuy thưa thớt đă giữ lại nước mưa trong đất phân bố đều quanh năm cho các khu vườn. Ngay từ ngày c̣n nhỏ, tôi đă được dạy và biết: tuyệt đối không một người dân làng B́nh Thạnh nào chủ động bẻ dù chỉ một cành cây nhỏ trên động vườn. Không biết sự giáo dục đó bây giờ c̣n không? Trước năm 1975 vườn chỉ trồng trầu cau là chính. Điều lạ lùng là ở một làng chài lưới biệt lập heo hút như thế mà hầu hết người làng thời đó, nhất là nam giới, lại có vẻ thi thư phong nhă, chớ không quê mùa cục mịch. Và tất cả người dân trong làng biết rơ bảo vệ cây rừng là giữ nguồn nước nuôi sống ḿnh.

 

Tôi xa làng từ khi c̣n ít tuổi, chưa có ư thức nhiều và không hiểu rơ lịch sử của làng. Về sau, hiểu biết hơn, tôi rất ấn tượng về sự trù phú và phong cách văn hóa của làng ḿnh. Cho đến khi bị chiến tranh tàn phá trong những năm 50 của thế kỷ XX, trong làng không có một túp nhà tranh lá, không một ngôi nhà xập xệ - v́ không thể chịu đựng được gió biển. Tât cả nhà trong làng, từ đầu làng đến cuối làng, đều là nhà xây kiên cố, theo kiểu nhà xưa, ba gian hai chái, rất rộng răi, mái ngói thấp, tường đá. Nhà thấp v́ làng nằm ngay trên bờ biển quanh năm đón lấy sóng gió băo bùng. Để chống lại gió băo, những bức tường nhà xây bằng đá dày tối thiểu cũng trên 4 tấc, rất vững chăi. Một bức tường nhà ông bác tôi bị đạn bom sụp đổ bày ra, không phải đá, mà được xây bằng những những chiếc lọ sành thay gạch. Những chiếc lọ h́nh ống lớn như bắp chân, được nung chín đến độ thành sành, mỗi chiếc dài phải đến bốn hay thậm chí năm tấc, xếp nằm ngang! Nhiều nhà có tường xây dày như thế. Hầu hết các ngôi nhà trong làng cột kèo rui mè đều được chạm trổ công phu, vách ngăn bằng ván lụa tức ván gỗ bào mỏng, có chạm trổ. Nhà nào cũng có sân rộng, tường thành bao bọc. Trên cổng nhà thường có khảm tên hiệu chữ Hán bằng mảnh chén kiểu. Nhà ông ngoại tôi có hiệu Nhật Quang Đường. Đến cuối những năm 50, làng đă trở thành một khu phế tích tan hoang sau chiến tranh, mà vẫn c̣n vài cổng nhà sừng sững với cánh cổng bằng gỗ lim rộng cả mét, dày hàng tấc. Cánh cổng như thế không có bản lề mà có ngơng trên cắm vào một xà gỗ loại danh mộc, ngơng dưới cắm vào lỗ khoét trong đá xanh, rất bề thế.

 

Nhiều làng có chùa; có làng có cả đ́nh nữa. Nhưng làng có đủ cả đ́nh chùa và văn miếu dường như trong cả huyện này (tôi không biết hết cả tỉnh) chỉ có ở làng B́nh Thạnh. Cho nên tôi ngờ ngày xưa làng có truyền thống học hành, và trong làng từng có ai đó đỗ đạt. Có lẽ v́ vậy, phần lớn người dân trong làng hồi đó đều có vẻ có chữ nghĩa, phong cách nghiêm trang tú nhă.

 

Bên nội tôi mất sớm từ khi bố tôi c̣n nhỏ. Ông ngoại tôi tuy bị khiếm thị từ thời trẻ, rất thông thạo thơ văn chữ nghĩa thánh hiền. Vào đầu những năm 50 ông bị tắt tĩnh mạch ở chi mà thời đó y học chưa chữa trị được, cậu tôi, một y sĩ Việt Minh, đưa ông vào “Nhà thương” Phan Thiết cắt bỏ một chân rồi bí mật đưa ông ra khỏi nhà thương, về chiến khu Lê Hồng Phong để chăm sóc. Cả gia đ́nh cậu sống trong chiến khu. Từ đó, ông ngoại tôi đi đứng phải chống nạn và gậy, thế nhưng cho đến khi qua đời tại làng B́nh Thạnh vào những năm của nửa sau thập nhiên 60, ông vẫn luôn luôn có phong cách đàng hoàng, đĩnh đạc, như những ông hương, ông chánh và những người có danh vọng khác trong làng… bạn bè của ông ngoại tôi.

 

Do khi lớn lên phiêu bạt ở nơi khác, không sống nhiều ở làng, mỗi lần về làng tôi vẫn thắc mắc về cái văn miếu rất bề thế trang nghiêm ở cuối làng, dưới chân những động cát lớn. Văn miếu của các làng ngoài Bắc là để thờ “học thánh,” “vạn thế sư biểu” Khổng Tử, và những người đỗ đạt trong làng. Không biết làng tôi có ai đỗ đạt không? Và phong cách nho nhă và sự hiểu biết “đạo lư thánh hiền” của đa số người làng có liên hệ ǵ đến sự có mặt của văn miếu không?

 

Sau năm 1954, khi người dân làng tản cư khắp nơi lần lượt quay về, ngôi làng điêu tàn giống như một di tích khảo cổ. Ngôi văn miếu hoàn toàn bị động cát phía sau chài xuống chôn lấp, chỉ c̣n một chút tượng sành màu xanh lưỡng long chầu nhật nguyệt ǵ đó trên nóc miếu nhô lên khỏi mặt cát. Người ta tin bằng cách đó, “những người khuất mặt” đă bảo vệ kiến trúc thiêng liêng này khỏi sự xâm phạm của con người và chiến tranh. Rồi tôi đi học xa nhà, không biết người ta làm cách nào dời cả cái núi cát kia đi, phục hồi ngôi miếu. Lễ hội “Nghinh ông” của dân làng (lại) được tổ chức xuân thu nhị kỳ tại đây. Trong ngày lễ hội, trống kèn ầm ĩ, cờ xí áo măo rực rỡ, thế nào người ta cũng nh́n thấy “Ông” (cá voi) phun nước ngoài biển không xa gành đá ngay trước miếu. Người ta tin “Ông” đă chứng kiến buổi lễ!

 

Biển La Gàn có đủ độ sâu không chỉ cho “cá ông” vào gần bờ mà từng là nơi diễn ra những trận chiến trên trời dưới nước giữa hải quân Nhật và không quân Đồng Minh trong Thế chiến II. Ống khói của hai chiếc tàu chiến Nhật bị đánh ch́m nhô lên khỏi mặt biển trước nhà tôi đă từng gợi lên trong trí óc con trẻ của tôi nhiều tưởng tượng. (Đến những năm 60 thế kỷ trước, những ống khói tàu đó vẫn c̣n, nhưng dường như, lâu lắm tôi chưa về làng, bây giờ chúng đă “biến mất” dưới làn nước sâu?)

 

B́nh Thạnh là một trong những làng kháng chiến chống Pháp rất kiên cường, quân Pháp bên Quận thường mở những cuộc hành quân càn quét bắt giết Việt Minh, nhưng chúng không thể trấn áp được ư chí chiến đấu của họ. Để đến B́nh Thạnh, chúng chỉ có một đường thuận tiện từ Quận băng qua trảng rừng c̣i cây bụi dài bảy cây số, rất dễ bị phát hiện. Người làng có một cách cảnh báo tin giặc rất độc đáo: Hàng ngày trong làng cử một người lên đồi cát cao ở Nghĩa Trủng, tức khu nghĩa địa sau làng, dựng một cây tre thật cao. Trên ngọn cây tre có buộc một mảnh vải để mọi người từ xa dễ nhận thấy. Người ta gọi đó là cây “.” Người có phận sự giữ , hễ thấy bóng giặc từ xa, th́ buông ngă cây để báo động. Người trong làng đang sinh hoạt làm ăn thỉnh thoảng nh́n lên cây . Nếu không thấy ngọn cây , người ta lập tức hô hoán lên: “Bù ngă! Bù ngă!” Đó là tin thông báo giặc đang tới. Người này hô chuyền đến người khác, cả làng lập tức cất giấu của cải, thanh niên, đàn ông đi trốn trước khi giặc tới. Người ta chèo xuồng (từ của quê tôi gọi ghe thuyền) ra xa ngoài biển, hoặc chạy xuống vườn, vào Trại Lưới, hoặc chạy ra ngoài Mũi (tức phần gành đá nhô ra biển) ẩn núp trong các hang đá rất ngoắc ngoéo ở đó cho đến khi địch rút đi.

 

Từ “bù ngă,” trong câu chuyện hàng ngày người ta thường nói lóng thành “bà ngủ”! Biện pháp này có hiệu quả trong một thời gian. Về sau quân Pháp biết được, chúng âm thầm đột kích giết người giữ , đồng thời giữ cho đứng yên trong khi chúng hành quân tới. Và làng bị giặc tấn công bất ngờ.

 

Vào năm 1949, tôi được 7 tuổi, một lần quân Pháp kéo tới làng. Tất cả đàn ông trong làng đều chạy thoát. Chùng lùa dân làng c̣n lại vào trong khuôn viên ngôi chùa ở đầu làng để nghe chúng “hiểu thị,” tức chúng tuyên truyền kêu gọi người làng tố giác Việt Minh. Rồi không biết sao, bỗng dưng chúng chỉa súng xả đạn vào đám dân làng, toàn phụ nữ và trẻ con, đang nghe chúng “hiểu thị” trong sân chùa, gây nên cuộc thảm sát.

 

Về sau có người thuật lại: bọn Pháp tới làng chỉ thấy phụ nữ và trẻ con, không bắt được người đàn ông thanh niên nào, chúng giận lắm. Chúng hỏi những người dân được gom lại trong sân chùa: có phải tất cả dân làng là Việt Minh không? Phần lớn người làng chẳng ai biết một từ tiếng Tây nào ngoài hai tiếng “Ùy, me-sừ” (Oui, Monsieur” - thưa ông, phải), nên khi nghe chúng hỏi, nhiều người lẹ miệng thốt lên: “Ùy, me-sừ!” Chúng hỏi đi hỏi lại, lần nào cũng nghe đáp: “phải, thưa ông,” chúng nổi giận cho rằng dân làng thách thức chúng, thế là chúng thẳng tay bóp c̣ súng.

 

Tiếng kêu khóc kinh hoàng tuyệt vọng bị át trong tiếng súng nổ chát chúa. Người ta ào ào xô lấn nhau bỏ chạy. Trong sân chùa nhiều người ngă ra chết chồng lên nhau. Mẹ tôi và tôi trong số những người may mắn ở bên trong chùa, chạy thoát ra ngơ sau. Tôi kịp thấy người ta chết như trong một cơn ác mộng. Mẹ tôi nắm tay tôi, lôi tôi chạy cùng với nhiều người nữa, trong tiếng đạn như đang bay chíu chíu trên đầu. Tới một chỗ nào đó, mẹ ấn tôi vào phía sau một lu nước lớn cạnh một bức tường. Mẹ tôi nằm khum người che cho tôi. Sau khi tiếng súng xa dần và im hẳn thật lâu, bốn bề yên ắng, mẹ tôi hớt hải lôi tôi chạy dọc theo con đường duy nhất ở giữa làng để về nhà. Cả làng im phăng phắc. Đường làng vắng hoe, trên đường lác đác có người nằm chết trên vũng máu. Quang cảnh thật ghê rợn. Tưởng chừng trong làng không c̣n ai sống sót.

 

Sau khi tàn sát người trong chùa, bọn giặc đi dọc đường t́m giết những người c̣n lại trong nhà hoặc chúng gặp trên đường đi; có người nằm thẳng, chết như ngủ, kẻ nằm c̣ng queo, có người nằm khum như đang vái lạy và bị chúng bắn chết, máu chảy lênh láng. H́nh ảnh tôi nhớ nhất là một bà cụ nằm chết trên thềm nhà “d́ Tư mẹ con Khanh,” gần nhà tôi, với cái rổ táo đổ tràn ra đất. Bà cụ bị bọn giặc giết khi ngồi bán mấy trái táo trong rổ. Tôi được mẹ nắm chặt tay kéo chạy về nhà ḿnh gần đó, vẫn ngoái lại nh́n mấy trái táo lăn lóc dưới đất bên cạnh máu me. (Làng nhỏ, mọi người trong làng như người thân thuộc biết rơ về nhau. Tôi không biết “d́ Tư” có họ hàng thân thích với gia đ́nh tôi hay không, nhưng d́ gọi bố mẹ tôi là anh chị, và con gái của d́, “con Khanh,” người lớn gọi thế, là một cô gái cùng tuổi với tôi, năm 1954 theo cha đi tập kết ra Bắc. Sau năm 1975 nghe nói cô là một y sĩ có cùng chồng trở về làng, nhưng vợ chồng cô sống ở Phan Thiết. Tôi không gặp lại.)

 

Sau biến cố tang tóc này, và những trận ruồng bố tiếp theo, quân Pháp xua đuổi toàn thể những người sống sót trong làng di cư đi nơi khác, để chúng triệt phá căn cứ của Việt Minh. Một số có thân nhân ở Long Hương (bây giờ là Liên Hương) th́ chạy qua đó nương tựa, số lớn chạy vào lập làng tạm cư ở G̣ Xanh và Cát Bay, cách Long Hương vài cây số, để tiện lén lút trở về làng cũ làm ăn trong ngày – làm cá hay làm vườn – và tiếp tế cho chồng con đi kháng chiến c̣n ở lại trong làng, hoặc để chồng con đi kháng chiến dễ ghé về thăm nhà. Nếu để quân Pháp đẩy vào sống trong quận, chịu sự kiểm soát của chính quyền thuộc quân Pháp th́ dễ bị đứt liên lạc với người thân đi kháng chiến. Hai năm sau, 1951, giặc Pháp lại một lần nữa tấn công tàn sát hàng trăm người ở làng Cát Bay. Lần này những người sống sót tản cư vào sống hẳn ở Long Hương. Làng B́nh Thạnh bị tàn phá trở thành nơi hoang vu từ đó. Chỉ c̣n các cán bộ Việt Minh lẩn lút trong ngôi làng đổ nát hoang tàn như những bóng ma.

 

Cuộc tấn công của giặc Pháp ở làng Cát Bay kinh hoàng đến nỗi người sống chạy đi hết mà không kịp và không dám trở về an táng người chết mà phần lớn bị giặc giết và ném thây vào những căn nhà bị chúng đốt. Những con chó vô chủ ở đó đă ăn xác người chết và về sau chúng tụ họp thành bầy chó đói rất hung hăn, tấn công những người lẻ loi đi ngang qua khu vực đó.

 

Tuy có thân nhân ở Long Hương, nhưng gia đ́nh tôi và gia đ́nh Cậu Ba với ông ngoại tôi dừng lại ở G̣ Xanh. Tại đây, tôi nhiều lần chứng kiến nhiều người đàn ông bị giặc Pháp bắt được từ đâu không biết, bị buộc thành hàng dài trên đường bị dẫn đi về quận. Trong số đó thỉnh thoảng có người gia đ́nh tôi có quen biết. Có khi nh́n thấy họ đi ngang qua nhà ngày hôm nay, ngày mai có tin họ đă bị tên Chang Mai cắt cổ chết tại Cầu Găy.

 

Cầu Găy là một chiếc cầu gỗ bắc qua một con rạch nhỏ chỉ cách trung tâm quận Tuy Phong chừng một cây số đường chim bay, nhưng hồi đó chỗ này c̣n rất hoang vu. Chiếc cầu nhỏ đă găy từ bao giờ và vĩnh viễn không được sửa chữa hay làm lại, v́ ḍng suối cũng cạn dần và chết hẳn. Về sau, quân Pháp dựng một lô cốt bằng bê tông trên g̣ đất nhỏ gần đó, gọi là Tua 2 (“Tua”, tiếng Pháp: Tour ) và đặt cổng kiểm soát những người dân làng B́nh Thạnh sáng về bên làng cũ làm vườn, chiều mang sản phẩm trong vườn trở về quận. Dĩ nhiên là chúng chặn nguồn tiếp tế cho kháng chiến, và tài liệu, “truyền đơn” từ bên ngoài vào.

 

Trong đám giặc Pháp thường đi “pa-trui” ( patrouille, tiếng Pháp) lùng sục Việt Minh, có tên Chang Mai, một tên người Thái, cực kỳ hung ác. Y có thói quen giết những người bị bắt mà y nghi là cán bộ Việt Minh, bằng cách trói thúc khuỷu tay và cắt cổ họ như cắt cổ gà, để họ nằm sấp rồi bỏ đi. Họ sẽ chết v́ hết máu. Một trong những người quen biết của bố mẹ tôi đă bị y giết như thế. Những người B́nh Thạnh lớn tuổi có ai c̣n nhớ mối thù với tên Chang Mai thú vật này không?

 

Bị giặc càn đến đốt nhà ở G̣ Xanh, mẹ tôi đưa các con chạy vào Long Hương. Cậu ba tôi đưa gia đ́nh theo tổ chức rút vào chiến khu Lê Hồng Phong. Sau khi mặt trận La Gàn bị vỡ, bố tôi, Xă Đội Trưởng xă Kháng chiến B́nh Thạnh, bị giặc sát hại vào năm 1951, mẹ tôi với bốn đứa con trên tay, đă gởi tôi vào chiến khu Lê Hồng Phong sống với gia đ́nh cậu mợ. Từ đó từng bước tôi đi xa dần làng B́nh Thạnh. Cho đến nay… đă gần bảy mươi năm!

 

Khoảng chục năm một lần – có khi đến… 20 năm! – tôi mới có dịp về thăm làng, lần nào cũng gặp anh chàng… Từ Thức đang ngơ ngác không gặp người quen xưa. Lớp trẻ th́ tôi không biết họ, cũng không ai trong số họ biết tôi. Lớp người lớn biết bố mẹ, ḍng họ gia đ́nh tôi th́ đă quy tiên hết rồi. Chạnh ḷng nhớ câu thơ Hạ Tri Chương: Thiếu tiểu ly gia lăo đại hồi / Hương âm vô cải, mấn mao tồi… (Xa nhà từ nhỏ, đến già mới trở về / Giọng nói người làng không đổi nhưng tóc râu đă bạc). Tóc tôi cũng bạc như tóc lăo Hạ Tri Chương, nhưng người làng của Hạ Tri Chương c̣n nhận biết lăo ta qua tiếng nói của quê hương lăo. Người làng B́nh Thạnh thậm chí không nhận ra nơi tôi giọng nói của người B́nh Thạnh –B́nh Thuận nữa rồi!

 

Thiếu Khanh

 

--------------

Nguồn :  https://www.facebook.com/thieukhanh/posts/10210615517384218

 

 

art2all.net