Thân Trọng Tuấn

 

MẤY HỘT BỤI HỜ


Kỷ niệm như sách cũ
Buồn tay giở từng tờ
Nhớ thương khơi lăng đăng
Bám mấy hột bụi hờ

Tui
California Jun 8, 2019 at 12:05 PM

 

 

NGUYỆT BIỀU – HUẾ

 

Làng Nguyệt Biều (18) nhiều vườn ít ruộng. Không có ao rau muống, nương dâu. Khoai, môn, sắn, đậu, cà vài mươi luống. Thanh trà (19), thơm, chuối, nhỡn (20), mứt (21), cau, trầu. Tre la ngà (22) soi ḿnh trong nước biếc. Ḍng sông Hương diễm tuyệt lững lờ trôi. Khe Thọ vực (23) lặng lẽ dưới chân đồi. Long Thọ Cang (24) ngậm ngùi trông cồn Kéc (25). Hồ Voi Ré (26) bốn mùa đầy ắp nước. Ngước trông lên ṭa miếu cổ Chiêm Thành (27). Độn Thành Lồi (28) từ mấy trăm năm trước. Xuôi Hổ Quyền (29) di tích chút kỳ danh!

 

Hổ quyền (Nguồn: Wikipedia)

 

Hầm đá vôi (30) đă một thời khai khoán. Ông Bồ Ghè choán đất dựng ḷ vôi. “Vôi Đá Long Thọ” nổi tiếng một thời. Tây về nước nên ḷ vôi đóng cửa. Sau hiệp định Geneve (1954), ḷ vôi lại mở. Ông giám đốc là Nguyễn Phước Viễn Đệ. Cháu của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để Nguyễn triều. Du học Pháp xong trở về lại Huế. Sống an nhàn trong biệt thự VIỄN ĐỆ cạnh bờ sông. Vùng Bến Ngự thuộc phường Phú Vĩnh. Ḷ máy vôi chỉ tượng trưng hoạt động (31). Mười chín năm sản xuất kiểu lai rai. Mùa hè đỏ lửa 1972. Lại đóng cửa cho đến năm 1977. Nhưng cũng bắt đầu từ đấy. Vôi bụi mịt mù bay bám đầy thôn Trường Đá, xóm Trạng, xóm Hầm. Sau ba mươi năm chịu đựng lặng câm. Năm 2006, dân thôn Đông Phước II của vùng Long Thọ đă đồng ḷng chận đoàn xe chở đá. Đ̣i đóng cửa ḷ vôi và di dời tất cả. Về tận vùng công nghệ Thủy Phương. Thuộc huyện Hương Thủy rất tiện đường vận chuyển. Nhà nước “nhất trí”, nhưng chờ mười lăm năm (2019) vẫn ́ ạch “bất biến”. Bụi trắng phủ đầy vườn… Tiếng ḿn phá đá hàng ngày vẫn nổ. Dân khổ thế này trời có thấu cho?

 

Nhà máy vôi của M.Bogaert và cầu sắt qua khe Thọ Vực - (ảnh chụp năm 1914)

 

Làng Nguyệt Biều cận kề xóm Phường Đúc (32), của làng Dương Xuân Thượng chỉ một khúc quanh co. Chùa khuôn Dương Biều (33) dưới chân g̣ Long Thọ. Chợ Hổ Quyền nho nhỏ. Lên tiếp trước sân ḷ vôi là bến xe sau khi qua khỏi bến đ̣. Con đường làng đổ thêm lớp đất đỏ. Hai bên viền cỏ xanh thoảng làn gió hàng tre. Trên hương lộ có cống hồ làng nằm gần con đường nhỏ. Chạy ṿng vo quanh b́a ruộng bờ khe. Đ́nh lợp ngói sừng sững trụ hoa biểu. Cây bàng trong sân rợp bóng mát ngày hè. Trong vườn có những cây dâu tiên, dâu đất, dâu lá và những cây chè xanh ngắt; chen lấn nhau quanh những cây cau thẳng tắp. Các loại cây như mít ướt, mít ráo, nhỡn ướt, nhỡn ráo, chôm chôm, b́m bịp trồng khắp trong làng. Cây bứa, cây bầng quân, cây chùm kết lơ thơ bóng dáng. Bên kia băi cát thuộc làng Lương Quán. Nghe đến tên đă ngán món thịt gà (34). Ướp nắng hè trái dưa hường, dưa quả (35). Nguyệt Biều Lương Quán bao xa? Cách một cái hói chia ra hai làng.
Năm xóm chính rơ ràng nhớ măi. Thượng, Trung, Hạ với lại Đông, Tây. Xóm Hầm, xóm Chợ mới đây. Riêng có xóm Vạn của ngày xa xưa (36). Từ cái thuở c̣n ưa kiện tụng. Bạn Nguyệt Biều cũng phải coi chừng (37). Có quan tri phủ họ Thân. Sửa lại ngạch đất hết dần kiện thưa. Ấp Đông Phước cũng vừa từ đó. Cai quản luôn xóm Vạn nhỏ cuối làng. Thượng thư, Tri phủ, quan lang. Tuy dân trú quán nhưng thuộc hàng khai canh!

 

Làng có sáu họ rành rành: Hoàng, Hồ, rạng danh. Ngô, Lê, Vơ, Phạm (38). Dân tạm cư (39) chẳng dám coi thường. Kết t́nh Tần Tấn cát tường. Vui thú nhà vườn. Ḥa thuận tương giao.
 

Khi gia đ́nh chúng tôi được đưa vào tới Huế. Bác Cả Kư luôn thể ở lại mấy ngày. Sau này tôi mới được hay. Nguyên nhân ở lại sẽ tŕnh bày sau.
 

Bác Cả Kư dáng gầy dong dỏng. Gốc Bắc kỳ, tóc vấn, khăn san. Nghề đi buôn nên giao thiệp rộng. Quen với Bác, Chú, Cô tôi nên thường giao tiếp luận bàn. Chồng tên Kư, không rơ họ, tại phố Thanh Hóa có cửa hàng tạp hóa. Như người ta, ông cũng có “hai bà”. Bà Cả Kư v́ bà là vợ cả. Người vợ hai sinh được một con trai. Tên là Kỳ cũng trạc cỡ tuổi tôi. Thích ăn lạc rang, có lần cả gan qua quán bên cạnh mua “lạc chịu”. V́ quen biết, chủ quán cũng cho thiếu. Bị cha mắng, cu Kỳ mếu xin tha! V́ đi buôn nên Bà Cả Kư thường vắng nhà. Ông nội trợ. Bà tay ḥm ch́a khóa. Tôi nhận thấy ông Kư hiền chi lạ. Suốt ngày cười, và chỉ lỡ mắng con. Lúc ở nhà ông, có lúc ông Kư rửa chân cho tôi và bồng tôi đặt vào giường ngủ.
 

Nhắc lại chuyện cũ. Sau khi đưa gia đ́nh chúng tôi từ phố Thanh vào Huế, Bác Cả Kư luôn thể ở lại với chúng tôi vài ngày trước khi về lại Thanh Hóa. Lúc này, đối xử với tôi, Bác Cả Kư tỏ vẻ thân thiện, hỏi han nhiều hơn. Hay kể là tôi ngoan cho mọi người nghe. Trái lại, thật lạ lùng, tôi lại càng muốn tránh xa Bác Cả Kư. Cảm giác tuyệt vời của đêm đầu tiên khi Bác Cả Kư bồng tôi vào giường ngủ. Một mùi hương quyến rũ dịu dàng! Ḷng vui sướng lần đầu tiên được hưởng. Và từ đó tôi quên hết mọi người. Chỉ c̣n biết mỗi một ḿnh Bác Cả Kư. Từ phố Thanh, đi Hà Nội, xuống Hải Pḥng, tới Sài g̣n. Cho đến khi ra khỏi sân ga Huế. Lên ô tô nghe Bác Cả Kư bảo “Sắp về đến nhà”. Tôi sợ hăi khóc ̣a. Lại hiện ra cảnh đấu tố hăi hùng, đói khổ tại Trường Xuân. Tôi đâu đă biết căn nhà của ông bà Nội tôi ở Huế!
 

Ga Huế năm 1945 (Nguồn: Internet)

Đối xử với tôi Bác Cả Kư vẫn dịu dàng như thường lệ. Nụ cười tươi và giọng nói ngọt ngào thăm hỏi. Bác Cả Kư vẫn ôm tôi, nhỏ nhẹ từng lời. Nhưng tôi thấy người Bác Cả Kư có mùi làm sao ấy! Tôi tê liệt, đứng yên, không động đậy. Bác cười buồn, thở nhẹ “Cái thằng này!”. Bác Cả Kư đứng sát bên tôi đây nhưng cách xa hơn đi ra Thanh Hóa! Chỉ mới có mấy ngày đă cũ nát xa xưa! Một câu nói báo tin rất tốt, rất vui, rất thành thật nhưng tôi nhận nó như một liều thuốc độc. Đến bây giờ tôi chỉ c̣n nhớ vành khăn vấn, mảnh áo tứ thân thắt ngang trước bụng! Có lẽ Bác Cả Kư đă qua đời, nhưng tôi không xúc động. Phải chăng tôi là một kẻ quá vô t́nh, chẳng một chút biết ơn?

 

Sau này, anh chị em chúng tôi cũng có lúc nói chuyện với nhau về Bác Cả Kư. Bác ở lại Huế để chờ thợ kim hoàn đánh cho xong quả cầu vỏ đồng tḥa trong đổ vàng của chùm ch́a khóa. Tiền mua vàng từ hai vạn bạc công (40). Do Bà Nội, các Bác, Chú, Cô, Anh, Chị cùng chung góp trả.

 

Vườn của Ông Bà Nội thật là rộng chi lạ. Hàng rào trước đường trồng toàn cây lá “chằm tơi” (41). Cổng ra vào có hai trụ vuông cao lớn bằng vôi. Hai hàng chè tàu (42) đưa vào nhà được “xắp” bằng kéo lớn thiệt thẳng thớm vuông dài ngay ngắn. Bồn hoa h́nh bán nguyệt trước cái b́nh phong chia ra làm hai lối vào sân. Hàng cột gỗ, cửa bàng khoa (43) của căn nhà cổ kính.

 

Ông Nội tôi cho cất xong ngôi nhà trên vào năm 1922. Với mấy vỏ ṣ tuyệt đẹp, ông cho khảm vào tường ghi năm cất nhà, với hai câu đối: “Vô địa lâu đài thừa văng giả - Kỳ đồ đơn hoán vọng lai tư” 無樓臺乘往者 其涂丹喚望來兹 (44). Mấy căn c̣n lại không thấy khảm ghi ngày khởi công xây cất. Nhà của ông bà nội xếp theo h́nh chữ T gồm bốn cái liền lạc: Nhà trên, nhà dưới, nhà giữa và nhà bếp. Trước mặt ngôi nhà trên liền với hàng hiên có dựng một ngôi nhà mát lợp tranh, h́nh chữ nhật, cao ráo dựng trên 8 cái cột vuông, bệ gạch gọi là nhà “vỏ cua”. Trên gian giữa treo tấm biển gỗ sơn son thếp vàng khắc mấy chữ “Ṭng Ngũ Phẩm Nghi Nhân” 從五品宜人(45). Lại có gác một cái đ̣n vơng thật dài, hai đầu uốn cong có chạm trổ (46).

 

 

Thái B́nh Quan Phủ 太平官府
Làm quan to nhưng luôn b́nh dị như học tṛ nghèo.

 

Nhà trên, nhà dưới, nhà giữa lợp ngói liệt. Nhà bếp lợp tôn. Nhà trên, nhà dưới là loại nhà ngói cây mít, gồm ba gian, hai chái, ngăn vách đố gỗ. Bên ngoài hai chái và mặt sau nhà dưới, nhà giữa, nhà bếp xây tường gạch, trát vữa quét vôi. Nhà trên, nhà dưới có ba bộ cửa gỗ bằng khoa, có chế ngàm để bỏ bổ (47). Cửa sổ lá sách, song gỗ tṛn. Chái nhà trên có trổ cửa thông ra vườn đi ra giếng nước. Trong chái kê sẵn hai cái quan tài làm bằng gỗ cây thị dành cho bà Nội và cô Kim. Lại có một phiến đá tảng Thanh Hóa mát lạnh không ai dám nằm. Những cột gỗ mít kê trên đá tảng, có treo câu đối sơn son thếp vàng. Gian giữa kê ba bàn thờ từ trong ra ngoài để thờ từ ông Cao Tổ trở xuống. Sập gụ, ghế tràng kỷ, giường ngủ, kho chái kê sắp thứ tự, ngăn nắp. Phần dưới nóc nhà là một cái “tra” như kiểu một cái kho thượng. Sàn nhà tráng xi măng. Nhà dưới to hơn nhà trên, lát gạch Bát Tràng vuông, có cửa thông thương nhà trên và nhà dưới. Cũng có tra, chái. Chái cuối chia buồng chứa những lu cau khô. Một phần chái nh́n ra sân làm buồng tắm. Một góc sau vườn có bồn cầu giật nước sản phẩm của Pháp, hầm cầu cho bà Nội. Trước khi xuống nhà giữa có lẫm, ánh sáng chiếu vào lẫm bằng tấm kiếng trên mái. Nhà dưới là nơi tiếp khách, gồm bàn, ghế, sập gơ, ngựa mít, giường tiện, v.v. Nhà giữa dùng làm nhà ăn, có cái bể cạn chứa nước mưa và nước giếng. Có cái lẫm chứa lúa thật lớn. Dưới sàn lẫm là hầm chứa chén bát rộng răi. Xuống khỏi nhà ăn là nhà bếp. Có cửa thật lớn thông ra vườn. Cạnh cửa này là chuồng nuôi heo. Trên chuồng heo là chuồng gà. Có cửa sổ thông chuồng gà và nhà bếp. Lại có kê máy quạt lúa và cối xay lúa. Bếp cao ngang tầm đứng nấu. Phía trong, khuất sau bếp có xây nhà tiêu hiện đại xối nước theo kiểu Sài g̣n sạch sẽ!

 

Di cư vào Nguyệt Biều năm 1954. Trong bức vách gian giữa nhà dưới, cạnh cửa sổ, có treo tấm lịch năm Giáp Ngọ bóc từng tờ hàng ngày, in h́nh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, mặc âu phục trắng, cỡi con ngựa đỏ thấy thật đẹp. Thời c̣n ở Thanh Hóa, tôi có thấy bộ đội cỡi đủ loại ngựa đi ngang qua xă hay ghé nhà chúng tôi ở làng Trường Xuân ăn bữa cơm “đoàn kết”, h́nh ảnh người cỡi ngựa chẳng có ai đẹp bằng h́nh b́a lịch của Ngô Tổng Thống.

 

Được ít lâu, các Bác, Cô, Chú đều sợ chúng tôi buột miệng nói cái tin Ba bị sát hại vẫn muốn giấu bà Nội, nên cho chúng tôi vào nội trú trường Trung Ḥa thuộc ḍng Phú Xuân nhưng ở ngay xóm Trung làng Nguyệt Biều. Anh chị tôi chỉ ở một năm v́ chị được được chú và anh được cậu lănh về nuôi. Riêng tôi phải ở nội trú đến ba năm, măi khi bà Nội qua đời mới về ở với cô Kim. Người em gái vẫn ở luôn với Me tôi. Chúng tôi đă có nếp sống b́nh an, không phiền nhiễu.

 

Những ngày đầu khi vào tới Nguyệt Biều, v́ trước kia bị đói khổ thiếu ăn suốt hai năm liền tại Thanh Hóa nên cơ thể của tôi bị suy dinh dưỡng trầm trọng. Người gầy nhom, lỏng khỏng như “bộ xương cách trí” bị chế nhạo là “thằng ngồi đầu gối cao quá tai”. Rất nhiều lần, một vài người cùng học chung trường Trung Ḥa đ̣i bẻ thử cánh tay ốm tong teo của tôi để xem thử nó dễ găy như thế nào. Tôi lại có cái bụng ơng thè lè đầy giun sán. Mỗi buổi sáng phải ăn viên kẹo xổ sán đầu tiên. Phải tŕnh báo “đi ra sán” mấy tháng liền theo từng ngày một. Kể ra thiệt ốt dột! Khốn nạn sán với giun! Rồi cũng qua đi thứ sán lăi trông giống như trùn. Nhưng vẫn c̣n chứng có khi bụng buồn đau thắt ruột! Vài ba ngày bị đè ra chích thuốc. Lại c̣n cho thuốc ḥa nước ấm chuyền vào bụng từ hậu môn xổ cho thông! Số thật may v́ nội trú nhà ḍng. Có y tá, thuốc men đầy đủ. Những cơn ác mộng thường xuyên đày đọa trong giấc ngủ. Chứng mộc đè (48), bị ăn thịt, què chân. Rồi một bữa mơ thấy hai bàn tay bị rút gân. Mấy ngón tay bị teo nhỏ gần mất dạng. Quá sợ hăi, trong cơn mê hốt hoảng. Bàn tay này kéo loạn ngón tay kia (49)! Có ngờ đâu trong lúc suy yếu hôn mê! Được nhận phép bí tích trước khi về nước Chúa! Khi tỉnh lại. Thiệt phước đức ngàn năm một thuở! Sống lại rồi, có tên thánh Giuse! Bệnh đau bụng giảm dần và không hề tái diễn! Bà Nội mất, rời nhà ḍng vĩnh biệt Lu Xi Phe quỷ dữ!

 

Khi vừa vào nội trú trường Trung Ḥa tôi đă đọc được chữ. Kiểu vỡ ḷng và thuộc mấy cửu chương. Nhờ trước kia đă được dạy đầy đủ. Cách sống trong nhà cũng như lúc ra đường. Thông Tín Bạ (50) ghi tháng đầu tiên đứng nhất. Và dần dần xuống hạng chót suốt ba năm! V́ hàng ngày thường phải nằm trên giường chứ ít ngồi trong lớp. Ăn cháo thường xuyên và rất ít ăn cơm. Thân bệnh hoạn ốm nhom như cây củi. Đầu to hơn ḿnh thui thủi một nơi!

 

Bà Nội mất nên cũng thôi nội trú. Ở với cô Kim và xin đi học trường làng. Xem Thông Tín Bạ cô thở dài chán ngán. Rồi cậy người cáng đáng lo toan: Chỉnh sửa lại tên và ngày tháng năm sinh trong Chứng Chỉ Thế V́ Khai Sinh hoàn toàn mới. Học lại lớp Ba và rất mất công theo cái Chứng Chỉ Học Tŕnh (51)!

 

Lớp Ba học tại đ́nh làng Nguyệt Biều. Lớp Nh́ và lớp Nhất dời ra dăy nhà ngói trên dốc Hổ Quyền gần chợ. Cũng nhờ đó mà có dịp vào những buổi trưa khi ở lại trường: Lên chơi đài Hổ Quyền, tắm hồ Con Voi Ré, hái sim trên độn Thành Lồi! Thấy mấy ông lính người Việt nam Mới (52) trên đồn đồi Long Thọ. Qua miếu Chiêm Thành nh́n lén ngó Mụ Hời. Ghé chùa khuôn Dương Biều xem thợ làm khuôn đúc chuông cho chùa Xá Lợi!

 

Sau hai mươi năm có quá nhiều thay đổi. Tráng nhựa con đường làng và mở rộng ḷ vôi. Dựng trụ điện, ruộng sâu bồi đất lấp. Hàng quán dựng lên, giao thông tấp nập. Xây nhà lầu, sửa lại cống, cầu, đê. Thiệt tội nghiệp cho mấy rồn tre. Cùng hàng nhăn bên lề đường bị đốn sạch! Vườn Nậy, vườn Cam, vườn Trong liệt vào danh sách (53). Xin tặng ủy ban làng xă để được yên thân! Nhà dưới, nhà giữa, nhà bếp lần lượt bán dần. Giá quá rẻ trả bằng vàng mấy phân vài chỉ! (54) Ngôi nhà trên nhất định phải giữ. Dùng làm của hương hỏa thờ tự gia tiên! Về sau có được ít tiền. Xây căn nhà nhỏ kế liền nhà trên (55). Để tránh lụt lên thêm tầng nữa. Kiểu nhà tây kề dựa nhà xưa. Văn minh biết mấy cho vừa. Đổi đời hiện đại vẫn thua người rừng!

 

Trong lớp bụi chập chùng bay lượn. Hột li ti vướng ánh mặt trời. Thẩn thờ liếc mắt coi chơi. Bụi hờ nghễnh ngăng buông lời vu vơ!

 

Thân Trọng Tuấn

California 25 tháng 6 năm 2019
 

_________________

 

Ghi chú:

 

(19) Thanh trà: Thuộc họ Chanh Bưởi (Citrus aurantiifolia), h́nh quả lê, nhỏ hơn bưởi Biên Ḥa, rất ngon, thuộc loại trái tiến vua. Chỉ trồng ở mấy làng ven sông Hương như Nguyệt Biều, Lương Quán, An Ninh, Lưu Bảo, v.v. Đừng lầm với trái thanh trà nấu canh chua miền nam (Bouea macrophylla).

(20) Nhỡn: Tức là nhăn. Loại nhiều nước gọi là nhỡn ướt. Loại cùi dày, ít nước thường dùng bọc hột sen nấu chè gọi là nhỡn ráo. Có loại nhỡn khi chín hột vẫn trắng từ Thanh Hóa đưa vào.

(21) Mứt: Cây mộc mứt. Thân cao, sứa gỗ mịn thường dùng làm khuôn dấu, guốc. Thông dụng trồng cho giây trầu leo.

(22) Tre la ngà: Loại tre cao lớn, có gai, đa dụng. Thường dùng làm nhà, giường, đan rỗ rá.

(23) Khe Thọ vực: Khe nhỏ thường cạn nước, dưới chân g̣ Long Thọ, có cầu bắt ngang, sát nhà máy vôi, chảy ra sông Hương.

(24) Long Thọ Cang: Nguyên thuộc đất kinh đô Phật Thệ của Chiêm Thành. Thời Chúa Nguyễn gọi Long Thọ Cang, thuộc huyện Thọ Vực. Sau là Thọ Cương, thuộc xă Cư Chánh. Triều Gia Long cải thành Thọ Xương.

(25) Cồn Kéc: Nghĩa trang của làng Nguyệt Biều, gần g̣ Long Thọ và hầm đá vôi. Truyền rằng hàng năm, vào mùa đông, chim kéc mỏ đỏ hay chim keo mỏ đen trên núi Trường Sơn bay về từng đàn, hạ xuống ăn đất nên có tên là Cồn Kéc.

(26) Hồ Voi Ré: Dưới chân đồi Long Thọ và độn Thành Lồi. Hồ h́nh vuông, lớn vài mẫu. Tương truyền có con voi ré lên trước khi chết ở đây. Trên bờ có đền Voi Ré.

(27) Miếu cổ Chiêm Thành: Cạnh đền Voi Ré. Người Chăm cuối cùng sống ở đây mang họ Sạ, tục danh mụ Hời.

(28) Độn Thành Lồi: Tương truyền độn được người Chiêm Thành đào đất đắp thành trong cuộc tranh tài giành đất với người Việt. Chỗ đất bị đào thành hồ Con Voi Ré. Độn Thành Lồi khác với Thành Lồi.

(28) Hổ Quyền: Nơi dành cho voi và cọp đấu nhau. Xây năm Minh Mạng thứ 11 (1830) tại xóm Chợ, thôn Trường Đá, làng Nguyệt Biều.

(30) Hầm đá vôi: Ḥa ước 1886 có ghi “Thừa Thiên bất khả khai khoán”. Năm 1895, hai ông Nguyễn Thân và Hoàng Cao Khải lộng quyền thông đồng với ông khâm sứ cho ông Bogaert (Bồ Ghè) lấn chiếm đất đồi, khai thác đá vôi ở thôn Trường Đá, núi Nguyệt Biều. Ông Thân Trọng Huề tâu lên vua Thành Thái. Ông Bồ Ghè thua kiện nhưng năm 1898 với thế lực của Pháp, ông Bồ Ghè vẫn được phép mở nhà máy vôi Long Thọ. Ông Bồ Ghè c̣n giúp dân làng Xuân Ḥa muốn chiếm ngọn đồi sau chùa Thiên Mụ của làng An Ninh làm nghĩa địa nhưng thất bại. (Xem thêm: An Ninh Thương Hạ). Năm 1915, ông Bồ Ghè phải nhường nhà máy vôi cho công ty của ông Rigaux. Năm 1934, ông Gallois lên thay ông Rigaux. Năm 1945, ông Gallois về nước, nhà máy vôi đóng cửa.

(31) Có khi ḷ vôi ngưng nghỉ hàng mấy năm. Liền sau Tết Mậu Thân 1968, ḷ vôi là nơi tạm giam để thanh lọc thanh niên khi vừa giải tỏa cũng như làm trại tạm cư cho dân ba làng Dương Xuân Thượng, Nguyệt Biều và Lương Quán.

(32) Xóm Phường Đúc: Xóm cuối của làng Dương Xuân Thượng, chuyên nghề đúc đồng.

(33) Chùa khuôn Dương Biều: Bây giờ là chùa Long Thọ. Năm 1960 đúc chuông lớn cho chùa Xá Lợi. Lần đầu bị nổ. Lần thứ hai mới thành.

(34) Có câu: Bất thực Lương Quán kê nghĩa là không nên ăn thịt gà làng Lương Quán v́ độc, nổi phong ngứa.

(35) Dưa hường, dưa quả: Giống như dưa hấu nhưng h́nh bầu dục, lớn vừa ḷng bàn tay, dùng ăn sống, nấu canh hay muối chua, trồng trên băi cát làng Lương Quán. Băi cát có tên Lại Bái châu tức băi Rái lạy.

(36) Có câu: Bất giao Nguyệt Biều hữu nghĩa là không kết bạn với người Nguyệt Biều v́ người Nguyệt Biều thích kiện tụng. Cử nhân Thân Trọng Cảnh giữ chức Tri Phủ Tuy Ḥa (1896) và Đốc Học Khánh Ḥa (1909), tinh thông địa lư, sửa lại hướng miếu thành hoàng làng Nguyệt Biều tại xóm Vạn, nơi giữ bằng sắc vua ban. Ứng nghiệm. Tiên chỉ của làng Nguyệt Biều danh xưng Quan Tiên là Hoàng Trọng Đàn cùng hội đồng Hương đảng phong Thân Trọng Cảnh làm khai canh xóm Vạn tức là xóm Vạn Phước, hàng năm có lệ tế xóm cúng ngài khai canh Thân Trọng Cảnh. Tư dinh Thân Trọng Cảnh cách con đường xuống bến đ̣ chèo sang Văn Thánh tục gọi bến Phủ, nh́n sang bên kia đường là miếu thành hoàng làng Nguyệt Biều. Xóm Vạn Phước có phường cụ thượng Đặng Đức Siêu, tư thất cụ thượng Thân Trọng Ngật, Tư dinh tri phủ Thân Trọng Cảnh, Tư dinh tri phủ Thân Trọng Dược là phụ thân bác sĩ Thân Trọng Phước nguyên giám đốc bệnh viện trung ương Huế, tư điền tri huyện Tôn Thất Cầm, lạc điền Tôn Thất Triêm là nhạc phụ hai tướng Lữ Lan và Tôn Thất Đính, và ông Kiểm Duật người công chức hiền lành ai cũng mến! Sau khi dời xóm vạn đ̣ qua bên kia Văn Thánh, xóm Đông Phước đổi thành ấp Đông Phước rồi thôn Đông Phước và bây giờ là thôn Đông Phước I cuối làng, thêm một thôn Đông Phước II ở đầu làng Nguyệt Biều gần nhà máy vôi Long Thọ. Chúng tôi có biên bản vụ kiện tranh chấp địa giới giữa làng Nguyệt Biều, làng Dương Xuân và làng Xuân Ḥa vào tháng hai nhuận năm thứ 10 triều Gia Long (1811).

(37) Riêng có xóm Vạn của ngày xa xưa: Trước kia có một số dân chài cư ngụ. Hàng ngày khoảng 2 giờ chiều vào làng bán cá, tôm. Mùa mưa lụt có bán loại cá trôi tức loại cá chép cỏ ngon béo.

(38) Sáu họ: Hoàng trọng, Hồ xuân, Ngô đ́nh, Lê viết, Vơ bá và Phạm văn.

(39) Dân tạm cư gồm các họ Đặng đức, Nguyễn văn, Thân (Thân văn, Thân bá, Thân trọng, Thân thúc), Tôn thất và một phiên hệ của Nguyễn Phước Tộc.

(40) Hai vạn bạc công: Tiền công trả cho Bác Cả Kư đưa chúng tôi vào Huế là hai mươi ngàn đồng. Không biết rơ một lượng vàng lúc này giá bao nhiêu, chỉ nhớ mang máng là 300 đồng. Trong làng Nguyệt Biều tiền mướn người làm vườn một ngày gồm 8 giờ làm và 2 giờ nghỉ trưa bao ăn trưa và bữa lỡ là 15 đồng cho đàn ông, 12 đồng cho đàn bà. Lương lính 600 đồng 1 tháng. Tiền qua đ̣ 1 đồng. Tiền xe từ ḷ vôi xuống ga Huế hay chợ Đông Ba tùy chặng và gánh hàng giá từ 1 đồng đến 3 đồng. Xem thêm thời giá vào tháng 8 năm 1954 trong bài “Từ Hà Nội đến Saigon” của Lữ Tuấn: “…Trợ cấp tiền mặt một ngày cho mỗi người lớn 12 đồng, trẻ em 6 đồng, dư để ăn ba bữa tươm tất. Lúc ấy một bát phở hay một tô hủ tiếu giá 3 đồng, một bữa cơm ở quán ăn xă hội hai món canh và mặn giá 5 đồng. Chai bia 3 đồng kể cả nước đá, một gói thuốc lá Ruby 8 đồng. Lương giáo viên tiểu học khoảng hơn 4,000 đồng, lương trung sĩ 2,200 đồng, lương cán bộ ngang lương thấp là 1,500 đồng. Một căn nhà gỗ lợp tôn 4×20 mét ở mặt đường khoảng chợ Ḥa Hưng giá chừng 30,000 đồng. (Hết trích)”

(41) Cây lá “chằm tơi”. Thuộc loại cây cọ nhỏ (Arecaceae). Hàng năm vào mùa xuân, chặt những lá non c̣n búp sắp nở, phơi khô xong đập vỗ xuống đất cho “tơi” ra, dùng kết làm áo đi mưa gọi là áo tơi. Loại lá xấu kết làm áo tơi đọt. Xấu nhất là áo tơi cá.

 

Áo tơi (Nguồn: LIFE Internet)

(42) Hai hàng chè tàu: Giống như cây chè (trà), lá nhỏ, mọc mạnh, chịu cắt tỉa, trồng làm hàng rào.

(43) Cửa bàng khoa: Cửa gỗ, có thể tháo rời, xếp từng bộ.

(44) “Vô địa lâu đài thừa văng giả - Kỳ đồ đơn hoán vọng lai tư” 無樓臺乘往者 其涂丹喚望來兹. Ông Nội của tôi thuê người viết lại Gia phổ bằng chữ quốc ngữ gốc Latin sau khi ông dịch từ chữ Hán, ghi rằng: “Ông bà làm quan thanh liêm không cần chỗ ở. Con cháu nối sau thạnh vượng có lẽ hơn chừ”. (Gia Phổ họ Thân - 1931)

(45) “Ṭng Ngũ Phẩm Nghi Nhân” 從五品宜人: Tháng chạp năm Khải Định thứ bảy (năm 1922) vua sắc tặng cho sinh mẫu của ông Nội tôi (tôi gọi là bà Cố Nội) tấm biển gỗ sơn son thếp vàng này. Ông Nội tôi thọ hàm thượng thư ṭng nhất phẩm nên bà Cố mới được thọ lănh ṭng ngũ phẩm.

(46) Việc đi lại di chuyển của các quan văn ngày xưa thường dùng vơng do hai người khiêng. Cái đ̣n vơng thật dài, hai đầu uốn cong vồng lên, có chạm trổ và nơi bắt đầu cong có hai cục u để mắc vơng. (Xem h́nh: Cái đ̣n vơng trong h́nh này ngắn. Cái đ̣n vơng của ông Nội rất dài, khúc giữa bằng một gian nhà vỏ cua).

 

Vơng (Nguồn: Internet)

(47) Bỏ bổ: Cây gỗ dài dùng chận nguyên cả bộ cửa bàng khoa chống gió băo.

(48) Chứng mộc đè: Bị bệnh, ngủ mê cảm thấy nghẹt thở, nói không được, ú ớ, đi bên bờ vực, sắp bị hại, sợ hăi, thấy bị rượt đuổi nhưng chân lính quưnh không nhấc được, thấy mặt trời rơi rụng nóng toát mồ hôi… v.v. Truyền rằng trong nhà có con ma mộc nên bị mộc đè khi ngủ.

(49) Bàn tay này kéo loạn ngón tay kia: Bệnh nguy cập, người bệnh mê sảng, hai bàn tay vuốt vào nhau gọi là bắt chuồn chuồn trước khi chết.

(50) Thông Tín Bạ: Sổ ghi sức học cả năm, phân rơ từng tháng và lời phê.

(51) Chứng Chỉ Học Tŕnh: Giấy chứng nhận lớp học cuối cùng, thường dùng khi chuyển trường.

(52) Việt nam Mới: Lính người thiểu số vẫn gọi là Mọi hay người Thượng.

(53) Vườn Nậy, vườn Cam, vườn Trong: Ba sở vườn mua bằng tiền ông Nội làm bài thuê cho những người cùng dự thi v́ nổi danh là ông đầu xứ trong những buổi thi Hương lấy Tú Tài, Cử Nhân. V́ phải làm thuê bài thi không có th́ giờ làm bài cho chính ḿnh nên bị hỏng liền hai kỳ. Lần cuối, niên hiệu Thánh Thái thứ 15, khoa thi Quư Măo (1903) chú của ông Nội là Đông Các Đại Học Sĩ Thân Trọng Huề sai ông Thân Trọng Phỉ theo vào trường thi, kiếm đủ cách kèm giữ ngăn chận không cho giao thiệp với các thí sinh nhờ viết bài thuê nên mới đậu Cử Nhân, nhưng ông Nội cũng kiếm được 60 đồng mua thêm được sở vườn 6 sào, là một phần đất của nhà thờ hiện tại và có đủ tiền khoản đăi theo lệ vinh quy.

(54) Giá quá rẻ trả bằng vàng mấy phân vài chỉ: Liền sau 1975, giá nhà quá rẻ không thể tưởng tượng.

(55) Xây căn nhà nhỏ kế liền nhà trên: Trên nền nhà bếp cũ, sau năm 1975 chú Út con ông Nội cho xây căn nhà nhỏ hai tầng do tiền con trai từ Mỹ gởi về.



 

art2all.net