Túy Việt

 

Ethiopia: Những cái đầu tiên

 

 

          Ethiopia có diện tích rất lớn: 1,104,300km2 (một triệu một trăm không bốn ngàn ba trăm kilo mét vuông, hơn gấp ba lần VN), dân số 102,403,196 người. Địa h́nh bao gồm núi non lẫn sa mạc, ở gần biển Hồng Hải và Ấn độ dương nhưng không có ranh giới bờ biển. Họ có ngôn ngữ và chữ viết riêng - được biết đă có mặt từ thế kỷ thứ 9 trước tây lịch - đang xử dụng trong đời sống thường ngày. Tuy nhiên Anh ngữ được chọn dạy song song từ tiểu học cho nên nhiều người có thể nói tiếng Anh khá dễ dàng.

 

 

 

(https://commons.wikimedia.org/wiki/Atlas_of_Ethiopia)

 

 

 

 

ä

u

i

a

e

ə

o

wa

[ə] or [a]

[ɨ]

[jə]

Hoy

h

 

Läwe

l

 

Ḥäwt

 

May

m

Śäwt

ś

 

Rəʾs

r

Sat

s

 

Ḳaf

 

Bet

b

 

Täwe

t

 

Ḫarm

 

Nähas

n

 

ʾÄlf

ʾ

 

Kaf

k

 

Wäwe

w

 

ʿÄyn

ʿ

 

Zäy

z

 

Yämän

y

 

Dänt

d

 

Gäml

g

 

Ṭäyt

 

P̣äyt

 

Ṣädäy

 

Ṣ́äppä

ṣ́

 

Äf

f

Psa

p

 

Chữ viết (Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Ge%27ez_script)
 

Họ có lịch sử rất dài và đă giữ được độc lập trong suốt thời kỳ các đế quốc châu âu bành trướng thuộc địa tại châu Phị. Họ chỉ bị Ư kiểm soát một thời gian ngắn từ 1936 đến 1941.

 

Đất rộng, dân đông nhưng Ethiopia vẫn là một nước nghèo, lợi tức đầu người khoản US$550.00 vào năm 2017.  Lư do họ chưa kịp thời kỹ nghệ hoá, 80% dân số sống về nghề nông nhưng lại thiếu nguồn nước.  Nhiều nơi khô hạn kéo dài khiến cho nước càng khan hiếm hơn, nước uống c̣n thiếu, nước sinh hoạt th́ bị ô nhiễm gây nên các bịnh truyền nhiễm như dịch tả, tiêu chảy ... Đó là nguyên nhân chính dẫn đến cái chết của rất nhiều trẻ em dưới 5 tuổi.  Thỉnh thoảng, trên đường đi, ông tua gai chỉ cho thấy dân chúng phải đứng xếp hàng để hứng nước ở những nơi có nguồn suối chảy ra.

 

Xếp hàng hứng nước
 

Điều nghịch lư là đây là nơi xuất phát của ḍng sông Nile nhưng nước lại không đủ dùng cho dân chúng. Sông Nile xuất phát từ hồ Tana, thuộc thành phố Bahir Dar, tỉnh Amhara. Từ đầu nguồn và 800 km chảy trong Ethiopia cùng 450km chảy qua Sudan, sông có tên gọi là Blue Nile (http://allafricafacts.com/the-blue-nile-river/). Đến Khatoum - thủ đô Sudan - sông Blue Nile hợp với sông White Nile, xuất phát từ các quốc gia lân cận ở phía Tây Ethiopia, lập thành sông Nile, chảy qua Aicập và đổ vào biển Địa trung hải . Điều đáng buồn cho Ethiopia là bao nhiêu lợi thế của sông Nile đều đổ về Ai cập. Nhờ ḍng sông này Ai Cập đă phát triển một nền văn minh sâu sắc, bỏ lại Ethiopia đằng sau với khó nghèo dai dẳng, thiếu thốn triền miên ...

 

Hồ Tana

Đầu nguồn sông Nile

 

Sông Nile (chảy từ nam lên bắc)
(Nguồn: internet)

Ehiopia là quốc gia theo đạo Christian, được du nhập vào đây vào thế kỷ thứ 4, AD (https://en.wikipediạorg/wiki/Religion_in_Ethiopia) bởi nhà vua Enzana (330-356 AD) và cũng chính Nhà Vua đă chuẩn y Christian là quốc giáo. Họ trở thành quốc gia đầu tiên theo thiên chúa giáo. Vào cuối thế kỷ 12, đầu thế kỷ 13, nhà vua Lalibela được thấy Jerusalem nên muốn xây một Jerusalem mới tại kinh đô của Ông.  Các nhà thờ Ông muốn xây đều có cùng một lối kiến trúc đặc biệt là đục xuống một tảng đá duy nhất để bày tỏ tính duy linh và ḷng khiêm tốn của giáo dân.


Theo lối xây này, trước hết người ta phải đục đá chung quanh, chừa lại một khối đá ở giữa. Sau đó mới đục khối đá này làm thành cửa, thành cột và khắc họa hoa văn trên tường cùng trần nhà. Đáng tiếc một điều là các nhà thờ đều không được thiết kế đèn chiếu sáng nên chi du khách khó thể chụp h́nh các hoa văn trang trí bên trong nhà thờ.


Thành phố này sau đó được mang tên Ông, và các nhà thờ đá đục đang là nơi thu hút du khách từ khắp nơi trên thế giới.

 

 

Các nhà thờ đá đục

 

Lối vào nhà thờ

Hoa văn trang trí

 

Họ là một trong số các di dân đầu tiên từ Châu Phi vượt cửa biển Hồng hải, men theo bờ bán đảo Ả rập rồi đến Ấn độ vào khỏan 85,000 năm trước. Hàng chục ngàn năm sau, từ Tích Lan họ đi dọc theo bờ biển Ấn độ dương đến miền Tây Nam Dương, tiếp tục đi lên miền bắc đến Nam Trung hoa.

 

(Nguồn:    https://www.youtube.com/watch?v=GGqgaK-9els)

Trở lại bước đầu tiên khi đến Ấn độ, họ tổ chức xă hội, đặt nền móng cai trị ở đây; và quan trọng hơn hết họ là người đầu tiên sáng tạo chữ viết sanskrit .

 

(Nguồn: https://www.youtube.com/watch?v=vg304CUJr4w)

 

Dĩ nhiên có nhiều tranh căi về vấn đề này, nhưng nhiều bằng chứng đă được trưng dẫn như chữ viết sanskrit cùng viết từ trái sang phải, các nguyên âm đều giống nhau, theo cùng thứ tự và thường được gắn liền với phụ âm giống như chữ viết của Ethiopia vậy.


Rơ ràng hơn con cháu của những người di dân đầu tiên này đều có màu da sẫm đen như tổ tiên của họ! Ngay cả đức Phật cũng là người da đen bởi chính tổ tiên của Ngài là những di dân từ Ethiopia - Phi châu đến đây từ năm mươi ngàn năm trước. Tượng Phật đầu tiên rơ ràng chứng minh Ngài là một người thuộc chủng tộc da đen với nhân dạng đặc biệt như mũi rộng, môi dày, tóc xoắn ...

 

(Nguồn:  https://www.youtube.com/watch?v=g7BjzPakZlo)

 

Ethiopia cũng là nơi đầu tiên CON NGƯỜI ĐẦU TIÊN xuất hiện!! Đầu thập niên 1970, một nhà địa chất học đồng thời là nhà nhân chủng khảo cổ học người Pháp, có tên Maurice Taieb, trong lúc nghiên cứu công tŕnh đào xới trong vùng tam giác châu Afar Triangle của Ethiopia, ông chợt nhận ra h́nh như đây là nơi đang chôn dấu nhiều dấu tích của con người nguyên thủy. Ông bèn đứng ra thành lập nhóm nghiên cứu mang tên Đoàn Nghiên Cứu Quốc tế Afar, mời thêm ba khoa học gia nổi tiếng của thế giới là Donald Johanson (Mỹ), Mary Leaky (Anh) và Yves Coppens (Pháp) cùng tham gia vào công cuộc t́m kiếm này.


Nhóm nghiên cứu đă gia tăng tốc độ t́m kiếm khi có thêm nhiều người tham gia. Năm 1973 nhóm bắt đầu mở rộng phạm vi đào xới tới Hadar do có nhiều dấu hiệu cho biết nguồn gốc con người có thể có ở đâỵ.


Ngày 24 tháng 11 năm 1974, Johanson đă t́m thấy một mẩu xương hóa thạch và đoan chắc đó là một mẩu xương thuộc "họ người". Ngay sau đó ông đă thu thập tại chỗ và thu được đến 40% của một bộ xương khiến ông vô cùng ngạc nhiên. Nghiên cứu tiếp theo cho biết đây là thành viên đầu tiên của họ Australopithecus afarensis, họ người có mặt từ 3.9 đến 2.9 triệu năm.


Căn cứ trên các mẩu xương thu thập được các nhà nghiên cứu kết luận rằng đấy là một "giống người" phụ nữ, chiều cao thẳng đứng chừng ba feet rưỡi (107 cm), cân nặng khoản 60-65 pounds, di chuyển bằng hai chân và lưng thẳng, tuổi đến nay là 3.18 triệu năm. Một thành viên của nhóm nghiên cứu, cô Pamela Alderman, đề nghị đặt tên Lucy cho bộ xương.

 

Lucy, hoá thạch thu thập được

(https://iho.asu.edu/about/lucys-story)

Lucy: CON NGƯỜI ĐẦU TIÊN
(National Museum of Ethiopia)

 

Và thêm một cái đầu tiên của Ethiopia mà tôi được biết là cà phê. Có nhiều tranh căi cho rằng nơi cà phê xuất hiện đầu tiên là Yemen. Song theo truyện kể th́ Ethiopia có tính thuyết phục cao hơn.


Chữ coffee xuất phát từ chữ Kaffa, triều đại trị v́ Ethiopia từ năm 1390 - 1897. Chuyện kể rằng:


Kaldi, một anh chàng chăn dê vào thời đại Kaffa, một hôm dẫn dê đến ăn cỏ trên một vùng cao nguyên kế bên một tu viện. Anh chàng nhận thấy sau khi ăn một loại hạt trong một bụi cây, bầy dê trở nên rất hào hứng, hăng hái nhảy nhót, lăn lộn cùng nhau, c̣n la hét be he um sùm. Anh chàng cũng ṭ ṃ bèn hái mấy hột rồi nhai như mấy con dê. Và sau đó anh chàng cũng cảm thấy đầu óc tỉnh táo, tinh thần sảng khoái, cơ thể lâng lâng ... Thế là chàng hái một túi đầy các hột chín đỏ mang về nhà cho bà xă và kể chuyện tác dụng kỳ diệu của hột này cho bà nghe. Bà vợ anh chàng bèn cho ư kiến nên chia sẻ chuyện này cho các nhà tu trong tu viện.


Những ǵ Kaldi mang đến tu viện đă không được tiếp đón như mong đợi. Một vị tu sĩ đă ném chúng vào ḷ lửa, và sau đó điều kỳ diệu khác xảy ra: một mùi thơm vô cùng hấp dẫn đă toả ra và các nhà tu đă bị thuyết phục. Họ lượm các hạt ra khỏi ḷ lửa, đập dập nó rồi ngâm vào nước sôi. Tất cả các tu sĩ đều ngửi thấy mùi thơm và cùng đến để uống thử. Các tu sĩ đều công nhận rằng cà phê giúp họ tỉnh táo trong các buổi hành lễ và tự nguyện sẽ dùng cà phê như một phương tiện phụ trợ, giúp cho việc hành lễ tốt hơn.


Theo lời anh Abye - hướng dẫn viên - th́ cà phê là thức uống truyền thống của Ethiopia. Sau mỗi bữa ăn là "lễ" pha cà phê. Mỗi gia đ́nh đều có một góc riêng để pha cà phê cho cả gia đ́nh. Tôi không có dịp vào thăm nhà cư dân địa phương nên không thấy cách tổ chức "lễ" pha cà phê trong nhà, tôi chỉ thấy cách họ làm trong nhà hàng ăn hay ở quán "cóc" dọc đường như sau:

 

Từ trái: Cô hàng cà phê, Anh Abye - hướng dẫn viên, Các thành viên trong nhóm

 

Cô hàng bốc một nắm cà phê sống, bỏ vào chảo hay khay nhôm, quạt ḷ than cho than nổ lốp bốp rồi rang cà phê. Khi rang đủ độ chín, cô bưng khay cà phê đến trước mặt khách, lắc cái chảo cho cà phê sàng qua sàng lại, cho khói phà vào mặt, bảo khách ngửi mùi thơm (Lần đầu được cho ngửi như vậy tôi thiệt hết hồn, né qua một bên, hỏi ủa cái ǵ vậy. Cô hàng bảo rằng cho bà ngửi mùi thơm cà phê).


Kế đó, cà phê được giă nhỏ bằng tay, rồi bỏ vào một cái b́nh cao cổ, cho nước vào rồi nấu trên ḷ than. Khi cà phê sôi vừa đủ, cô hàng chế cà phê vào một b́nh cao cổ thứ hai (chỉ phần nước, không có xác cà phê), tiếp tục nấu cho sôi dào dạt. Chừng nào cô xét cà phê đă đúng mức sẽ chế ra chung cho khách hàng.


Mỗi chung cà phê như trong h́nh này giá 20.00birrs (71 xu Mỹ).


Ngày cuối cùng của chuyến đi, tôi được anh Abraham – nhân viên của công ty du lịch - tặng một gói cà phê Ethiopia.


Kính mời Quư Anh Chị và Các Bạn thưởng thức ly cà phê sáng. Kính chúc một ngày sảng khoái./.

 

 


 

 

Trang Túy Việt

art2all.net