Vơ Hương An

 

Nguyễn Phụng

ĐỌC LỊCH SỬ ĐÀ NẴNG CỦA VƠ VĂN DẬT

 

    


         
Hà Nội, Huế và Sài G̣n, ba thành phố của ba miền, ba địa danh gợi lên trong ḷng mỗi chúng ta nhiều cảm nghĩ và ấn tượng. Đà Nẵng không có được cái vinh dự đó, đó là điều hiển nhiên; nhưng không phải v́ thế vai tṛ lịch sử của Đà Nẵng trong sự thăng trầm của đất nước Việt-Nam lại bị lăng quên. Đó là điều tác giả Vơ Văn Dật muốn nhắc nhở chúng ta trong Lịch Sử Đà Nẵng*. Để làm công việc nhắc nhở đó, tác giả thu thập tất cả tài liệu liên quan đến Đà Nẵng -- nhưng tài liệu về thành phố này rất hiếm hoi và tản mác, có lẽ đó là hậu quả của việc bị lăng quên -- và sắp xếp lại cho có hệ thống để người đọc có một cái nh́n tổng quan và trung thực về lịch sử của thành phố này.


I

Tốt nghiệp Phân Khoa Sử, Đại Học Huế, trước 1975, tác giả là một sử gia chuyên nghiệp. Huế Của Một Thời (2006) và Vua Khải Định (2006) là hai công tŕnh nối tiếp Lịch Sử Đà Nẵng, phản ảnh sự ham chuộng và căn bản sử học của tác giả; và căn bản này được thể hiện rơ ràng qua việc sưu tầm, giải thích và chọn lựa sử liệu liên quan đến Đà Nẵng. Tác giả dùng cả ba nguồn sử liệu (mà các sử gia thường dùng) để hoàn thành Lịch Sử Đà Nẵng: tài liệu viết (như sách báo, tờ tŕnh hành chánh...), phỏng vấn các nhân chứng lịch sử, và nghiên cứu các chứng tích lịch sử.


Nguồn sử liệu thứ nhất chiếm vai tṛ trọng yếu, được dùng cho cả cuốn sách và bao gồm tài liệu liên quan đến khung cảnh chung đất nước Việt-Nam (như Đại Nam Nhất Thống Chí, Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quư Đôn, Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân ở Việt-Nam của Cao Huy Thuần) và tài liệu liên quan đặc biệt đến Đà Nẵng (như Campagne Franco-Espagnole du Centre Annam: Prise de Tourane của A. Saller, Từ Faifo-Tourane đến Hon Cohé-Nhatrang của Thái Văn kiểm). Tác giả tỏ ra rất cẩn trọng trong việc dùng sử liệu. Qua các tài liệu dẫn chứng trong các chủ đề từng chương hay từng mục, độc giả có thể cảm nhận được rằng các câu hỏi phẩm định sử liệu (tài liệu được viết ra thời nào, tại đâu, ai viết, với mục đích ǵ, căn cứ vào nguồn xứ nào, giá trị nội tại như thế nào) được tác giả nêu lên cẩn thận. Trong suốt tác phẩm không thấy tác giả nêu lên một nghi vấn nào về một sử liệu quan trọng hay đề nghị một lối giải thích mới cho một sự kiện lịch sử nào. Việc này có thể giải thích bằng lư do là lịch sử Đà Nẵng không liên quan nhiều đến những nghi vấn hay những vấn đề cần bàn cải từ nhiều quan điểm khác nhau (như sự suy tàn nước Chiêm Thành chẳng hạn). Ngoài ra, tuy dùng nhiều nguuồn tài liệu khác nhau nhưng tác giả chỉ chú trọng đến các sự kiện biên niên hay các yếu tố địa lư thiên nhiên; các sự kiện và yếu tố này thường không đặt ra nhiều nghi vấn hay luận đề cần bàn giải.

Nguồn sử liệu thứ hai và thứ ba chỉ được dùng trong một chương ngắn, Phần Đọc Thêm; nói về lăng Quan Lớn Bảo hộ, sinh Nguyễn tử Trần và đảo Cô. Đảo Cô là một đảo nhỏ gần núi Sơn Trà. Vua Gia Long cho đắp một con đường đá nối liền đảo Cô với núi Sơn Trà để tiện việc đi lại và canh pḥng. Khi Pháp chiếm Đà Nẵng, đặt tên đảo này là l' Îlot de l' Observation. Năm 1965 công binh Mỹ lấp cái vịnh nhỏ làm cho đảo Cô mất dấu tích. Tác giả t́m hiểu và định vị trí của đảo này bằng cách quan sát, nghiên cứu bản đồ và hỏi han các vị bô lăo trong làng An Hải.


II

Lịch Sử Đà Nẵng được giới hạn trong giai đoạn 1306 đến 1975, sắp xếp theo cuộc Nam Tiến và sự thăng trầm của đất nước Việt-Nam và bao gồm 13 chương. Mười ba chương này mô tả Đà Nẵng trong thời b́nh minh (Chương I, II); Đà Nẵng qua các giai đọan phát triển dưới thời các chúa Nguyễn và các vua đầu nhà Nguyễn (Chương III - VII); Đà Nẵng và lịch sử vong quốc (Chương VIII - X); Đà Nẵng trong 62 năm Pháp thuộc (Chương XI, XII); và Đà Nẵng từ 1950 đến 1975 (Chương XIII).


Nh́n một cách tổng quát, ưu điểm thiên nhiên của Đà Nẵng là Sông Hàn, Vịnh Đà Nẵng và bán đảo Sơn Trà; và thành phố với sông, núi và biển này mang ba tên gọi khác nhau, Hàn, Tourane và Đà Nẵng, mỗi tên đánh dấu một thời kỳ lịch sử riêng biệt. Đà Nẵng là một phần trong món quà sính lễ đắc giá vua Chiêm Thành là Chế Mân dâng vua Trần Nhân Tông trong năm 1305 để cưới Công chúa Huyền Trân; quà sính lễ đó là hai Châu Ô và Châu Lư và Đà Nẵng nằm trong Châu Lư.


Đà Nẵng trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh, Tây Sơn và Triều Nguyễn chứng kiến nhiều biến cố lớn trong lịch sử phân tranh đất nước. Đà Nẵng là địa chiến đưa đến sự khốn cùng của Chúa Nguyễn, một mặt bị quân chúa Trịnh tấn công từ phía bắc, một mặc bị quân Tây Sơn công hảm từ phía nam. Đà Nẵng là mục tiêu then chốt của thủy quân Nguyễn Phúc Ánh. Nương theo gió mùa, năm 1797 Nguyễn Phúc Ánh đem hạm đội hơn 100 chiến thuyền đủ loại gồm cả tàu bọc đồng theo kiểu Tây phương với đại bác cỡ lớn do các sĩ quan Pháp chỉ huy, tấn công Đà Nẵng. Nguyễn Phúc Ánh chiến thắng lớn và chiến thắng này mở đầu cho việc uy hiếp kinh đô Phú Xuân và sự suy sụp của Tây Sơn. Đà Nẵng là nơi đầu tiên giáo sĩ Tây phương đến truyền đạo Thiên Chúa; năm 1615 nhà thờ nơi đây đă có cả trăm tín đồ. Đà Nẵng là nơi tàu bè Tây phương thường lui tới với nhiều ư đồ khác nhau. Sự việc này là mối quan tâm lớn của các vị vua đầu nhà Nguyễn, và sự quan tâm đó được thể hiện bằng chính sách bế môn tỏa cảng và nhiều biện pháp hành chánh và quân sự, nhằm tăng cường khả năng pḥng thủ của Đà Nẵng và kinh đô Huế.


Đà Nẵng trong bước đầu của lịch sử vong quốc cũng là giai đọan đen tối nhất trong lịch sử của thành phố này. Giai đọan này bắt đầu bằng hai cuộc tấn công mở màn của liên quân Pháp-Tây Ban Nha trong thánh 1 năm 1858 (nhắm vào đồn An Hải và các pháo đài pḥng hải chung quanh) và tháng 2 năm 1858 (nhắm vào thành Điện Hải -- khu collège Français trong thời trước 1795). Liên quân Pháp-Tây Ban Nha toàn thắng và họ phong tỏa Vịnh Đà Nẵng và sông Hàn. Trong năm 1859 sau ba lần tấn công vào thành Điện Hải, Hải Châu, Thạc Gián, Liên Tŕ và đồn Sơn Sản gần Liên Chiểu liên để án ngữ đường ra Huế, quân Pháp đề nghị ḥa đàm và triệt thoái để vào Nam và ra Bắc. Từ đó Đà Nẵng tuy không bị lửa đạn của Pháp nhưng luôn luôn dính liền trong các đ̣i hỏi của Pháp và sự nhượng bộ của triều đ́nh Huế khi Biên Ḥa, Gia Định và Định Tường lọt vào tay quân Pháp, khi Hà Nội thất thủ và khi Thuận An bị chiếm đóng.


Tài liệu về việc Pháp tiến hành cuộc xâm lược Việt-Nam rất dồi dào và dễ t́m; ưu điểm chính của tác giả trong phần này là kiến thức uyên bát và khả năng tŕnh bày sự kiện có thứ lớp với lời giảng giải các liên hệ nhân quả hợp lư. Với lối tŕnh bày đó, sự việc này đưa đến sự việc khác, người đọc bị lôi cuốn theo sự tất yếu của gịng lịch sử với nỗi đau xót và thắc mắc trong ḷng. Tại sao phải bế môn tỏa cảng? Tại sao không mở rộng Đà Nẵng và các hải cảng khác để đón nhận nhiều nước Tây phương (để các nước này ḍm ngó lẫn nhau, nghi kỵ lẫn nhau và kiềm chế lẫn nhau) và canh tân như Nhật Bản dưới thời Minh Trị Thiên Hoàng? Nhật may mắn nhờ trận cuồng phong nên không bị quân đoàn quân bách chiến bách thắng Mông Cổ xâm chiếm, nhưng Việt-Nam đă hai lần đánh bại đoàn quân này. Nhưng tại sao đất nước bây giờ phải chịu nỗi nhục vong quốc. Kẻ chiến thắng cứ huênh hoang đ̣i hỏi và kẻ thua trận cứ phải cúi đầu nhượng bộ; và đ̣i hỏi này đến đ̣i hỏi khác, nhượng bộ này đến nhượng bộ khác; người đọc phải gấp sách tạm thời ngưng đọc hay phải hớp một hớp nước lạnh cho bớt đau ḷng.


Trong 62 năm Pháp thuộc, Đà Nẵng (cũng như Hà Nội và Hải Pḥng) là nhượng địa của Pháp; người Pháp có toàn quyền làm những ǵ họ muốn như tổ chức và phát triển thành phố. Cơ cấu hành chánh, đương lối phát triển hạ tầng cơ sở và sự khai thác kinh tế của thành phố do người Pháp thực hiện được tŕnh bày chi tiết theo tài liệu hành chánh của chính phủ bảo hộ. Tuy vậy, phần này có thể được tŕnh bày sáng tỏ hơn nếu tác giả đặt tất cả công việc trên trong khung cảnh chung của chính sách thuộc địa Pháp. Theo chính sách này, tất cả đầu tư nhân sự (như giáo dục) chỉ nhằm đào tạo một lớp người với kiến thức tối thiểu (tŕnh độ tiểu học) và một thái độ cúi đầu vâng dạ để phục vụ bộ máy thuộc địa; tất cả đầu tư hạ tầng cơ sở (như đường sá, cầu cống) chỉ nhằm khai thác tài nguyên địa phương để làm giàu cho mẫu quốc; và tất cả sinh hoạt tôn giáo chỉ nhằm phục vụ nhu cầu tâm linh của người Pháp và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển đạo Thiên Chúa. V́ không được quy chiếu về chính sách chung đó nên tất cả sự tŕnh bày cơ cấu chính quyền thành phố, việc xây dựng hải cảng, mở đường sắt, thiết lập pḥng thương mại...đều thiếu chiều sâu, bề ngoài (như bức h́nh mặt tiền của Pḥng Thương Mại), không nói lên được mục đích thực sự của những thực hiện đó (mục đích này khác hẳn với mục đích công bố của chính phủ bảo hộ) và sự liên quan giữa những mục đích thực sự đó với đời sống của người dân bị trị.


Đà Nẵng trong giai đoạn 1950 - 1975 bắt đầu bằng việc người Pháp trao trả Đà Nẵng lại cho Việt-Nam vào ngày 3 tháng 1 năm 1950 và từ ngày đó, thành phố này phát triển theo một chiều hướng hoàn toàn mới mẽ trong mọi lănh vực hành chánh, kinh tế (thương cảng, phi trường, đường sắt), giáo dục, văn hóa ... Đà Nẵng lại thêm một lần đổi mới vào tháng 3 năm 1965 khi thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ lên băi biển Nam-Ô để bắt đầu cho việc phát triển quy mô phi trường, cảng Hàn và cảng Tiên Sa. Qua sự tŕnh bày với nhiều chi tiết địa phương chi li, người đọc nhận ngay ra rằng tác giả là một nhân chứng lịch sử, viết từ cuộc sống với những điều tác giả thấy, nghe và suy tưởng. Tuy vậy, phần tŕnh bày này có thể dồi dào và sâu sắc hơn nếu tác giả để ư đến hai sự kiện có ảnh hưởng rất lớn trong việc phát triển Đà Nẵng trong giai đoạn này. Thứ nhất, sau hiệp định Genève, v́ lư do địa lư, kinh tế và chiến lược, Đà Nẵng trở nên thành phố quan trọng nhất của Miền Trung; tuy vậy, chính phủ Ngô Đ́nh Diệm vẫn gắng gượng dành địa vị đó cho cố đô Huế. Thứ hai, tuy gặp khó khăn v́ chiến tranh, chương tŕnh phát triển dài hạn Đà Nẵng rập đúng theo kế họach Phát Triển Hậu Chiến của chính phủ Việt-Nam Cọng Ḥa. Theo đó, cảng Đà Nẵng sẽ là một thương cảng với sự quân b́nh giữa nhập cảng và xuất cảng (chứ không phải là một nhập khẩu chú trọng nhiều đến sinh họat nhập cảng) và việc xuất cảng sẽ được thực hiện với các dự án phát triển công kỹ nghệ trong những vùng phía tây của thành phố (như khu An Ḥa Nông Sơn, khu kỹ nghệ Ḥa Phát, Liên Chiểu). Ngoài ra, Đà Nẵng sẽ là hướng đến mục tiêu phát triển chung của các nước Đông Nam Á; theo đó, Đà Nẵng sẽ là xuất nhập khẩu của Lào và và Cambot.


III

Đà Nẵng không là ǵ cả nếu không có Vịnh Đà Nẵng và sông Hàn. Vịnh Đà Nẵng là một phần của biển Đông bị ôm choàng bởi một nhánh của của dăy Trường Sơn đâm ngang ra biển Đông. Nhánh núi này như một cánh tay vươn ra để dành biển rồi ch́m sâu xuống biển để tạo một cửa rộng cho thuyền bè ra vào và nổi lên lại làm thành núi Sơn Trà. Núi Sơn Trà là bức b́nh phong chắn gió cho thành phố và là địa phận của hải cảng Sơn Trà, một hải cảng thiên nhiên, thuận tiện cho tàu viễn dương với trọng tải lớn (33,000 tấn) và du thuyền lui tới. Sông Hàn đổ vào Vịnh Đà Nẵng và và tạo thành một cảng thứ hai tiếp đón các tàu duyên hải (trọng tải 5,000 tấn) ngay tại trung tâm thành phố. Biển, sông và hải cảng là ưu điểm thiên nhiên của Đà Nẵng. Với các ưu điểm đó, tác giả kết luận: "Nếu được khai thác đúng mức, Đà Nẵng sẽ có tầm vóc quốc tế, mà sự đóng góp của nó sẽ vượt biên giới quốc gia để đẩy tới tận miền Trung và Nam Lào cùng Đông Bắc Thái Lan" (trang 376). Đó là một ước mơ.


Lịch Sử Đà Nẵng được viết xong trong năm 1974 (tại Đà Nẵng?) nhưng măi đến năm 2007 (nghĩa là hơn 33 năm sau) mới xuất bản tại Hoa Kỳ. Trong 33 năm đó tác giả đă sửa chữa nhiều và bổ sung cho tác phẩm thêm hoàn hảo; tuy vậy tác giả vẫn giữ nguyên kết luận nêu trên, "Nếu được khai thác đúng mức..."; đó cũng chỉ là một ước mơ, một ước mơ lớn.


Đà Nẵng trong thời Pháp thuộc (1888 - 1950) và Đà Nẵng trong thời đất nước chia đôi (1954-1975) với chiến tranh tàn phá phải khác với Đà Nẵng trong thời kỳ "thống nhất" và "thanh b́nh" sau năm 1975. Nhiều người nghĩ rằng lịch sử luôn luôn thụ động v́ chỉ quan tâm với những sự kiện quá khứ, cứng chắc, chết khô, và chẳng bao giờ thay đổi. Sự thực không phải vậy, lịch sử rất năng động; sự kiện quá khứ (như nhượng quyền khai thác núi Tiên Sa mới đây cho một công ty ngoại quốc) thường đ̣i hỏi một cách nh́n mới, một lối giải thích mới và những cuộc đối thoại thường xuyên giữa quá khứ và hiện tại; hiện tại đây là hoàn cảnh "thống nhất" và "thanh b́nh" của đất nước. Ngoài ra, lịch sử c̣n có nghĩa là làm nên lịch sử -- making history, fabrication de l'histoire. Trong hoàn cảnh "thống nhất", "thanh b́nh" và "đỉnh cao trí tuệ" của đất nước và với điều kiện thiên nhiên thuận lợi của Đà Nẵng, Đà Nẵng chắc sẽ làm nên lịch sử cho chính ḿnh và cả đất nước? Trong một phần ba thế kỷ với phương tiện sưu tầm hữu hiệu, tài liệu dồi dào và cố gắng bổ sung cho tác phẩm hoàn hảo, tại sao tác giả không viết ǵ về Đà Nẵng sau 1975? Tác giả đă thấy ǵ, nghe ǵ và biết gi? Sự thật là Đà Nẵng đă làm nên lịch sử ..., nhưng là một thứ lịch sử quá xa với điều tác giả ước mơ.


***


Lịch Sử Đà Nẵng là một cuốn sách hay, lập luận hợp lư, sưu tầm công phu, tŕnh bày trang nhă với nhiều h́nh ảnh và bản đồ đáng ghi nhớ và cần biết. Đọc Lịch Sử Đà Nẵng để t́m lại chính ḿnh nơi quê hương trong những ngày tháng đă qua nếu độc giả sinh ra và lớn lên trong vùng sông Hàn, biển Mỹ Khê, hay bán đảo Sơn Trà; đọc Lịch Sử Đà Nẵng để thấm nỗi đau vong quốc trong thời Pháp thuộc; đọc Lịch Sử Đà Nẵng để thấy vai tṛ của tự do và giáo dục nhân bản trong sự phát triển thành phố này trong giai đoạn 1955 - 1975; và đọc Lịch Sử Đà Nẵng để ưu tư về tương lai của thành phố này và miền Trường Sơn khi ưu điểm thiên nhiên sông, biển và núi chỉ được dùng để thu hút du khách đến vui chơi, hưởng thụ, cờ bạc.

Nguyễn Phụng
Raleigh, North Carolina 11/2007


_________________


(*) Lịch Sử Đà Nẵng dày 429 trang do nhà Nam Việt (San José, CA) xuất bản năm 2007, tác giả giữ bản quyền, giá bán 18 Mỹ kim. Độc giả có thể liên lạc với tác giả qua huonganvo@yahoo.com hoặc tại số 1464 Sunbeam Circle, San Jose, CA 95122.

 

Lịch Sử Đà Nẵng - Vơ Văn Dật

Đà Nẵng 150 năm nh́n lại

art2all.net