VĂN HỮU

Số 26 Mùa Thu 2014

____________________________________________

 

Bích Hoài

 

Nhà văn PATRICK MODIANO

Giải Nobel Văn Học 2014

 

 


          Patrick Modiano, sinh ngày 30/7/1945 tại Boulogne-Billancourt, là một nhà văn Pháp, tác giả của hơn 30 cuốn tiểu thuyết được nhiều giải thưởng văn chương, trong đó có Giải thưởng lớn của Viện Hàn Lâm Pháp và giải Goncourt. Chú trọng đến nội tâm, các tác phẩm của ông tiếp cận h́nh thức tự truyện trong sự đi t́m thời niên thiếu bị bỏ quên. Thời niên thiếu đó đặt trọng tâm vào Paris ở thời kỳ bị Đức quốc xă chiếm đóng, trong đó ông thuật lại cuộc đời của những người dân thường chạm trán với cái bi đát của lịch sử và có những hành động ngẫu nhiên, vô định hay mờ nhạt.

Ngày 9/10/2014, công tŕnh sáng tác của ông được tưởng thưởng giải Nobel Văn học v́ nghệ thuật tái tạo lại trong kư ức những thân phận con người dưới thời bị chiếm đóng. Ông được so sánh với nhà văn Marcel Proust, một nhà văn Pháp khác ở giữa thế kỷ 19, sau thời kỳ chiến tranh Pháp-Phổ. Proust cũng đi t́m thời niên thiếu bị đánh mất, tương ứng với nền đệ tam Cộng ḥa Pháp, thời suy tàn của giới quư tộc vào cuối thế kỷ. Sáu năm sau J.M.G. Le Clézio, Patrick Modiano trở thành người thứ 15 trong văn chương Pháp nhận được phần thưởng của Viện Hàn lâm Thụy Điển. Tác phẩm của ông được phiên dịch sang 36 ngôn ngữ khác nhau.

 

Tiểu sử

Jean Patrick Modiano được sinh ra tại nhà bảo sanh Parc des Princes ở Boulogne-Billiancourt. Ông là con của Albert Modiano và Louisa Colpijn, nữ kịch sĩ người flamand đến Par-is tháng sáu năm 1942, được biết với nghệ danh trong nền điện ảnh nước Bỉ là Louisa Colpeyn.

 

Câu chuyện gia đ́nh (1945-1956)

Albert Modiano, thân sinh của Patrick, mồ côi cha từ lúc bốn tuổi, không biết thân phụ, một nhà phiêu lưu gốc Do Thái ở Alexandrie, có quốc tịch Tây Ban Nha, đầu tiên sống ở Cara-cas, rồi làm nghề buôn bán đồ cổ ở Paris.

Trong thời niên thiếu, Albert Modiano sống nghề buôn bán chợ đen, trong giới những nhà sản xuất điện ảnh xuất xứ từ các nước ở miền trung Âu Châu. Sau nhiều thất bại trong lănh vực tài chánh và dầu khí, ông quản lư một cửa hiệu bán trang phục phụ nữ và nước hoa, ngay trước khi có Thế chiến 2. Ông vào quân ngũ và sau khi rời quân đội, ông không khai báo khi có luật ban hành ngày 3/10/1940 chống lại người Do thái. Tháng 2 năm 1942, tức sáu tháng trước sắc lệnh ngày 6/6/1942 áp dụng luật đă ban hành tổ chức những cuộc lưu đày người Do Thái, ông trốn vào mật khu sau một cuộc bố ráp. Trong t́nh h́nh đó, ông được một người bạn, chủ ngân hàng người Ư hay t́nh nhân của một cấp chỉ huy của ông giới thiệu cho cơ quan thương mại của tổ chức t́nh báo Đức quốc xă để ông cung ứng hàng chợ đen. Khi gặp gỡ Louisa Colpeyn, ông đă tích lũy được một số tài sản cho đến năm 1947. Được che chở khỏi cuộc bắt bớ, nhưng không tránh được bị truy tầm, đầu năm 1943, ông cùng vợ sống ở số 15 đường Conti, nơi cư ngụ của nhà văn Maurice Sachs. Ông này để cho ông sử dụng tủ sách gia đ́nh. Cặp vợ chồng sống trong lâu đài nhưng lại giao lưu với nhóm người nghèo khổ cho đến ngày Giải phóng, trùng hợp với ngày sinh của con trai cả Patrick của ông.

Đứa bé, sau này là nhà văn Patrick Modiano, được giao phó cho ông bà ngoại đến Paris để trông nom cháu. Nhờ đó, Patrick thông thạo tiếng mẹ đẻ flamand (tiếng Ḥa Lan, nói ở Flanders, vùng phía bắc nước Bỉ). Trong một chuyến đi nghỉ hè tại Biarritz, mẹ của Patrick để con lại cho một người vú đang nuôi Rudy, em của Patrick. Đầu năm 1952, hai đứa trẻ trở thành đồng ca tại nhà thờ. Rudy mất năm 1957 v́ bệnh ung thư bạch huyết cầu. Qua khỏi thời kỳ ấu thơ, Patrick mang nỗi buồn nhớ quê hương và viết tặng Ruby những tác phẩm phát hành từ năm 1967 đến 1982.

 

Tuổi thơ dữ dội

Từ tháng 10 năm 1956 đến tháng 6 năm 1960, Patrick được cho vào kư túc xá, học cùng với các trẻ con nhà giàu khác ở trường Montcel có kỷ luật sắt đá tại Jouy-en-Josas. Sau đó, Patrick được giao phó cho các linh mục ở trường trung học Saint-Joseph tại Haute-Savoie. Trường khắc khổ giống như một nhà tù, ở đó Patrick ít được thay quần áo và sống liên kết chặt chẽ với các bạn nông dân trong cảnh đói khát.

Sau một chuyến lưu diễn tệ hại suốt 22 tháng trời khắp Tây Ban Nha, mẹ của Patrick gặp lại chồng lúc đó sống chung với một cô gái người Ư, trẻ hơn ông 20 tuổi, mà ông lấy làm vợ một năm sau.

Từ năm 15 tuổi, Patrick được Raymond Queneau, bạn của mẹ ông, phụ đạo môn h́nh học. Patrick đỗ bằng Tú tài ở Annecy vào tháng 6 năm 1962, sớm một năm hơn tuổi quy định. Giống như người cha, Patrick có tham vọng làm giàu theo kiểu nhà văn Balzac và trở thành văn sĩ. Nhưng là con người lăng tử trên cao tít tầng mây, Patrick bỏ học vào tháng 11 năm 1962, trốn khỏi kư túc xá của trường trung học Henri-IV ở Paris. Mẹ ghẻ của ông không chấp nhận ông, nên ông đến ở với mẹ ruột, thay v́ ở với cha. Ở đó, chín tháng sau, ông nếm hương vị của t́nh yêu đầu đời với bạn của mẹ, lớn hơn ông 10 tuổi. Để trang trải cuộc sống, ông phải cầu xin sự giúp đỡ của cha. Cha ông lén người vợ kế gặp ông.

 

Cuộc sống dễ thở (1963-1966)

Chỉ trong gia đ́nh ấm cúng của một người bạn cũ, làm nghề bảo mẫu và chồng của cô ta là một thú y sĩ, ông mới có thể nếm thú vui của đời sống gia đ́nh, qua vài cuộc đi nghỉ hè.

Kể từ mùa hè 1963, để đối phó với việc thiếu thốn tiền bạc của mẹ, ông bán lại những sách quí đánh cắp ở thư viện hay ở nhà tư nhân. Vài lần, ông đă mạo chữ kư và lời tặng sách của một nhân vật lớn để kiếm thêm lợi.

Tháng chín năm 1964, ông bị bắt buộc ghi tên theo học ở trường trung học Michel-Montaigne tại Bordeaux theo dụng ư của người mẹ kế muốn tách rời ông khỏi gia đ́nh. Ông lại bỏ trốn và đoạn tuyệt với cha trong hai năm. Chiều ngày 8/4/1965, mẹ ruột của ông sai ông đến cha xin trợ cấp tài chánh. Người mẹ kế gọi cảnh sát dẫn ông đi. Cha ông không can thiệp, tố cáo ông là kẻ du thủ du thực.

Vào kỳ tựu trường năm 1965, ông ghi danh vào Văn khoa trường đại học Sorbonne để được miễn dịch. Ông không đi học buổi nào, nhưng lại tụ tập với đám người theo chủ thuyết ảo giác và những người híp-pi bạt mạng ở Saint-Germain des Prés. Ở quán cà-phê Flore ông gặp những người đi tiền phong trong phong trào lăng mạn mộc mạc theo mô h́nh thần Pan, ḿnh dê đầu người, trong thần thoại Hy Lạp.

Một buổi cuối tuần, Raymond Queneau, ông thầy cũ của ông, tiếp ông tại nhà ở Neuilly. Sau bữa ăn, họ đi dạo ở Boris Vian tại Paris. Tháng sáu 1966, cha của ông liên lạc trở lại với ông, chỉ để thuyết phục ông sớm theo lệnh nhập ngũ. Kết quả là hai người thư từ lời qua tiếng lại đi đến việc tuyệt giao hẳn giữa hai cha con.

 

Sự giải thoát trong văn chương (1967-1978)

Cuộc gặp gỡ giữa ông và Louis Malle, tác giả của chuyện phim “Zazie dans le métro,” (Zazie trong xe điện ngầm) mô tả xă hội Pháp, do sự giới thiệu của Raymond Queneau, cho ông cơ hội tham dự buổi tiệc rượu do nhà phát hành Gallimard tổ chức và cũng là dịp ông đi vào thế giới văn chương. Tại đây, ông đă cho ra quyển tiểu thuyết đầu tiên “La Place de l’Étoile” (Quảng trường Étoile) vào năm 1967, sau khi đă đọc bản thảo cho Raymond Queneau nghe. Từ năm đó trở đi, ông lăn vào sự nghiệp văn chương.

Với Hughes de Courson, bạn học ở Henri-IV, ông soạn tập ca nhạc “Fonds de tiroirs.” (Bên trong hộc bàn). Năm 1968, ông đề nghị với Françoise Hardy bài hát “Étonnez-moi, Benoưt…! (Benoưt hăy làm tôi ngạc nhiên). Hai năm sau, ông soạn bài hát “L’Aspire à coeur” (Khao khát trong tim) do Ré-gine tŕnh diễn. Tháng 5/1968, Patrick Modiano bước qua nghề kư giả cho tạp chí Vogue.

Ngày 12/9/1970, ông kết hôn với Dominique Zehrfuss, con gái của kiến trúc sư Bernard Zehrfuss. Những người làm chứng là Raymond Queneau, người bảo hộ Patrick từ lúc c̣n thơ, và André Malraux, nhà văn Pháp, bạn của cha ông, tác giả cuốn “La Condition Humaine” (Thân phận con người, 1933), đă từng là Bộ Trưởng Thông Tin (1945-46) và Bộ Trưởng Văn Hóa (1959-69) dưới thời Tổng Thống De Gaulle. Ông nói: “Tôi giữ một kỷ niệm thê thảm của ngày cưới. Trời mưa. Một cơn ác mộng thực sự. Mọi người bắt đầu một cuộc tranh luận về Dubuffet, giống như trong một cuộc tranh tài môn quần vợt! Thật là vui khi có những bức ảnh, nhưng người duy nhất có máy ảnh lại quên để phim vào máy. Cuối cùng chúng tôi chỉ có mỗi một tấm h́nh đứng quay lưng dưới cây dù.

Họ có hai người con gái. Zina Modiano (1974), đạo diễn phim trong tương lai và Marie Modiano (1978), nữ ca sĩ và nhà văn.

Sau cuốn tiểu thuyết thứ ba “Les Boulevards de ceinture” (Những đại lộ ngoại ô), trong đó người kể chuyện đi t́m cha, không phải với sự hận thù mà với tâm t́nh tŕu mến, ở một ngôi làng bên b́a rừng Fontainebleau, ông nhận được Giải thưởng lớn về tiểu thuyết của Hàn lâm viện Pháp (1972) và trở thành gương mặt lớn của nền văn chương Pháp hiện đại.

Năm 1973, ông viết kịch bản cho cuốn phim Lacombe Lucien, với Louis Malle làm đạo diễn. Chủ đề của cuốn phim là một thanh niên muốn vào bưng biền để kháng chiến dưới thời Pháp bị chiếm đóng. Ngẫu nhiên, một lời nói thách thức chẳng ra ǵ của tuổi trẻ làm đảo lộn nhóm dân quân tự vệ và những người đă giam cầm cha anh. Cuốn phim phát hành vào tháng giêng 1974, gây ra một sự tranh căi về tŕnh tự của nhân vật trong phim được cảm nhận như là chối bỏ sự dấn thân, ngay cả xét lại tính cách anh hùng và khiến cho nhà làm phim phải lánh ḿnh.

Tháng mười một năm 1978, ông ra mắt cuốn tiểu thuyết thứ sáu, cuốn “Rue des boutiques obscures” (Con đường của các hiệu buôn trong bóng tối). Ông nhận được Giải thưởng Goncourt cho toàn bộ công tŕnh sáng tác của ông.

 

Chủ đề sáng tác

Những tiểu thuyết của Patrick Modiano mang chủ đề sự vắng mặt, “sự tái sinh của những nhân vật đă mất dạng, niềm hy vọng t́m lại những nhân vật mà người ta đă mất đi trong quá khứ.” Tác phẩm văn chương của ông được xây dựng từ hai chủ đề chính yếu: sự đi t́m nhân dạng (của chính ḿnh và của những người ở quanh ḿnh), cũng như sự bất lực trong hiểu biết những xáo trộn, những phong trào xă hội. Đó là những hiện tượng trong đó người kể chuyện luôn luôn xem ḿnh là một quan sát viên, cố t́m một ư nghĩa cho nhiều biến cố xảy ra trước mặt, với những chi tiết, những dấu hiệu có thể làm sáng tỏ nhân dạng. Modiano (hay người kể chuyện) đôi khi chứng tỏ ḿnh là nhà khảo cổ học về kư ức, đưa ra hay tồn trữ một tài liệu nhỏ nhặt, ban đầu vô nghĩa, nhằm thu thập những thông tin về chính ḿnh, về những người thân cận hay về những người xa lạ. Có những trang được viết giống như trong truyện trinh thám hay do một sử gia.

Một ám ảnh khác của Modiano là thời kỳ bị Đức quốc xă chiếm đóng. Sinh ra năm 1945, hiển nhiên là ông không biết thời kỳ đó, nhưng ông không ngừng quy chiếu vào đó với ước vọng xác định cuộc sống của cha mẹ ông dưới thời chiếm đóng. Tính cách nhị nguyên lư tưởng của cha mẹ ông có khuynh hướng làm nổi bật trong các tác phẩm của ông sự đối chọi của t́nh h́nh mờ mịt, trong các giới hạn và mặt trái không xác định được.

 

Vấn đề của thân phụ ông

Chủ đề về người cha là trọng tâm của Patrick Modiano, bởi v́ nó xoay quanh những chủ đề phụ thuộc (sự khiếm diện, sự phản bội, sự kế thừa…) và cũng bởi v́ đó là yếu tố xác định toàn bộ vũ trụ lăng mạn của ông. Chủ đề đó hiện diện như là tấm vải nền trên đó vẽ ra những chuyện kể của ông, trực tiếp hơn trong cuốn tự thuật “Un pedigree” (Ḍng huyết thống).

Người cha, Albert Modiano, là một điều bí ẩn mà những ḍng chữ do tác giả viết cho ông cơ hội khai triển một cách phóng khoáng. Thời kỳ niên thiếu của cha ông gần như không được biết đến, ngoại trừ việc tham gia vào vài cuộc buôn lậu. Dưới thời bị chiếm đóng, cha của ông sống trong t́nh trạng bất hợp pháp hoàn toàn và dùng lư lịch giả (Henri Lagroux) giúp ông không phải mang ngôi sao vàng (dấu hiệu của người Do Thái). Nhưng điều bối rối là trong thời kỳ đó, cha của ông, sau khi bị bắt trong cuộc bố ráp và áp tải đến trại tử thần Austerlitz, lại, kỳ lạ thay, được một người bạn ở cấp cao can thiệp và chóng được thả ra. Nhân dạng của người bạn đó không rơ ràng. Người ta thiết nghĩ đó là một nhân viên trong nhóm người ở đường Lauriston, tức là mật vụ của Pháp thân Đức.

Thường gặp con ở những nơi có nhiều người lai văng, như pḥng chờ ở các nhà ga và khách sạn, Albert Modiano luôn luôn có những công vụ bí mật. Patrick, ở tuổi 17, quyết định không gặp lại ông. Sau này, Patrick biết tin ông chết (một cách không rơ ràng) và không biết ông được chôn cất ở đâu.

 

Công tŕnh sáng tác của Patrick Modiano

Patrick có khoảng 30 quyển tiểu thuyết, những vỡ tuồng hát, những tiểu luận, những bài tựa, khoảng 20 bài hát do Hughes de Courson đặt nhạc.

Ứng với cuốn “À la recherche du temps perdu” (Đi t́m thời gian đánh mất) của Marcel Proust và cuốn “Ulysse” của James Joyce, tác phẩm của Modiano là khái niệm của tiểu thuyết được xem như là một vũ trụ trong đó người ta đi t́m ṭi số phận. Đó cũng là sự tiếp nối của một truyền thống nào đó của tiểu thuyết phân tích tâm lư. Hai cuốn tiểu thuyết vừa kể có một đặc điểm là đưa ra một cái nh́n độc đáo của thời đại: thời gian theo chu kỳ trong kư ức của Proust; thời gian của một ngày vô cùng giăn nở, mở rộng của Joyce. Trong ư nghĩa đó, các tiểu thuyết này đoạn tuyệt với khái niệm truyền thống của thời kỳ lăng mạn trong lịch sử. Cuối cùng, hai tác giả vừa kể cùng có đặc điểm chung là sự điêu luyện trong phong cách, thuần chất như trong quyển của Proust, và tóm gọn hết thảy những học thuyết, lư luận của nhiều người để lựa chọn lấy điều thích đáng t́m ra chân lư như trong quyển của Joyce. Người ta có thể so sánh tác phẩm của Joyce với của nữ sĩ người Anh Virginia Woolfe và tác giả người Mỹ William Faulkner.

 

Hai tác phẩm tiêu biểu của Patrick Modiano

1. Rue des Boutiques obscures (Con đường của các hiệu buôn trong bóng tối)

Đây là quyển tiểu thuyết thứ sáu của Patrick Modiano, xuất bản ngày 5/9/1978, được tưởng thưởng giải Goncourt.

Tóm tắt câu chuyện: Guy Roland là một thám tử. Sau khi Hutte, cấp chỉ huy của anh, về hưu, anh quyết định đi t́m nhân dạng của anh, bị đánh mất trong một tai nạn bí ẩn, đă làm cho anh mất trí nhớ trong suốt 15 năm. Đi ngược về quá khứ, dường như là vào thời kỳ Thế chiến thứ hai, anh được biết anh có tên là Jimmy Pedro Stern, một người Hy Lạp gốc Do Thái, sống ở Paris dưới tên vay mượn là Pedro McEnvoy, làm việc cho phái bộ của Cộng Ḥa Dominicaine. Xung quanh anh có người mẫu Pháp Denise Coudreuse cùng chung sống với anh; Gay Orlow, vũ nữ người Mỹ gốc Nga; Dédé Wildmer, một cựu cầu thủ người Anh môn khúc côn cầu cưỡi ngựa. Tất cả bọn họ, trong năm 1940, quyết định đi Megrève để trốn chạy Paris, thủ đô của Pháp, càng ngày càng trở nên bị áp bức dưới sự chiếm đóng của Đức quốc xă. Denise và Pedro quyết định đi Thụy sĩ và trả tiền cho người hướng dẫn nhưng bị người này bỏ rơi trên núi. Chỉ ḿnh Pedro lạc bước trong tuyết.

Guy Roland đi t́m Freddie đang sống ở Polynésie, sau chiến tranh. Khi đến Bora Bora, anh được biết Freddie đă mất tích trong một tai nạn đắm tàu vài ngày trước đó. Chỉ c̣n Jim-my Pedro Stern, tên cũ của anh, là đầu mối cuối cùng để t́m lại quá khứ của anh: địa chỉ là Rome, trong những năm 1930, ở số 2, đường của những hiệu buôn đen tối (Via delle Botteghe Oscure), trong khu người DoThái.

 

2. Un pedigree (Ḍng huyết thống)

Với tựa đề của quyển sách xuất bản năm 2005, Patrick Modiano tỏ ḷng tôn kính tác giả người Bỉ Georges Simenon, người viết cuốn tiểu thuyết tự truyện Pedigree (1948-1952). Simenon đă viết gần 200 quyển sách trinh thám và là người tạo ra nhân vật thám tử hư cấu Jules Maigret. Simenon mô tả cuốn sách Pedigree của ông như là mọi sự đều thật nhưng không có ǵ chính xác, nói về cuộc đời của ông ở Bỉ, trải dài từ tuổi ấu thơ trong những năm đầu thế kỷ đến cuối Đệ nhất Thế chiến (1914-1918).

Cũng vậy, cuốn Un pedigree của Patrick Modiano không có ǵ vững chắc. Phần lớn tiểu thuyết của Modiano được viết qua người kể chuyện về một thanh niên mơ mộng bị bỏ mặc muốn làm ǵ th́ làm. Un pedigree cũng theo mẫu mực quen thuộc đó. Cuốn sách tường tŕnh về 21 năm đầu trong cuộc đời của Modiano như là một tự truyện hay một sự tự thú. Nhưng người đọc không bao giờ biết hay chẳng cần biết câu chuyện dựa trên sự kiện nào. Khoảng cách giữa tác giả và người kể chuyện, cái yếu tính của hư cấu, được duy tŕ. Cái tôi chỉ là một nhân vật khác, có lẽ giống tác giả nhưng cũng che chắn tác giả.

Thực ra, Modiano là một nhà văn Pháp rất dè dặt, khéo che giấu và có vẻ bí mật. Un pedigree cố gắng tạo ra một bức màn che chắn làm mọi sự không rơ ràng. Người đọc có cảm tưởng như là đứng trước một cuộc triển lăm tranh bỗng nhiên nhận chân ra rằng những điều ḿnh suy nghĩ là những bức tranh trừu tượng được đặt một cách sáng chói trong khu trưng bày có h́nh thức lạ lùng, tuyệt diệu làm cho người xem ngưỡng mộ như là những thực thể.

Ở tuổi 17, tác giả được gửi vào kư túc xá tại Khu La-tinh ở Paris, trong khi cha mẹ sống ở cách đó vài trăm thước. Anh bỏ trốn và giữa thập niên 1960 sống cuộc đời của kẻ Bohémien, tự do phóng túng. Câu chuyện chấm dứt khi Patrick đoạn tuyệt với người cha và bắt đầu viết cuốn sách đầu tiên. Văn phong ngắn gọn của Modiano đưa người đọc vào hai hướng đối nghịch. Một mặt, nó gợi ra cái ước muốn không được thực hiện về sự khát khao có t́nh yêu gia đ́nh. Mặt khác, nó cho cái cảm tưởng không thực về cái t́nh yêu đó.

 

Sự tưởng thưởng giải Nobel Văn học

Peter Englund, thư kư thường trực của Viện Hàn lâm Thụy Điển, gọi Patrick Modiano như là “một Marcel Proust trong thời đại của chúng ta.” Những tác phẩm của Modiano là những biến tấu của cùng một sự việc, về kư ức, về sự mất mát, về nhân dạng, về sự đi t́m. Ông đi theo truyền thống của những nhà văn Pháp được giải Nobel như Jean-Paul Sartre (Sartre được tưởng thưởng nhưng không nhận giải) và Albert Camus. Ông là bậc thầy trong hồi ức, viết về sự chiếm đóng, về Paris, về các con đường của Paris trong quá khứ và trong hiện tại.

Tổng Thống Pháp François Hollande khen ngợi ông như là một trong những nhà văn lớn mà nền Cộng Ḥa rất tự hào. Modiano là nhà văn Pháp thứ 15 nhận được phần thưởng xuất sắc công nhận ảnh hưởng to lớn của văn chương Pháp.

Trong một cuộc họp báo, Modiano cho biết việc nhận được sự chú ư của nhiều người về công tŕnh văn học của ông, sau nhiều thập niên viết trong cô đơn, dường như có “một chút ǵ không thực.” Ông nói: “Tôi luôn luôn có cảm tưởng như là tôi đă viết cùng một cuốn sách trong 45 năm qua.”

 

Bích Hoài

 

Trang Văn Hữu

 

art2all.net