VĂN HỮU số 36

 

  Xuân 2017

 

 

THUYẾT ẢO TƯỞNG

Bích Hoài

 

 

Chúng ta sống trên đời có khi nhận thức thế giới qua những công tŕnh của nghệ thuật thị giác, tạo dựng nên cái ấn tượng về sự hiện hữu của đồ vật trong không gian. Đó là thuyết ảo tưởng xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa thế giới quy ước biểu hiện thực tại và tác dụng hỗ tương lấn át các đồ vật đó. Thuyết ảo tưởng thay thế thị giác hay dường như xóa bỏ cái căn bản vật chất – đáng kể là độ phẳng của bức tường hay của bức tranh. Tính chất ảo tưởng lần đầu tiên xuất hiện trên các bức tranh thời xưa, rơ nét trong nghệ thuật thời Phục Hưng và trở thành những nguyên tắc chính yếu trong nghệ thuật trang trí kỳ dị của trường phái baroque, trong đó không gian kiến trúc cụ thể hợp với không gian ảo tưởng được vẽ vươn lên đến vô tận. Thuyết ảo tưởng cũng được thấy trên các bức tranh sơn dầu, ít thấy hơn trên các bức tranh tỉnh vật trắng đen của thế kỷ 18 và trong các h́nh vẽ màu nước của họa sĩ và điêu khắc gia Fedor Petrovich Tolstoi bên Nga.

 

Thuở nhỏ, chúng ta thích thú xem những màn ảo thuật trong các gánh xiếc xen lẫn với những cảnh tŕnh diễn của các loài thú dữ như sư tử, cọp, beo, voi... Ảo thuật là nghệ thuật tạp kỹ dùng những hộp có đáy giả tạo và những thiết bị gây ảo ảnh thị giác.

 

Ở thế kỷ 17 và 18, các kỹ thuật gia biểu diễn những điều huyền diệu dựa trên những thiết bị cơ khí trong các hội chợ. Vào thế kỷ thứ 19, Harry Houdini tŕnh diễn ở Paris và khai triển nhiều nguyên tắc ảo thuật c̣n được áp dụng ngày nay.

 

Harry Houdini, tên thật là Erik Weisz, sau này là Erich Weiss hay Harry Weiss (1874-1926) là một người Mỹ gốc Hung, thuộc gia đ́nh Do Thái, có tài làm tṛ trốn thoát giật gân. Những màn biểu diễn đầu tiên bên Mỹ của ông là kịch vui hay những bài hát châm biếm. Sau đó, ông mặc áo bó sát, dùng dây xích hay dây thừng buộc vào ḿnh rồi tung người từ những cao ốc xuống nước, và nín thở nằm trong một cái thùng sữa có nước bên trong.

 

Houdini đă làm nhiều phim, nhưng rồi ngưng khi không kiếm được nhiều tiền. Ông cũng là một phi công nhiệt t́nh, và nhắm trở thành người đầu tiên lái máy bay ở Úc. Lúc 9 tuổi, ông làm nghề nhào lộn trên đu bay, với biệt danh là “Hoàng tử trên không gian.” Thuở thiếu thời, ông đă vô địch môn chạy việt dă. Khi trở thành nhà ảo thuật nhà nghề, ông bắt đầu lấy tên là “Harry Houdini” theo tên của nhà ảo thuật người Pháp Jean Eugène Robert- Houdin.

 

 

Ảo thuật hay ma thuật

 

Từ ngữ “ma thuật” tiếng Anh gọi là magic xuất xứ từ tiếng Hy Lạp mageia. Thời xưa, người Hy Lạp và người Ba Tư tranh chấp nhau trong nhiều thế kỷ về phong cách tế lễ. Các tu sĩ Ba Tư được gọi là magosh và các tu sĩ Hy Lạp được biết như là những magoi. Cuốn sách đầu tiên giải thích những tṛ ảo thuật được xuất bản năm 1584. Trong thế kỷ 17, nhiều sách tương tự như vậy xuất hiện, mô tả những tṛ ảo thuật. Cho đến thế kỷ 18, các cuộc biểu diễn ảo thuật thường được xem là nguồn giải trí ở các phiên chợ. Gương mặt tiêu biểu trong ảo thuật hiện đại, như trên đă nói, là nhà ảo thuật người Pháp Jean Eugène Robert-Houdin, có một nhà hát ở Paris năm 1845, trong khi ở Anh có John Henry Anderson đi tiền phong về ảo thuật trong thập niên 1840 tại London.

 

Trong ảo thuật, chúng ta thấy vậy nhưng không phải vậy. Đó là một tṛ chơi gạt gẫm của thị giác. Người xem có ảo tưởng đó là thật, nhưng lại không thật. Nhà ảo thuật cưa đôi con người một cách ghê rợn, nhưng “nạn nhân” vẫn sống nhăn răng cười nham nhở trước công chúng.

 

Thời hậu hiện đại, chúng ta đă xem những màn biểu diễn ảo thuật của David Copperfield trải qua nhiều thập niên. Ông đă có những màn tŕnh diễn ngoạn mục và độc đáo về ảo thuật làm thay đổi ngành giải trí thế giới. Những màn truyền h́nh đặc biệt giúp ông đoạt được 21 giải thưởng Emmy trong 38 lần đề cử. Ông cũng ghi được nhiều kỷ lục trên sách Guiness nhờ những thành tựu đa dạng tạo ảo tưởng trên sân khấu lớn.

 

David Copperfield tên thật là David Seth Kotkin sinh ngày 16/9//1956 tại Metuchen, NJ. Năm lên mười, ông lấy biệt danh là “Nhà ảo thuật bé con Davino” và biểu diễn các tṛ ảo thuật tự học trong vùng lân cận nơi ông ở.

 

Cậu bé hơi nhút nhát và có tính hướng nội. Ảo thuật giúp cậu giải tỏa chính ḿnh và giúp cậu gặp gỡ bạn bè. Cậu bắt đầu học ảo thuật một cách nghiêm túc và, năm 12 tuổi, cậu được chấp nhận vào Hội các nhà Ảo Thuật Hoa Kỳ.

 

Năm 18 tuổi, cậu lấy tên là David Copperfield sau khi nhận vai tṛ hàng đầu trong màn ca nhạc The Magic Man. Màn tŕnh diễn được dàn dựng ở Chicago. David có thể ca hát và nhảy múa, nhờ đó cậu tạo nên sự nghiệp. Không lâu sau đó cậu có những màn tŕnh diễn rầm rộ ở Honolulu.

 

Năm 1977, David khởi đầu tŕnh diễn trên chương tŕnh truyền h́nh The Magic of ABC. Một năm sau, David được mời vào chương tŕnh truyền h́nh đặc biệt với đề mục The Magic of David Copperfield.

 

Năm 1996, Copperfield nhận được màn tŕnh diễn riêng trên sân khấu Broadway, được gọi là Dreams and Nightmares (Giấc Mơ và Ác Mộng). Những buỗi diễn kéo dài trong hai tiếng đồng hồ đem đến sự hồi hộp ly kỳ và những ảo tưởng thú vị.

 

Tên tuổi của David Copperfield được dùng để phát hành sách như David Copperfield’s Tales of the Impossible. Cuốn thứ hai, phát hành một năm sau đó, mang tựa đề David Copperfield’s Beyond Imagination. Ngày nay, vào tuổi gần lục tuần, David Copperfield vẫn c̣n tŕnh diễn khoảng 500 buổi mỗi năm và thu được lợi nhuận trên 50 triệu hằng niên.

 

Trong tôn giáo của người Ấn Độ có từ ngữ Māyā được dịch là “illusion (ảo tưởng)” hay “magic (ma thuật).” Māyā là một khái niệm cho rằng cái ǵ hiện hữu lại thường hay đổi thay và như vậy về mặt tinh thần có nghĩa là không thực, hư ảo.

 

Theo Monier Williams, giáo sư tiếng Phạn tại trường đại học Oxford, Māyā có nghĩa là sự thông thái và quyền năng khác thường.

 

 

Ảo ảnh

 

Khi giác quan lừa dối chúng ta, chúng ta có một ảo ảnh và đó là một sự biểu hiện giả tạo của một cái ǵ mà chúng ta nghe, sờ mó hay ngửi mùi mà thực ra lại không có. Phim ảnh 3 chiều cũng là một thứ ảo ảnh khi trong thực tế đó chỉ là những h́nh xuất hiện trên một màn ảnh phẳng. Chúng ta thấy bằng óc hơn là bằng mắt. Mắt của chúng ta chỉ nhận một h́nh ảnh trong khi năo của chúng ta có trách nhiệm diễn giải cái h́nh ảnh đó trong không gian ba chiều.

 

 

Ảo ảnh trong văn chương

 

1. Trong cuốn The Great Gatsby của F. Scott Fitzgerald mà chúng tôi thường đề cập tới trước đây, ảo ảnh xuất hiện như là một thực tại. Nhân vật Jay Gatsby, cơ bản là ở trong một gia đ́nh nghèo khó, sống một cuộc sống đạm bạc đến nỗi phải bỏ học chỉ sau một vài tuần vào trường trung học. Anh ghét công việc làm gác cổng để có tiền trả học phí. Anh nói với Nick anh là con trai nhà giàu ở miền trung tây (San Francisco) nhưng cha mẹ hiện nay đă mất. Ở đây, anh miêu tả một thực tại không có thật trở thành một ảo ảnh.

 

2. Trong cuốn tiểu thuyết A Streetcar Named Desire (Chuyến tàu mang tên dục vọng) của Tennessee Williams mà các bạn có thể đă xem chuyển thành phim năm 1951 do Marlon Brando (vai Stanley) và Vivien Leigh (vai Blanche) thủ vai chính. Nhân vật Blanche, một giáo viên từ các tiểu bang miền Nam, vừa bị đổ vỡ gia đ́nh và bán đấu giá tài sản, đến ở nhờ cô em gái có chồng là Stanley, một con người thô lỗ. Cô là một “tiểu thư lăng mạn kiểu Pháp” điển h́nh từ cái tên cho đến điệu bộ, nhấn mạnh vào ảo tưởng để tự bảo vệ, chống lại những sự đe dọa từ bên ngoài và cái quá khứ tội lỗi của chính cô. Tuy nhiên, ở đây không có tính chất đồi bại mà cô chỉ là thiếu khả năng tinh thần và yếu kém vật chất không đối diện với sự thật. Blanche là một gương mặt lư tưởng không nh́n thế giới với cái mặt thực của nó mà trái lại thấy thế giới như là cái ǵ phải có, theo mong muốn của cô. Blanche trở nên điên loạn phải vào bệnh viện tâm thần. Giấc mơ và h́nh ảnh tưởng tượng hun đúc một tác động nhằm giải tỏa cô khỏi những bi kịch sẽ đến. Bộ phim lấy bối cảnh New Orleans ở Louisiana, nhận 12 đề cử và 4 giải thưởng Oscar năm 1952.

 

3. Bài thơ La Belle Dame sans Merci (Người đẹp không có ḷng xót thương) của John Keats kể về cuộc gặp gỡ của chàng hiệp sĩ vô danh với một nàng tiên ẩn ức. Chàng kỵ sĩ cô đơn, kiệt sức v́ một nỗi buồn thơ thẩn trên đồng vắng. Chàng gặp người đẹp có “ánh mắt nh́n hoang dại.” Chàng bế nàng ngồi lên ngựa, thế rồi nàng dẫn chàng đi vào cơi tiên. Ở đây nàng đă nức nở, thổn thức. Chàng hôn lên đôi mắt hoang dại của nàng. Nàng vỗ về, ru chàng đi vào giấc mộng. Trong giấc mơ, chàng thấy hoàng tử si t́nh gào thét rằng chàng đă bị rơi vào ṿng tù hăm của người đẹp và bị người đẹp bỏ rơi không thương tiếc. Chàng kỵ sĩ tỉnh giấc thấy “một ḿnh trên đồi lạnh” và kể từ dạo ấy chàng đâm ra thẫn thờ. Với gương mặt tái nhợt, chàng lang thang không mục đích ở cái miền mà cây cối “chỉ c̣n lá rụng và không c̣n tiếng hót của chim.”

 

Chủ đề của John Keats nhắm vào tôn giáo, luân thường đạo lư hay chính trị. Bài thơ dường như nói cho chúng ta biết rằng một việc ǵ đó có thể đă xảy ra hay sẽ xảy ra một ngày nào đó. Cái thích thú trong thiên nhiên và âm nhạc nhường chỗ cho thích thú về t́nh dục và lăng mạn, rồi lại nhường chỗ cho thích thú về một giấc mơ hư ảo.

 

 

Ảo ảnh hiện đại

 

*Mọi người đều có niềm sợ hăi: Ngay cả những người đẹp, tài giỏi, thông minh và may mắn đều sợ bắt đầu một việc ǵ mới, sợ đi ra khỏi vùng tiện nghi của ḿnh, không chấp nhận sự rủi ro, sợ làm một việc ǵ mà trước đây chưa từng làm. Chúng ta lo cho gia đ́nh, cho công ăn việc làm, cho cuộc đời của chúng ta, cho nhiều việc khác. Luôn luôn chúng ta sợ hăi bất kể kinh nghiệm, ḷng tin, sự nhận thức, tiền tài hay tài năng mà chúng ta có đến đâu. Chúng ta sợ hăi không ít th́ nhiều mỗi khi chúng ta chinh phục một đỉnh cao mới hay làm một việc ǵ mới. Nhưng cái đó cũng tốt thôi v́ đó có nghĩa là chúng ta đang sống. Chúng ta phải tiến tới trong cuộc đời. Chúng ta phải đi trọn con đường, vượt qua nỗi sợ hăi và không t́m cách từ bỏ sự sợ hăi.

 

*Niềm vui và sự thích thú không giống nhau: Chúng ta không kinh nghiệm niềm vui thật sự khi ăn bánh sô-cô-la, uống ly rượu vang hay hút một điếu thuốc. Chúng ta không kinh nghiệm niềm vui khi mua một đôi giày mới hay một lọ nước hoa. Chính danh mà nói đó là sự thích thú. Và đó là một chuyện khác. Trong bản chất, đó là một cảm giác rất ngắn hạn, và đó có liên quan mật thiết với sự không thoả măn, sự nhàm chán, sự chán ngấy, và tham vọng muốn có một phần thích thú mới.

 

*Sự khổ đau vẫn tồn tại: Đức Phật nói đúng. Đời là bể khổ. Mọi người đều khổ đau, người không có ǵ hết cũng như người có mọi thứ. Những người không đau khổ trong hiện tại sẽ mang nỗi khổ đau trong tương lai, có lẽ v́ đồng tiền mất giá hay v́ bị kẻ khủng bố tấn công, có lẽ thấy rằng một người nào đó không c̣n yêu ḿnh, hay bị ray rứt v́ người ta không trả lời tin nhắn mà ḿnh gửi hay không làm ra đủ tiền cần thiết hay v́ một lư do nào khác. Niềm đau c̣n đó. Chúng ta luôn luôn t́m một lư do để đau khổ. Hăy chấp nhận khổ đau, và làm hết sức ḿnh để quên đi những khổ đau.

 

*Không phải mọi người đều có hạnh phúc: Mọi người đều có hạnh phúc ư? Phải, chắc chắn là thế. Nhưng chỉ trên lư thuyết thôi. Trên thực tế, chỉ những người ép tâm trí vào khuôn khổ mới có thể có hạnh phúc một cách kiên định. Chỉ những người mà tâm trí được thuần thục và có thể không lo lắng về mọi sự diễn ra xung quanh ḿnh, chỉ những người giữ được cảm giác vui vẻ không những trong những trường hợp dễ chịu mà c̣n trong những t́nh thế khó khăn, mới cảm thấy an b́nh.

 

Cuộc đời là một quyển sách trong đó những chương đầu tiên không dành cho ḿnh. Chúng ta có những niềm tin và chúng ta xem đó là những mẫu mực cho thế giới quanh ta. Và cái thế giới đó không là một thế giới trừu tượng. Đó là thế giới gồm những văn pḥng, nhà cửa, đường sá - những nơi mà chúng ta trải nghiệm cuộc đời của chúng ta. Đó là nơi chúng ta có bạn bè, đồng nghiệp, cha mẹ, và những người kinh doanh buôn bán mà chúng ta gặp gỡ mỗi buổi tối. Chúng ta thu nhận những dư luận, những quan điểm của người khác. Và khi chúng ta không đồng ư, có một lúc nào đó chúng ta tự động bác bỏ. Cá tính của chúng ta thiết yếu là do những người khác tôi luyện. Theo vài nhà tâm lư học, cái mà chúng ta cho là của chúng ta mà chúng ta sợ mất đi, chỉ là một tấm thảm do môi trường kết hợp lại.

 

 

Hiện thực ma ảo

 

Người ta thường nói công tŕnh sáng tác của nhà văn Gabriel Garcia Marquez tại nước Colombia ở Nam Mỹ, người đă nhận được giải thưởng Nobel Văn học năm 1982, là một hiện thực ảo tưởng, trong đó giả tưởng hợp nhất những yếu tố tưởng tượng thành một khung cảnh hiện thực. Trong cuốn tiểu thuyết xuất bản năm 1967, tựa đề Trăm Năm Cô Đơn, trải dài suốt một thế kỷ, kể chuyện của bảy thế hệ trong một gia đ́nh ở thành phố giả tưởng Macondo của Châu Mỹ La Tinh, có những tấm thảm bay, những ma quỷ ám ảnh các dân làng, những ḍng máu nhỏ từ một vụ giết người chạy ngược lên cầu thang và đi quanh co qua những góc tường để t́m người mẹ ở nhà bếp là nạn nhân.

 

Ở đây Garcia tạo dựng hiện thực không chỉ bằng ảo tưởng mà bằng ma ảo, một thứ phối hợp giữa cái kỳ quái và cái giả tưởng hàng ngày của Châu Mỹ La Tinh.

 

Macondo, được nước bao quanh, là một thị xă giống như những tấm gương phản ảnh thế giới, ch́m trong những biến cố lạ lùng của toàn bộ một gia đ́nh. Các nhân vật, chịu sự kiểm soát của quá khứ và thường bị ma ám, không thể thoát ra khỏi cái định mệnh đă được phán quyết. Lịch sử đă được định rơ của Macondo được lập đi lập lại cho đến khi nó bị tiêu diệt v́ một cơn băo tố.

 

Câu chuyện bắt đầu với Jose Arcadio Buendia, một người đàn ông khỏe mạnh, quan tâm đến giả thuyết về triết học. Cha mẹ Jose ngăn cản anh không cho lấy Ursula Iguaran v́ hai ḍng họ đă có mối quan hệ thâm giao lâu đời. Tuy nhiên, v́ t́nh yêu sâu nặng, họ nhất quyết cưới nhau, nhưng sợ giống như những người họ hàng có chung một ḍng máu sinh con quái thai. Lấy Jose rồi, Ursula vẫn mang khóa trinh tiết. Sự việc kéo dài hơn một năm làm người ta tưởng Jose bất lực. Trong một cuộc chọi gà, một người thua chọc tức Jose, khiến anh nổi giận giết oan người bạn đó. Về nhà, anh quyết định bắt vợ cởi khóa. Mặc dù toại nguyện, Jose lúc nào cũng bị dằn vặt v́ đă giết oan bạn ḿnh. Anh cùng vợ bỏ sang một nơi khác sinh sống để tâm hồn được thanh thản. Sau này mỗi lần sinh con họ đều xem cặn kẽ coi chúng có mang bộ phận nào của loài vật không. Họ luôn luôn nhắc nhở con cháu tránh những mối quan hệ loạn luân.

 

Jose Arcadio Buendia, kiên quyết và cứng rắn, là tộc trưởng của ngôi làng Macondo do ông sáng lập. Nhờ những tiến bộ khoa học của thế giới, những điều kỳ diệu được nhóm người du mục di-gan do Melquides dẫn đầu đem tới. Khi ngôi làng phát triển, chính quyền cử một viên quan nắm quyền cai trị và lôi kéo phần đất này vào ṿng xoáy chính trị. Nhưng rồi quyền lực của ngôi làng lại trở về tay của Jose Arcadio Buendia.

 

Một cuộc nội chiến xảy ra. Đại tá Aureliano Buendia, con trai của Jose, lănh đạo chống lại quân đội Bảo hoàng. Trong khi Aureliano đi chiến đấu, Jose trở thành một người điên, bị trói vào một gốc cây. Arcadio, cháu ngoài giá thú của Jose, nắm quyền lănh đạo ngôi làng và trở thành một kẻ độc tài khát máu. Quân đội Bảo hoàng bao vây ngôi làng và Arcadio bị xử bắn.

 

Cho đến một ngày, quá mệt mỏi v́ cuộc chiến vô nghĩa, Đại tá Aureliano dàn xếp một cuộc ḥa b́nh thỏa thuận. Sau khi ḥa ước được kư kết Aureliano tự tử nhưng không chết. Những người nước ngoài đến và bắt đầu khai triển một dự án trồng chuối. Nhờ đó ngôi làng trở nên thịnh vượng cho đến một hôm cuộc băi công của công nhân nổ ra. Quân chính phủ được gọi đến. Những công nhân biểu t́nh bị bắn chết và bị ném xác xuống biển. Ursula, bà vợ góa của Jose Acardio Buendia, nói “thời gian là một ṿng tṛn.”

 

Sau cuộc thảm sát, ngôi làng ch́m trong một trận mưa kéo dài liên tục năm năm trời. Ursula nói rằng bà chờ đợi cơn mưa chấm dứt để chết. Một trong những thành viên cuối cùng của ḍng họ Buendia, tên là Aureliano Babilona, thuộc thế hệ thứ sáu, sinh ra trong thời gian này. Cuối cùng cơn mưa chấm dứt. Ursula chết. Macondo chỉ c̣n là một ngôi làng tan hoang.

 

Aureliano Babilona không được học hành, sống cô đơn trong ngôi nhà đổ nát của ḍng họ Buendia. Anh tự học và đọc những văn bản viết trên giấy da dê của ông lăo Melquiades, khi đó đă chết và trở thành một hồn ma, làm bạn với Aureliano Babilonia.

 

Aureliano trưởng thành, chỉ làm công việc duy nhất là nghiên cứu những văn bản viết trên giấy da dê, cho đến khi anh gặp và yêu người chủ hợp pháp cuối cùng của ngôi nhà là Amaranta Ursula, cũng chính là d́ ruột của ḿnh. Aureliano không biết điều này cho đến khi Amaranta Ursula chết khi sinh ra một đứa con có đuôi lợn. Đau khổ v́ cái chết của người t́nh và đứa con, giọt máu cuối cùng của ḍng họ Buendia bị một đàn kiến ăn thịt.

 

Aureliano cuối cùng cũng hiểu được những điều được viết trên giấy da dê của Melquiades, kể lại lịch sử ḍng họ Buendia. Khi anh ta đọc xong, cả ngôi làng bị phá hủy bởi một trận cuồng phong và bị xoá sạch khỏi thế giới này.

 

Cuốn sách của Gabriel Garcia Marquez được xây dựng trên mảnh đất Macondo không thực, qua bảy thế hệ của một ḍng họ. Sự kết hợp thần thoại của thổ dân da đỏ với trí tuệ của văn minh hiện đại, pha trộn giữa các yếu tố hiện thực và hoang đường đă tạo ra một thế hệ thẩm mỹ đặc biệt mà các nhà nghiên cứu và phê b́nh văn học gọi là chủ nghĩa hiện thực huyền ảo. Cái ảo tưởng ở đây vượt lên khỏi chính ḿnh để trở thành ma ảo, một sản phẩm đặc thù của Châu Mỹ La Tinh.

 

Về ư nghĩa, cái đuôi lợn của ḍng họ Buendia là sự vật chất hóa của tác giả về tính ích kỷ của con người đánh mất bản chất người. Những con người trong ḍng họ có đầy đủ trí tuệ và sức khoẻ cần thiết, nhưng lại thiếu trái tim yêu thương sôi nổi. T́nh yêu mới là cái cần thiết để thoát khỏi cảnh cô đơn.

 

Gabriel Garcia Marquez đă từng tuyên bố rằng ông để cả đời sáng tác về cái cô đơn. Thông qua đó, ông kêu gọi mọi người đoàn kết lại để “sáng tạo ra một thiên huyền thoại mới, nơi không ai bị kẻ khác định đoạt số phận của ḿnh, nơi t́nh yêu có lối thoát và hạnh phúc là cái có khả năng thực sự, và nơi mà một ḍng họ bị kết án trăm năm cô đơn, cuối cùng và măi măi sẽ có vận may tái sinh trên mặt đất này.

 

Bích Hoài

 

 

vanhuu08@yahoo.com

 

Trang Văn Hữu

 

 

 

art2all.net