Trạch An -Trần Hữu Hội

 

 

TRƯƠNG VĂN DÂN:

 

LẦN THEO NHỮNG SỢI TƠ LÒNG

 

 



          Tôi gặp Trần Hữu Hội lần đầu là trong một buổi tối thật buồn: một bạn văn của chúng tôi, nhà thơ Chu Trầm Nguyên Minh vừa nằm xuống và đêm đó anh em Quán Văn đang tổ chức một buổi tưởng niệm đọc thơ văn để sáng hôm đưa tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng.

Khi tôi và Elena thắp nhang trước linh cửu và bước ra cửa th́ thấy một người đàn ông gầy g̣, chống nạng đứng hút thuốc, khép nép sát bức tường. Tôi nh́n anh mỉm cười, hỏi anh là bạn hay là người thân của anh CTNM. Anh đáp “bạn, mà như em!”. Giọng anh thật khẽ khàng, không biết có phải c̣n e dè với người lạ hay không muốn kinh động cái không gian nhuốm màu tiếc thương của người vừa rời cơi tạm. Nói xong anh rít một hơi thuốc thật sảng khoái và tôi nh́n anh, cười lần nữa, và lúc này tôi mới thấy người đàn ông này có khuôn mặt phúc hậu và nụ cười thật hiền. Và tự nhiên trong tôi phát sinh một thiện cảm đặc biệt.

Tṛ chuyện một lát, biết anh cũng làm thơ và viết văn, câu chuyện của chúng tôi trở nên thân mật và cởi mở. Đúng là văn chương xóa mờ ranh giới và giúp con người vượt qua các rào cản.

Đang nói chuyện với Hội th́ thấy ở góc phía bên trái cửa ra vào xao động. Có mấy người đứng lên và di chuyển. Tôi nh́n ra th́ thấy Lê Hữu Khóa, mồ hôi nhễ nhại và khuôn mặt mệt mỏi đang từ taxi bước đến. Khóa là giảng viên trường Đại học Charles-de-Gaules – Lille 3 ở Paris, là người mà một năm trước đó cùng người bạn thân của tôi là bs Thiện đă đứng ra mời và xin visa cho đoàn Quán Văn “cơng văn chương qua đất Pháp”. Khóa vừa tham dự các buổi tọa đàm khoa học ở các trường đại học trong thành phố và tranh thủ đến thắp nhang cho bạn v́ sáng hôm sau c̣n có một cuộc họp rồi trưa là bay về Paris. Tôi đến chào Khóa và cùng các bạn QV trong đoàn trao đổi một lát, v́ sau đó là anh phải vội đi.

Nghi lễ và tưởng niệm cho anh CTNM xong th́ tôi quay lại chỗ Hội. Nói chuyện một lát th́ tôi mời anh đến tham dự các buổi ra mắt Quán Văn tổ chức hàng tháng. Anh vui vẻ nhận lời và khi từ giă anh có tặng tôi 2 bài thơ “anh về đọc cho vui!”.

&

Sau đó tôi và Hội thường gặp nhau ở các buổi ra mắt Quán Văn. Tuy không phải lần nào Hội cũng tham dự được v́ anh đi lại khó khăn, có những lần sức khỏe không cho phép nên anh đành ngồi nhà tham dự hàm thụ qua các trang phóng sự ảnh của bạn văn Đặng Châu Long trên Facebook. Gặp nhau không nhiều nhưng anh rất được anh em quư mến. Rồi sau khi anh ra mắt tập truyện đầu tay “Hạt Mầm trót vay” ở café Thủy Trúc th́ anh đă trở thành một thành viên thân thiết trong gia đ́nh Quán Văn. Nhiều lần tôi quan sát anh bắc ghế ngồi gần khán đài để phụ trách âm thanh cho buổi họp và nụ cười hiền lành luôn nở trên môi.

Biết Hội sống trong t́nh yêu thương đùm bọc của gia đ́nh và sự quư mến của bằng hữu văn nghệ nhưng những lần gặp, trong ánh mắt và nụ cười vui hiền hậu của anh tôi vẫn cảm nhận có một cái ǵ đó, ẩn khuất mà như có hằn lên những nếp gấp, có lẽ là của nỗi niềm tâm trạng hơn là dấu tích của thời gian.

&

Nỗi niềm đó tôi chỉ hiểu khi đọc những trang viết về tuổi trẻ của Hội. Nó chẳng khác của mọi người là bao, v́ đó là thân phận, chung, của những người Việt Nam sinh ra trong thế hệ chúng tôi. Chiến tranh. Hợp tan. Chia ĺa. Mất mát. Chỉ có điều là Hội nhạy cảm hơn, nên “vết hằn” cũng v́ thế mà in sâu. Nhuộm vào trong mắt, như lúc anh đành đoạn chia tay những quyển sách mà ḿnh yêu quư:

“… Mẹ bán luôn đi, con cũng đă đọc những cuốn này rồi.
Bữa cơm trưa có thịt ḅ nhờ mấy cuốn sách nặng kư, ông thầm nghĩ: bữa ăn gồm: Văn học Nga, Ấn độ, Ả rập, Việt nam và Mỹ mà không thịnh soạn sao được! Ông cười, gắp miếng thịt ḅ bỏ vào chén mẹ:
– Thịt ḅ ngon quá mẹ ạ, mẹ cùng ăn chứ sao con ăn hết được!...”

Miếng thịt đó chắc đă làm anh nghẹn. Văn chương đổi thịt: “Ông muốn cúi đầu tạ lỗi, tạ lỗi với những ai đă viết, đă dịch, đă bỏ công sức làm nên những cuốn sách!”

Nỗi buồn đó chắc c̣n có vị cay!

Vị cay và chua chát ấy âm thầm, nhưng dai dẳng kéo dài theo chiếc thập giá đời anh. Hơn 10 năm trước anh bị cắt chân phải v́ bệnh “tắc động mạch chi”. Tưởng sẽ yên thân với cái chân trái và cặp nạng nhưng dường như định mệnh chưa cho anh ngơi nghỉ và những ngày gần đây anh thường phải đến bệnh viện cấp cứu. T́nh trạng ngộp thở, đau tức vùng ngực xảy ra thường xuyên và mới đây các bác sĩ c̣n xác định anh bị suy tim độ III, có “kèm” thêm món quà viêm phế quản!

Khi biết về đoạn đường đời của bạn, tôi không mấy ngạc nhiên khi đọc trong đoản văn Thập giá phận người của anh:“Những năm sống chưa có tai ương nào đến với ḿnh, tôi nh́n cuộc đời của những người xung quanh… mà băn khoăn có hay không định mệnh của một con người. Từ khi cầm bút, băn khoăn ấy vẫn không thôi hiện hữu trong tôi. Những truyện ngắn tôi viết phần nhiều là thể hiện băn khoăn ấy.”

Và có lẽ v́ tai ương đến với anh dồn dập nên anh biết là ḿnh không thể làm ǵ khác hơn là đón nhận. “…Nếu không chết, th́ mọi tai ương đều là hồng ân.” Và dù có thế nào, mệt mỏi, đớn đau nhưng ngày nào c̣n sống anh sẽ c̣n cầm lấy bút, vui với mọi người, gia đ́nh và bè bạn: “Tôi vẫn tạ ơn đời, tạ ơn Tha nhân…” Đọc lướt qua, dễ tưởng đó là câu nói bi quan, nhưng ngẫm lại th́ đó mới là sức mạnh tinh thần hiện hữu trong anh: đón nhận, nhưng không đầu hàng. Niềm vui từ gia đ́nh và bằng hữu chính là điểm tựa để anh sống và viết.

Tuy không phải là người theo đạo Phật nhưng những trang viết đầy tính nhân văn của Hội và các câu chuyện anh viết đều ảnh hưởng sâu sắc từ thuyết nhân quả, duyên nghiệp trong Phật giáo.

Thử đọc trong tập truyện “Hạt Mầm Trót Vay” phần lớn các truyện viết đều cách này hay cách khác, luôn có hàm ư để gieo vào ḷng người cái chân lư có vay có trả, vừa như nhận định, vừa như nhắc nhở nhẹ nhàng là hăy sống tốt cùng nhau v́ không ai thoát khỏi quy luật này. Người đọc dù có lơ đăng cũng dễ nhận ra, là trong những hoàn cảnh tưởng chừng như không lối thoát vẫn t́m thấy một hạt mầm đang cố vươn lên mà sống.

Mỗi con người tồn tại trong thế giới này, phải chăng là những hạt mầm, được định mệnh vay mượn từ hư vô, gieo ngẫu nhiên vào trần gian làm nên những số phận buồn đau, hạnh phúc...Rồi một sớm mai kia, bỏ lại sau lưng những hoan lạc, ưu phiền của cơi nhân sinh, trở về đâu đó trong vô cùng.'' (Truyện ngắn: “Số Phận”)

“Văn là người” và đọc những chuyện của anh cứ tưởng như đang ngồi nghe anh nhẩn nha kể chuyện, thỉnh thoảng điểm thêm những nụ cười rất hiền. Ai gặp anh một lần là không thể quên nụ cười ấy. Nó như một nụ hoa t́nh người nhú lên từ hoang tàn đổ nát, ḷng nhân hậu làm ḷng ta dịu đi một lát trong thế giới bất toàn. Ai biết đón nhận, người ấy sẽ b́nh an. V́ trở lực lớn hơn ta gấp triệu lần. Ta không thể thay đổi được thế giới, mà chỉ có thể thay đổi cách nh́n:

“Anh nghĩ ngợi: Khi đă trót mang thân phận con người, ai cũng có một thập giá, thập giá nào cũng nặng như nhau, nhưng tùy vào thái độ tiếp nhận của người phải mang thập tự ấy, sẽ làm cho nó nhẹ bớt đi hay là nặng nề thêm…”(truyện ngắn “ Giáng sinh” )

“…Mọi sự theo duyên mà đến, mọi sự theo duyên mà đi…”

“... Con ạ, Duyên- Nghiệp trùng trùng, chớ băn khoăn. Quá khứ th́ đă qua…đừng vọng tưởng sinh phiền lụy. Con và vợ, con của con, chưa đủ duyên nên ly tán, khi đủ duyên ắt sẽ hợp.”
(Truyện ngắn: “Duyên-Nghiệp”).

Với một nhân sinh quan như thế, Hội đă truyền được năng lượng b́nh an đến những người thân, giúp họ an lành, trong một truyện ngắn viết như tự truyện:

…Thùy vuốt ve phần chân cụt của Thủ qua lớp băng, nói trong nước mắt:
- Ngày mai là Giáng sinh, anh đă không chết, mất một cái chân mà được sống cùng nhau, cùng các con… may mắn lắm rồi anh ạ!
Thủ ôm ngang lưng Thùy:
- Ừ, anh cảm ơn em, cảm ơn em!

Ngoài kia, tiếng c̣i xe cấp cứu vọng vào pḥng, Thủ lại nghĩ và nhận ra rằng:
“Nếu không chết, th́ mọi tai ương đều là hồng ân. Vâng, lâu nay anh đă sống chan ḥa với tha nhân, từng đón nhận khổ đau và hạnh phúc từ cuộc nhân sinh… bằng tâm hồn của ḿnh chứ không phải bằng đôi chân…
” (truyện ngắn “ Giáng Sinh” )

Phần lớn những trang văn của Hội đều được viết nhẹ nhàng như kể lại những hoàn cảnh mà anh từng nghe, từng chứng kiến trong thời anh sống. Nguyên mẫu có thể là h́nh bóng của chính anh hay những người thân, có khi là h́nh ảnh tổng hợp của những người anh biết, dĩ nhiên những tên tuổi, cá tính và tính cách nhân vật bị hoán đổi, trộn lẫn, để khi đọc chính họ cũng không thể nhận ra ḿnh, mà chỉ thấy… quen quen.

Với cách nh́n của một tâm hồn nhạy cảm, biết yêu vẻ đẹp của ngôn từ, anh cầm lấy bút và viết nên những câu chuyện mà nét chung là hiền lành, nhẹ nhàng, tinh tế. Không đao to búa lớn và bằng câu chữ mộc mạc, anh nhởn nha viết, chia sẻ kỷ niệm buồn vui về mảnh đất quê hương mà anh yêu mến. Giọng kể có lúc thiết tha nhưng cũng có khi chua chát, bất b́nh về thế sự nhưng không hằn học, dù bản thân đă từng là nạn nhân trực tiếp. Thâm trầm có lẽ là một thứ bản lĩnh mà Hội đă được rèn luyện qua sự từng trải và chiêm nghiệm bản thân.

Hội là người rất yêu văn chương và tôi tin là anh sẽ viết và viết măi. Mỗi lần thấy bài của anh trên QV tôi thường nhớ đến câu nói của nhà thơ Pablo Neruda: “Với tôi, viết là hít thở. Tôi không thể sống mà không hít thở và tôi không thể sống mà không viết”. Đời đă gian truân, thế mà chừng 10 năm nay anh c̣n tự nguyện vác thêm cái thánh giá bằng bút để trải ḷng và nói lên tâm trạng cùng những suy nghĩ của ḿnh. Viết văn là một nghiệp dĩ, một chọn lựa chứ không bao giờ là một nghề để kiếm ăn, để mua danh, v́ dù thế nào th́ vẫn tiếp tục sống chết với ng̣i bút và đem tâm hồn ḿnh để làm đẹp cho đời.

Từ khi gia nhập làng văn… tôi có biết và quen một số người mà thời trẻ họ có viết, rồi dừng. Bỏ mấy chục năm không viết. Thời đó dù họ cũng có chút tiếng tăm nhưng theo tôi th́ có lẽ họ chưa phải là nhà văn đúng nghĩa. Đơn giản chỉ v́ họ đă ném bút rồi chuyển hướng theo một mục đích khác và hoàn toàn quay lưng với văn chương.

C̣n Trần Hữu Hội th́ không! Anh yêu văn. Yêu cuộc sống. Và anh đă và đang trút hết vào những trang sách toàn bộ tinh lực của ḿnh. Trong các câu chữ của anh, có lúc tôi như nghe thấy hơi thở phập phù của buồng phổi đang yếu dần, nghe thấy cả tiếng đập bồi hồi của con tim bệnh tật… chắc chắn là viết xong mỗi câu chuyện anh phải mệt mỏi như một vận động viên vừa chạy lên một ngọn núi cao.

Nhưng tôi biết và mong anh không dừng lại. Sự sảng khoái và hạnh phúc có lẽ chỉ có của người cầm bút sau khi nh́n những câu chữ của ḿnh hoàn thiện trên trang giấy chính là sức mạnh giúp anh đi tiếp. Châm một điếu thuốc, rít một hơi sảng khoái, nh́n khói bay và ḷng lơ lửng lên mây. Thuốc lá có lẽ là điều anh nên tránh, nhưng oái ăm thay nó là chất xúc tác để cảm xúc thăng hoa.

Những tháng gần đây chúng tôi đều thấy sức khỏe Hội yếu dần… Thế nhưng anh vẫn giữ được sức viết, miệt mài và mê mải. Là con tằm tiếp tục nhả tơ.

Tuy không có sức khỏe bạt sơn cử đỉnh, nhưng cây bút trong tay Trần Hữu Hội là phương tiện để chiến đấu cho khát vọng Chân - Thiện - Mỹ . Trên mỗi câu chữ, mỗi trang văn của Hội đều ít nhiều đều gửi gắm một ước mơ là “Từ đây người biết yêu người” như trong một khúc hát của Văn Cao.

Sài g̣n 9-4-2018

Trương Văn Dân

 





Gặp gỡ tại buổi ra mắt tập truyện “Vàng Trên biển đá đen” của Elena Pucillo Truong
Do Quán Văn tổ chức ngày 8-4-2018 tại cà phê Lọ Lem- Sài G̣n
 

 

art2all. net