TRẦN DZẠ LỮ

 

 

HỒI ỨC

DỌC ĐƯỜNG VĂN NGHỆ CỦA TÔI

 

PHẦN 5 - Ở ĐÀ NẴNG

 

          Viết đến đây sực nhớ họa sĩ HOÀNG ĐẶNG. Anh là người gốc Huế “thiên di” vào Đà Nẳng sống và vẽ. Họa sĩ không gặp thời th́ sống được là may. Tôi quen Hoàng Đặng qua Hồ Đắc Ngọc. Anh không bươn chải như người khác nhưng sống cũng “phiêu “ tận cùng.  Khi vẽ đam mê bừng cháy. Lúc nhậu cũng tận sáng. Giao du cũng nhiều. Anh có một xưởng vẽ bên Sơn Trà. Năm 2015 tôi về ngủ lại. Thế là chuyện đời, chuyện văn nghệ huyên thuyên. Tuy lận đận nhưng anh cũng có hai cuộc triển lăm tranh ở nước ngoài. Một lần ở Ireland mà báo Thanh Niên ngày 19. 8. 2006 giới thiệu: ” Để được cầm cọ vẽ, suốt 35 năm Hoàng Đặng lầm lũi làm đủ thứ công việc; thợ hồ, phụ ḷ bánh ḿ, dạy kèm, vẽ Pa-nô Xi-nê…Từng phải vào chùa trốn lính để thỏa măn một đam mê duy nhất trong đời là hội họa. Đó là chuyện đời, chuyện nghề của họa sĩ Hoàng Đặng, hội viên hội Mỹ Thuật Việt nam. Những ngày này, Hoàng Đặng đang ở Ireland, có lẽ anh là người đầu tiên được mời đến để vẽ và triển lăm tranh tại xứ sở hoa hồng” Và báo Đà Nẵng cuối tuần ra ngày 25. 10. 2009 chạy tít: TRIỂN LĂM TRANH CỦA HỌA SĨ HOÀNG ĐẶNG TẠI MỸ. Với chủ đề “ Phong Cảnh và Đời Sống VN “ từ ngày 18. 10. 2009, họa sĩ Hoàng Đặng đă lên đường sang Hoa Kỳ cùng 30 bức tranh với chất liệu sơn dầu và Acrylic để khai mạc cuộc triển lăm theo lời mời của 2 trường đại học St Benedict, St John. Sự thành công của anh cũng có cái giá của nó: Vượt qua gian nan đời sống và đốt hết đem mê của tâm hồn trên ngọn thời gian…

Khi nhắc nhở bạn bè ngoài Hồ Đắc Ngọc, anh thường nói đến Đỗ Toàn. Một nhà điêu khắc
đáng quư với cái tâm mà trong giới văn nghệ gọi là Bồ Tát ( cùng thời với điêu khắc gia Phạm Văn Hạng - một người rất nổi tiếng và sống đầy chất nghệ sĩ ). Khi vào SG, thỉnh thoảng tôi điện thoại thăm bạn. Vẫn sống và làm việc không ngừng và cũng chẳng quên rong chơi.

Trái lại, họa sĩ NGUYỄN DUY NINH mỗi ngày một đẹp ra và sống hạnh phúc với vợ con đầm ấm. Anh có những cuộc triển lăm thành công. Tạp chí Sông Hương đă viết về anh:

          Họa sĩ Duy Ninh là một trong những gương mặt điển h́nh, thuộc thế hệ đầu tiên của mỹ thuật Đà Nẵng sau 1975. Suốt nhiều năm qua, Duy Ninh đă có những đóng góp sáng tạo không mệt mỏi, qua nhiều thể loại: sơn dầu, lụa, khắc gỗ…Thế nhưng, đến hiện nay, nhắc đến họa sĩ Duy Ninh, dường như nhiều người nghĩ ngay cái tên anh gắn liền với thể loại thủ ấn họa (monoprint). Bởi đây cũng chính là thể loại mà anh tâm đắc nhất, như có lần anh từng bộc bạch: "Với thể loại này, người nghệ sĩ có thể bày tỏ trên tranh những suy nghĩ sâu kín nhất, hoặc cũng có thể là những ư tưởng bất chợt. Cái hay của thể loại này là sự ngẫu nhiên mà người xem cảm nhận được lại chính là điều tác giả đă sắp xếp trước”. Với Duy Ninh, hẳn lĩnh vực này là một tṛ chơi lư thú của người khéo tay, vừa là tâm huyết của một họa sĩ trên con đường t́m kiếm tiếng nói của riêng ḿnh. Tranh của anh thường thể hiện qua nhiều đề tài dàn trải phong phú, từ cụ thể đến trừu tượng, bằng các chất liệu màu dầu, sơn ta, phấn tiên, thuốc nước… trên giấy trắng, giấy dó. Có thể nói, mọi ưu thế phóng túng trong việc sử dụng chất liệu cho thủ ấn họa đă được Duy Ninh khai thác một cách triệt để và hiệu quả.

Năm 1991, Duy Ninh có cuộc Triển lăm cá nhân tại TP Hồ Chí Minh. Đây cũng là lần đầu tiên Duy Ninh đă đem đến với công chúng một cái nh́n khá đầy đủ về nghệ thuật Thủ ấn họa của ḿnh. Với 51 tác phẩm mang nặng những nội dung suy niệm sâu lắng về những thân phận, những mảnh đời giữa trần gian đầy bất trắc…đă khiến đông đảo người thưởng ngoạn và giới chuyên môn đánh giá cao. Cũng chính dịp này, chương tŕnh nghệ thuật Đông dương (Indochina Art Project) của Hoa Kỳ, do David Thomas đại diện, đă chọn của Duy Ninh 7 tranh (trong tổng số 45 tranh được chọn tại Việt Nam) để trưng bày tại cuộc triển lăm chủ đề Two peoples – One land (Hai dân tộc – Một miền đất) ở Mỹ vào năm 1992….

Tính t́nh Nguyễn Duy Ninh lại hiền ḥa dễ mến. Trước 75 là khóa khăn xanh Thủ Đức. Tôi khóa khăn tím ( khóa huynh trưởng). Hồi ấy học th́ ít mà chơi th́ nhiều. Buổi chiều gần chạng vạng là Tôi, Nguyễn Duy Ninh, Lê Công Đào, Nguyễn Minh Nữu thường kéo nhau lên đồi Tăng Nhơn Phú hát nhạc, đọc thơ cho nhau nghe.

Năm 2015 tôi về thăm. Nguyễn Duy Ninh hú gọi bạn bè. Thế là các bạn Lê Công Đào, Hoàng Đặng, Trần Trung Sáng “e” tôi mấy bữa, cà phê, nhậu khắp Đà Nẵng. Bây giờ khi nghe ai nói về ĐN lại nhớ…

Đang viết tự nhiên nhớ đến HOÀNG ĐĂNG NHUẬN. Một người không học trường lớp nào về Mỹ Thuật lại rất nổi tiếng như sóng lừng do ḷng đam mê hội họa ngời ngời. Trước 75 tôi hay lên chơi chỗ họa sĩ Lê Văn Tài ở đường Trần Hưng Đạo, Huế. Gặp và quen Hoàng Đăng Nhuận từ đó. Sau năm 1968 anh vào Đà Nẵng sinh sống và làm việc. Nhưng nghiệp hội họa vẫn là chính. Anh có mấy xưởng vẽ nhưng một xưởng vẽ ở Thanh Bồ là ấn tượng với tôi nhất. Lâu lâu anh rủ tôi về đó ngủ lại. Hoàng Đăng Nhuận như một kiếm sĩ trên khung vải và màu. Anh miệt mài không kể giờ giấc đêm ngày. Khu biển có rừng cây và gió hú ở Thanh Bồ có lúc khiến tôi rợn người. Nhưng với anh là bất sá và hiện h́nh cung cách của một đạo sĩ. Cũng chính nổ lực nội tại cộng thêm thiên phú anh đă bước vào vườn địa đàng của hội họa

HỌA SĨ HOÀNG ĐĂNG NHUẬN: GIẤC MƠ TRÀN NGẬP SẮC MÀU
Báo Đà Nẵng cuối tuần số ra ngày 10. 10. 2015 có giới thiệu như sau:

Nhiều người sinh ra trong khoảng thập niên 40 của thế kỷ XX nói Hoàng Đăng Nhuận v́ mê vẽ tranh mà bỏ nghề thợ vàng, lang thang theo người bạn họa sĩ là Lê Văn Tài để học vẽ từ cuối thập niên 60.

Câu chuyện Hoàng Đăng Nhuận trở thành họa sĩ nổi tiếng cũng có nhiều ẩn khuất được truyền miệng từ các thế hệ cùng thời ông. Nhà phê b́nh mỹ thuật Huỳnh Hữu Ủy nhận xét: “Mê thế giới của giá vẽ và màu sắc, nên thời c̣n rất trẻ, trước năm 1968, Nhuận rời gia đ́nh và sống trong cảnh phiêu lăng với họa sĩ Lê Văn Tài ở Huế, rồi khi Lê Văn Tài trở thành người lính của Mặt trận Giải phóng, đi lên rừng, rồi đi ra miền Bắc, th́ Hoàng Đăng Nhuận đă trở thành họa sĩ lúc nào mà cũng chẳng hay. Tự học vẽ, không vào trường Mỹ thuật, vậy mà bước đầu triển lăm th́ lại bày tranh với hai họa sĩ rất danh tiếng thời bấy giờ là Đinh Cường và Rừng”.

Tranh của anh triển lăm nhiều nơi và được Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Việt Nam sưu tập.

Sau năm nhiều năm giang hồ, Hoàng Đăng Nhuận cũng đă quay về Huế để sống và vẽ.

Cơn tai biến đă khiến anh ngưng vẽ mấy năm. Nghe đâu bây giờ anh đă dần phục hồi sức khỏe và cầm cọ trở lại. Năm 2015 tôi về Huế có ghé thăm. Lúc ấy anh nằm trên giường mừng vui khi thấy lại bạn cũ nhưng đọc trong mắt anh tôi biết anh rất buồn…khi phải tạm ngưng cuộc hôn phối với hội họa.

Thêm một người hiện rơ trong hồi ức tôi: Anh LUÂN HOÁN. Từ thập niên 60 anh đă nổi tiếng và là một người mà tạp chí Văn Học luôn quan tâm. Hai tập thơ của anh được nhà xuất bản Văn Học SaiGon ấn hành năm 1964. Tôi quen biết anh từ năm 1970. Một cây bút tài hoa của đất Quảng. Trần Trung Thuần đă viết về anh như sau:

Luân Hoán là một người làm thơ có tiếng tăm, điều này ai cũng công nhận – từ thập niên 60 Thế Kỷ 20, các báo miền Nam Việt Nam đều thường xuyên đăng thơ Luân Hoán, anh cũng có nhiều tập thơ xuất bản đàng hoàng ở tuổi khi c̣n rất trẻ. Luân Hoán nổi tiếng nhờ tài làm thơ mau, hay…và xuất chúng. Anh là người sinh trưởng ở đất Quảng Nam, nơi có nhiều người làm thơ nổi danh nhất Việt Nam ḿnh, cả hai miền Nam - Bắc, nhưng anh là người làm thơ sung sức và trường thọ. Nào Vũ Hữu Định, Hoàng Trúc Ly, Tạ Kư, Bùi Giáng…đều đă chết, họ làm thơ một thời với Luân Hoan đấy thôi. Sau Luân Hoán không bao lâu th́ có Hoàng Lộc, Thành Tôn, Phan Xuân Sinh, Nguyễn Lương Vỵ, Hồ Thành Đức, Thái Tú Hạp, Ư Nga, Bích Xuân…Những người này hay lắm về thơ, tức về “chất lượng”, nhưng “số lượng” thơ th́ tùy theo thời tiết, tức không b́nh thường, nay trồi, mai sụt, nay tăng, mai giảm, tùy hứng mà có thơ! Bền bỉ thi gan cùng tuế nguyệt th́ duy nhất Luân Hoán. Anh vốn không “b́nh thường” về thể chất, chỉ c̣n một chân, một chân gửi trên chiến trường Quảng Ngăi năm 1969, mà anh làm thơ “bá cháy” và không bài thơ nào của anh bị gọi là “thơ sượng” hay “thơ gượng”. Anh em đọc thơ Luân Hoán đều tấm tắc: “cha này c̣n ngon”, và ngon thật…ở cái tuổi hết chừng mực rồi, Luân Hoán vẫn có thơ cho…nữ sinh Huế ngày xưa! Luân Hoán…như một người b́nh thường, làm tṛn bổn phận đối với đất nước, với bạn bè (trai và gái), với vợ, với con, với thân thuộc c̣n ở quê nhà…Tôi không thấy trong thơ Luân Hoán lời ai oán nào, lời than van nào, thơ anh đượm t́nh và đậm t́nh…Quả thật xưa nay hiếm vậy!

Đến năm 1973 tôi vào SG th́ không c̣n gặp anh nữa. Năm 1985 anh được gia đ́nh bảo lănh qua CANADA. Trước khi đi anh có ghé thăm tôi. Hai anh em chở nhau lên Lái Thiêu thăm nhà thơ Lê Vĩnh Thọ. Khi qua xứ người, dù mất một bàn chân trái nhưng anh vẫn làm việc cật lực và đă xuất bản thêm nhiều tập thơ nữa. Nhớ và thương anh. Nhất là khi đọc được bài thơ viết cho vợ có những khổ thơ khiến tôi giật ḿnh:

GIẶT ÁO QUẦN CHO VỢ

Trộn chút t́nh ta vào bột giặt
ṿ nhẹ nhàng bởi lo sợ em đau
vải c̣n đượm mùi thịt da em thơm ngát
tay bùi ngùi như đang vuốt ve nhau

trông thau nước đục lờ những cáu bẩn
ta bỗng thương lớp bụi nổi màng màng
chúng là những nhọc nhằn em gánh chịu
nuôi chồng con dài năm tháng gian nan

ṿi nước nhỏ chảy qua từng thớ vải
như chảy vào trong cùng tận ḷng ta
em có thấy giọt lệ ta thầm nhỏ
và tan trên màu vải những thiết tha?
 


đời không giữ giùm ta hai chân đứng
có lẽ nào vô dụng măi hay sao
giặt giũ làm thơ đọc vài trang báo
hai mươi bốn giờ thường trực chiêm bao

Luân Hoán

 

Dù ở nơi đâu, chân trời góc bể nào mà cái CHÂN - THIỆN - MỸ ta lấy làm đầu cho văn chương th́ đó là ĐẠO vậy…

 

Xem tiếp Phần 6
 

 

trang Trần Dzạ Lữ

art2all. net