Trần Xuân Thời

 

LUẬN VỀ LƯ TƯỞNG

 


           Lư tưởng (Ideal) là những ǵ tốt đẹp nhất mà chúng ta muốn đạt đến như nào là tín ngưỡng lư tưởng, ngôi nhà lư tưởng, hai trái tim vàng trong túp lều tranh, người yêu lư tưởng, công việc lư tưởng, đời sống lư tưởng, cộng đồng lư tưởng, quốc gia lư tưởng ...
 

Phải chăng chỉ có con người mới có lư tưởng? Đúng, chỉ có con người mới có những ước mơ làm đẹp cuộc đời, cho nên con người không ngừng làm việc, phát minh để tiến bộ, cải tiến sinh hoạt hàng ngày, từ sinh hoạt của cá nhân, tổ chức, đoàn thể đến sinh hoạt của cộng đồng, xă hội từ thời thượng cổ đến thời đại văn minh như hiện nay.


Con người khác các sinh vật khác nhờ có lư trí biết suy xét, biết phát minh những điều mới lạ, biết suy xa hiểu rộng để theo đuổi lư tưởng của ḿnh. Lư tưởng có thể xếp loại vào đối tượng như những lư tưởng nhằm vào phúc lợi cá nhân, gia đ́nh, cộng đồng, quốc gia, nhân loại. Hoặc xếp loại theo mục tiêu như làm giàu, phát triển kiến thức, kiến tạo ḥa b́nh, thiết lập công lư, nhân quyền, kiến tạo hạnh phúc cho đồng bào, phát triển nghệ thuật, phát triển thể thao, phát triển các phương tiện giải trí...


Trí tuệ là cơ năng đặc biệt của con người. Từ thuở sơ sinh, trí tuệ như một tờ giấy trắng và nhờ các giác quan mà trí tuệ chúng ta đựợc phát triển. Tai càng nghe nhiều, mắt càng thấy nhiều trí tuệ càng thu nhận được nhiều dữ kiện, gặp được nhiều hoàn cảnh, biết được nhiều sự việc, th́ trí tuệ càng phát triển. Người khôn thường là người trường trải, lăo luyện, học hỏi nhiều, và ứng dụng kiến thức vào nhiều hoàn cảnh.


Muốn thực hiện được lư tưởng, cần phải hội đủ các yếu tố chính:.


(1) Trí tuệ (intellect): Mọi người b́nh thường đều có trí tuệ do Thượng đế ban cho con người. Trí tuệ là cơ năng đặc biệt của con người, biết tự thu nhận kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, tinh luyện suy luận và ứng dụng kiến thức vào sự xây dựng cuộc sống cá nhân và nhân quần xă hội, đă và đang được t́m hiểu qua khoa Tâm lư học thực nghiệm.


(2) Lư trí (reason) Cơ năng phán đoán, phân biệt được phải trái, lành dữ, tốt xấu.


(3) Tự đo (freedom): Tự do tâm lư là yếu tố bẩm sinh. Mọi người đều có tự do quyết định về phương diện tâm lư như chọn lành lánh dữ, tự do suy tư, mơ ước, yêu thương. Tự do tâm lư có thể bị hạn chế bởi tự do chính trị, luân lư xă hội, tôn giáo, tạo thành cái gọi là siêu bản ngă (superego) đè nặng lên tự do tâm lư.


(4) Ư chí (will): Ư chí là yếu tố do con người tự rèn luyện. Có chí th́ nên. Có trí tuệ để suy tư, t́m ra việc phải làm., kiến tạo lư tưởng, có tự do chọn lựa lư tưởng, nhưng nếu không có ư chí cương quyết thúc đẩy hành động th́ dù có chương tŕnh, kế hoạch mà thiếu quyết tâm thực hiện cũng như không.


Nếu chúng ta có trí tuệ mà không biết học hỏi, thu nhận kiến thức, tinh luyện suy luận, phát triển sáng tạo để ứng nghiệm vào đời sống, th́ trí tuệ sẽ trở nên vô dụng. “Ngọc bất trác bất thành khí”, uổng công của Thượng đế.


Con người có tự do để hành động, nhưng phải biết hành sử quyền tự do quư báu này đề làm việc hữu ích cho nhân quần xă hội. Tự do chân chính (genuine freedom) là tự do làm lành, lánh ác. Một khi vắng bóng tự do chân chính, th́ loại tự do giả tạo đột xuất, v́ thế Nho học cũng đă cảnh giác “Nhất nhật bất niệm thiện, chư ác giai tự khởi”. Một ngày mà không nghĩ đến điều thiện th́ điều ác sẽ dấy lên !


Tự do mà Thượng-đế ban cho loài người không phải tự do biếng nhác, phí phạm cuộc đời. Sự biếng nhác sẽ làm hạ nhân phẩm con người (dehumanization) qua những hành vi tiêu cực, khiến cho thân thể không phải là phương tiện cho trí tuệ phát triển. Nếu trí tuệ bị giam giữ trong một cơ thể biếng nhác, có mắt mà không có tṛng, có tai mà không chịu nghe..., th́ trí tuệ sẽ bị lụn bại, thân xác nẩy nở theo tuổi tác mà trí tuệ vẫn ở trạng thái thiếu truởng thành. Trạng thái ấu trĩ này khiến cho con người gặp nguy cơ rơi vào t́nh trạng thiếu nhân cách, sống không tưởng:


(1) Hoặc tự xem ḿnh là tuyệt hảo, tài ba hơn người, cái ǵ cũng hay cũng giỏi, nên không cần học hỏi, tự cho ḿnh là thiên thần giáng thế (angelism).


(2) Cũng có thể, ngược lại thái độ tự thần thánh hoá, con người rơi vào hố sâu vật chất, không phân biệt được sự khác biệt giữa đời sống của con người và đời sống của thú vật, nghĩa là không có linh hồn, tôn thờ vô thần và duy vật (materialism).


Thế th́ với lư trí mà Thượng Đế ban cho chúng ta, với quyền tự do quyết định và với ư chí cương quyết để thực hiện những ǵ chúng ta mong ước, con người đă có đủ phương tiện sống ở đời, để thừa hưởng sản nghiệp thiên phú gồm đất đai, sông núi, tài nguyên thiên nhiên, muông thú, hoa lá cỏ cây... Thượng Đế như vậy đă yêu thương con người không bút nào tả xiết.


Mặc dù con người hưởng được cuộc sống thần tiên ở trần gian, nhưng con người vẫn tự tạo cho chính ḿnh những ngăn trở khiến cho đời sống bớt phần thi vị hạnh phúc. Dù có sự thành công và cố gắng, con người vẫn gặp cảnh bất công, xấu xa, và cảm nhận sự bất hạnh, do ma vương qủy dữ tạo nên như làn sóng vô thần tạo nên cho chúng ta mất tự do, xa ĺa quê hương, sống viễn xứ.


Mỗi khi găp sự bất hạnh, con người lại cố gắng vượt thoát sự bất hạnh nhờ tiềm năng bẩm sinh. Đặc điểm của tiềm năng này là khả năng kiến tạo lư tưởng cho cuộc sống. Một khi đă có lư tưởng th́ con người biết việc ǵ phải làm, con đường nào phải đi và biết ứng dụng khả năng để thực hiện lư tưởng ḿnh mong ước.


Người ta thường nói ”Đời sống mà không có lư tưởng như bầu trời không tinh tú”, hoặc “ Người mà không có lư tưởng như thuyền không lái, như ngựa không cương trôi dạt long bong không ra thế nào cả”. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta cũng nhận thấy nhiều người làm việc không có chương tŕnh, kế hoạch, làm thật nhiều mà kết qủa chẳng bao nhiêu, v́ người phụ hay v́ ḿnh kém khả năng cũng không biết! Khi gặp thất bại triền miên v́ thiếu lư tưởng, con người có thể rơi vào một trong ba thái độ:


(1) Thái độ thứ nhất là dù thất bại nhưng vẫn cố gắng làm việc. Thua keo này bày keo khác. Học hỏi kinh nghiệm, thất bại là mẹ thành công, là những người có thái độ tích cực đáng khích lệ. Thi hỏng, không bỏ cuộc mà chuẩn bị thi lại. Có chí th́ nên.


(2) Thái độ thứ hai là thoái thác, quy ẩn. Thất bại vài lần sinh ra chán nản, bi quan, trở về quy ẩn. “Quan bất sai, lại bất vấn”. Mời gọi tham gia việc này, thực hiện việc nọ đều bị họ khước từ bằng cái lắc đầu từ nan. "Thôi thôi ta đă biết rồi, lồng vàng âu cũng là nơi ngục tù”. “Phen nầy tớ hỏng, tớ đi ngay. Cúng giỗ từ nay nhớ đến ngày.”


(3) Thái độ thứ ba là đả phá tiêu cực, bất măn, sinh ra phá hoại để trả thù thực tại, “Không lấy cũng quấy cho hôi”. Một số người thất bại sinh ra oán hận đời, chống đối, nói hành nói xấu cho bỏ ghét, chê bai mọi người. Do đó, trong đời sống hàng ngày, chúng ta thấy những người hay chống đối thường là những người tâm hồn bị giao động v́ thiếu lư tưởng, như thuyền không lái, như ngựa không cương, trôi dạt lông bông không ra thế nào cả.


Trong một đoàn thể, một cộng đồng mà nhiều người có lư tưởng là dấu hiệu tốt đẹp, xă hội có tiềm năng tiến bộ. Ngược lại, trong một đoàn thể, cộng đồng mà nhiều người không được hướng dẫn để t́m ra một lư tưởng để sống th́ hội đoàn, cộng đồng sẽ tiến triển một cách chậm chạp, làm tŕ trệ mọi chương tŕnh và kế hoạch hữu ích cho sự phát triển của đoàn thể, cộng đồng và xă hội.


Thế th́ điều quan trọng là mọi người trong đoàn thể, cộng đồng, nên thử xét lại chính ḿnh, quay lại cuốn phim của đời ḿnh, xem thử xưa nay ḿnh đă làm những ǵ, thành công như thế nào, và tại sao lại thất bại. Thượng Đế đă cho chúng ta lư trí để suy xét th́ hăy bỏ chút th́ giờ dùng lư trí để t́m về dĩ văng, phân tách xem những việc đă làm, xét lại hiện tại đang làm những ǵ, và dự phóng những công tác sẽ thực hiện trong tương lai.


Những người chỉ trông cậy vào quá khứ, xưa bày nay làm, là những người thiếu khả năng suy luận và thiếu sáng kiến. Những điều người trước đặt để ra, phác hoạ ra chỉ nên xem là những suy luận căn bản để chúng ta dựa vào hầu bổ túc và phái triển cho hợp với sự tiến bộ của con người theo dấu chỉ của thời gian (signs of time). “Đọc sách mà tin hoàn toàn vào sách, nhược bằng đừng đọc sách th́ hơn” là vậy. Thật ra, trên đời nhiều việc chúng ta có thể làm được này chẳng có ǵ mà không làm được. Cái khó là ở chỗ biếng nhác, thiếu kiên nhẫn mà thôi. "Thế thượng vô nan sự, nhân tâm tự bất kiên.”


Muốn thành người hữu dụng và sống đúng với ư nghĩa làm người (to be fully human), chúng ta phải kiến tạo cho ḿnh một lư tưởng. Người không có lư tưởng là người chưa trưởng thành. Muốn trưởng thành thật sự, chúng ta phải sống một cách hữu dụng cho nhân quần xă hội.


Diễn tŕnh (process) kiến tạo lư tưởng là diễn tŕnh suy luận, tự kiểm thảo, thu nhận dữ kiện, ứng dụng khả năng hầu t́m ra một hướng tiến thích hợp cho ḿnh trong bối cảnh phục vụ phúc lợi chung.


Hầu hết mọi người trưởng thành đều có lư tưởng, dù có khi mơ hồ chưa nhận chân được lư tưởng một cách rơ rệt. Có khi lẫn lộn giữa lư tưởng chính và mục tiêu phụ, giữa lư tưởng và phương tiện phải thực thi để đạt tới lư tưởng. Đặt phụ thành chính và biến chính thành phụ làm cho tâm hồn ḿnh cứ phân vân không biết nên làm ǵ trước, làm ǵ sau. Sự lưỡng lự làm ḿnh mất th́ giờ, có khi nửa đường mà bỏ cuộc. "Bán đồ nhi phế."


Nói một cách tổng quát, muốn biết lư tưởng, nên xét lại ḿnh đă dùng tiền bạc, th́ giờ, công sức, suy tư đến vấn đề ǵ nhiều nhất trong cuộc sống của ḿnh th́ có thể vấn đề đó là lư tưởng của đời ḿnh. Có người hy sinh th́ giờ để viết lách nhằm "Phù thế giáo một vài câu thanh nghị". Có người hy sinh cả cuộc đời v́ lư tưởng cách mạng, giải thoát dân tộc ra khỏi nơi đắm đuối. Có người bỏ cuộc đời trần thế để tu tŕ, cứu nhân độ thế. Có người hy sinh th́ giờ để phục vụ nhân quần xă hội....


Chúng ta khoan lượng giá lư tưởng "đúng hay sai, tốt hay xấu”, mà chỉ kiểm điểm lại sự việc (identify the issues). Một khi đă kiểm điểm sự việc chúng ta mô tả rơ sự việc đó, so sánh với luật lệ, với luân lư cổ truyền, với các tiêu chuẩn xử thế của một người b́nh thường (reasonable person standard), với các điều răn của tín ngưỡng, xem thử những ǵ chúng ta theo đuổi có tính cách chính đáng hay không, để gạt bỏ những lư tưởng giả h́nh (false ideal), không thực tế (unrealistic), phi nhân thất đức (immoral). Từ đó, chúng ta có thề điều chỉnh tư duy và hành động nhằm thực hiện lư tưởng đích thực hữu ích cho cá nhân, gia đ́nh, cộng đồng, quốc gia, và nhân loại.


Vai tṛ của lư tưởng rất quan trọng trong đời sống của con người. Lư tưởng là nguồn sống cuả con người. Nguồn sống bao gồm cả sự thích thú khi thực hiện lư tưởng. Bao gồm cả ước vọng, sở thích, khiến cho con người dồn toàn năng lực vào sự thực hiện để đạt đến lư tưởng mong muốn.


Chọn lư tưỏng là suy luận việc phải làm và dồn hết sở thích của ḿnh vào lư tưởng đó. Thực hiện lư tưởng c̣n phải được thôi thúc bởi ư chí, tức là nguyên động lực thúc đẩy ḿnh thực thi lư tưởng. Nếu thiếu ư chí, đôi khi có lư tưởng nhưng không thực hiện được v́ thiếu quyết tâm, sa ngă, yếu ḷng, bị lôi kéo, chia trí bởi những lư tưởng lệch lạc.


Lư tưởng chính đáng (authentic ideal) là lư tưởng có thể thỏa măn mọi nhu cầu của ḿnh. Nhu cầu về đời sống thiêng liêng cũng như đời sống thế trần. Một công tŕnh có ư nghĩa nhất mà ḿnh có thể hiến trọn cuộc đời để thực hiện, khi thực hiện như vậy, chúng ta đạt được giai đoạn trưởng thành.


Làm thế nào để kiến tạo cho ḿnh một lư tưởng:


1. Trước hết, phải ấn định chủ đích (goal), việc dự định làm, việc cần thực hiện để có thể thỏa măn nhu cầu hiện tại và tương lai của ḿnh. Chủ đích này phải có sức hấp dẫn lôi cuốn sức cố gắng của ḿnh. Nghĩa là không tạo sự chán nản trong lúc thực hiện, v́ sự chán nản có thể làm cho chúng ta chưa hoàn thành đă bỏ cuộc “ Bán đồ nhi phế”.


Chủ đích phải có tính cách thử thách tài năng của chúng ta, khiến cho chúng ta quyết chí đạt đến việc đă định. Chủ đích phải có tính thực tế, nghĩa là có thể thực hiện được, có thể đạt được, nghĩa là phải hợp với khả năng của ḿnh. Chọn chủ đích quá khả năng của ḿnh tức là chọn chủ đích không tưởng.


2. Sau khi định được chủ đích phải thực hiện, phải tạo cho ḿnh ḷng tin sắt đá sẽ đạt được chủ đích đó. Sự xác tín (conviction) chở được núi. Ḷng tin thúc đẩy ḿnh thực hiện chủ đích một cách dễ đàng.


3. Đang khi thực hiện chủ đích, chúng ta sẽ cảm thấy thích thú trong công việc làm, không cảm thấy mệt mỏi, nhờ đó công tác được thực hiện nhanh chóng.


4. Khi thực hiện các mục tiêu (objective) để đạt đến chủ đích (goal), phải đặt ra những tiêu chuẩn (criteria) để lượng định công tác, xem thử công tác đă thực hiện đúng mức, quá nhanh quá chậm, đúng đường hướng, hay sai lệch để tiện việc điều chỉnh.


5. Một khi đă có lư tưởng, th́ tâm hồn b́nh thản v́ biết ḿnh có hướng đi rơ rệt, không lo lắng vẩn vơ, không bị lôi kéo bởi mănh lực này, ư kiến nọ mà nhất quyết thi hành cho trọn vẹn lư tưởng của ḿnh. Những người làm việc có lư tưởng không tranh chấp, không b́nh phẩm vu vơ, không tiên đoán lệch lạc, không ganh tỵ, không lộng ngôn. Những người có lư tưởng thường bận rộn nhằm chu toàn lư tưởng đang theo đuổi.


Theo đuổi một lư tưởng tức là yên tâm thực hiện những ǵ ḿnh mong ước, an tâm sống với lư tưởng của ḿnh, sự thực hiện lư tưởng dần dần trở thành lối sống của ḿnh, một lối sống đầy đủ về mọi phương diện, trong ấm, ngoài êm. Những người có lư tưởng khác hẳn người thường là sự b́nh tâm, an lạc, say mê lư tưởng và dồn nỗ lực phục vụ lư tưởng của ḿnh.


6. Một khi sự thực hiện lư tưởng đă trở thành thói quen của cuộc sống, có nghĩa là nếu không thực hiện được những ǵ ḿnh mong ước th́ ḿnh cảm thấy không được b́nh an trong tâm hồn. Khi đó, chính lư tưởng đă thôi thúc chúng ta làm việc một cách hăng hái, khiến cho công lực chúng ta gia tăng, nhờ đó vượt mọi trở ngại, thử thách đề đạt đến những ǵ ḿnh đă quyết định.


7. Lư tưởng đến giai đoạn này là trụ buồm vững chắc cho cuộc sống của chúng ta, giúp chúng ta trải qua cơn sóng gió của cuộc đời, giữ vững đức tính làm người xứng đáng, làm người có lư tưởng, làm người toàn diện.


Đời người không có lư tưởng như bầu trời không tinh tú. Người có lư tưởng là người tự tin. Thận trọng trong lời nói và chín chắn trong hành động v́ ngôn và hành đều có chủ đích nhắm đến một mục tiêu đă định. Lư tưởng có thể phân loại theo đối tượng như phục vụ gia đ́nh, cộng đồng, quốc gia, nhân loại, hoặc theo mục tiêu như phát triển kiến thức, nghiên cứu bệnh lư, dược phẩm, phát triển kinh tế, tài chánh, thương mại, nghệ thuật…


Bá nhân bá tánh, mỗi người thiên về một loại lư tưởng. Những người có lư tưởng tương đồng thường kết hợp để thực thi lư tưởng như lập đảng để thực thi lư tưởng cách mạng dân tộc... Lập hội để phục vụ cộng đồng, lập nơi thờ tự để chiêm bái....
Điều quan trọng là phải tôn trọng lư tưởng chính đáng của tha nhân. Ai không đồng lư tưởng với ḿnh không phải là kẻ chống đối ḿnh. Lư tưởng chính đáng là lư tưởng hữu ích cho nhân quần xă hội.


Sỡ dĩ xă hội tiến bộ là nhờ những công dân hữu dụng, hoàn thành những chương tŕnh kế hoạch trong lúc thực thi lư tưởng. Ngược lại, những người thiếu lư tưởng không biết định hướng, hàng thần lơ láo, tâm hồn trống rỗng.... để lấp chỗ trống, có thể có thái độ tích cực theo pḥ tá người có lư tưởng, hoặc tiêu cực sinh ra chán nản, cảm thấy ḿnh vô dụng, t́m cách phá hoại, phê b́nh chỉ trích công tác hữu ích của người khác. Đó là hai thái độ thường t́nh trong nhân thế.


Luận về lư tưởng là luận bàn về chiều sâu của cuộc sống liên quan đến phạm trù triết học dân gian, nhằm góp phần suy diễn về đời người và người ở đời là một vấn đề muôn thuở.


Nhà Tâm lư học Maslow đă nhắc đến 5 loại nhu cầu căn bản của nhân thế: Nhu cầu sinh vật lư (physiological) như đói ăn khát uống; nhu cầu sống an toàn (safety); nhu cầu hội nhập, sinh hoạt hội đoàn (social); nhu cầu được tôn trọng (esteem) và nhu cầu thực hiện lư tưởng của đời ḿnh (self actualization)


Lư tưởng đóng vai tṛ điều hướng hành vi của con người. Thiếu lư tưởng tức là chưa trưởng thành về tư tưởng; nói khác đi, chưa trở thành con người toàn diện vậy.


Trần Xuân Thời

 


 

art2all.net