Trần Xuân Thời

 

Luận về "Ư TRỜI"

 


            Chúng ta thường đinh ninh rằng mọi việc ở đời đều do Đấng Tạo Hóa quan pḥng. Nhưng quan pḥng không có nghĩa là định đoạt. Quan pḥng hiểu theo nghĩa quan sát, nhận định, hướng dẫn, chứ không hiểu theo nghĩa quyết định. Tạo hóa đă cho chúng ta lư trí để suy xét và tự do để hành động. Chỉ khi nào con người có tự do hành động mới chịu trách nhiệm về hành động cuả ḿnh. “God, in the beginning, created man, he made him subject to his own free choice.” (Sir14:15.)


Con người hữu lư khi tin rằng “Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân”. Trời không phụ người hiền đức v́ phúc họa ở đời thường do phản dưỡng có điều kiện (conditioned feed back) tuỳ theo thái độ của con người. Khổng Tử viết “Vi thiện giả, Thiên báo chi dĩ phúc, vi bất thiện giả, Thiên báo chi dĩ hoạ”. Ai làm lành th́ Trời báo phúc cho, ai làm điều chẳng lành th́ Trời lấy họa mà giáng cho. Luận Ngữ ghi “Bất tri Thiên mệnh vô dĩ vi quân tử giă”. Không biết mệnh Trời th́ không phải là người quân tử.


“Ư Trời” là ư niệm chung của dân gian được hiểu qua nhiều ư nghĩa khác nhau tùy theo tín ngưỡng. Chúng ta thử xét qua các ư nghĩa thông thường bàn bạc trong triết lư dân gian.


Cổ nhân thường quan niệm “Sinh tử hữu mệnh, phú quư tại Thiên” hay “Sống chết bởi tại Trời, giầu nghèo là cái số. Dẫu ai ruộng sâu, trâu nái, đụn lúa, kho tiền, cũng bất quá thủ tài chi lỗ”. (Nguyễn Công Trứ). Của cải thế gian là những vật hư nát nên những kẻ vi phú thường bất nhân, không lo phần linh hồn và sống như những tên mọi giữ của !


Nếu tin hoàn toàn vào số mạng th́ chúng ta đă tin vào thuyết định mệnh (determinism). Một khi tin vào số mệnh th́ con người có thể có thái độ tiêu cực, buông thả, không cố gắng, nhưng không tự trách ḿnh mà phó thác cho số mệnh.


“Cũng liều nhắm mất đưa chân,
Thử xem con tạo xoay vần đến đâu.” (Nguyễn Du)


Tại sao con người tin vào số mệnh? Có lẽ khi con người được tạo dựng nên ở thế trần cảm thấy ḿnh quá yếu đuối trước những mănh lực thiên nhiên, tai ương khốn khó như băo tố, động đất, hạn hán, lụt lội, bệnh tật, thú dữ… đối với con người cổ sơ, đó là những thiên tai trời định. (acts of God). Từ những sự bất lực đó, con người đă t́m giải đáp và cũng là nguồn an ủi là tin vào thần linh. Thần linh có rất nhiều loại như thần hiền, thần dữ, thủy thần, hà bá, sơn thần, thổ thần.... và con người thờ nhiều vị thần khác nhau tạo nên t́nh trạng đa thần (polytheism) trong đạo giáo dân gian.


Người Trung Hoa có tục ném thiếu nữ xuống sông tế thần Hà Bá, để thần Hà Bá vui ḷng, bớt giận, khỏi gây thủy tai, lụt lội mỗi khi sông Hoàng Hà hay sông Dương Tử ngập lụt. “Hà Bá lấy vợ”. Biết bao thiếu nữ chết oan v́ sự sùng bái mê tín dị đoan này. Người Việt có truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh để giải thích nạn lụt lội hàng năm ở sông Nhị Hà.


Ngoài tín niệm chung của nhân gian, có những tín niệm có hệ thống như các hệ thống tín lư của Khổng Học, Phật Học, Lăo Học. Trừ các tăng sĩ, nho sĩ, trí thức; đa số người b́nh dân Việt pha trộn cả ba học thuyết vào với nhau trong cuộc sống hàng ngày. “Hữu sự vái tứ phương”: “Lạy Trời, lạy Phật, lạy Thiên Tiên Thánh Giáo, lạy ông bà, cha mẹ.... ban cho con được tai qua nạn khỏi” nhất là những lúc gặp khốn khó, thập tử nhất sinh, chiến tranh tang tóc “Tên reo đầu ngựa, giáo loan mặt thành”!


 

1. Ư Trời trong Khổng học
 

Khổng học là một triết thuyết về cách xử thế dựa trên Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín... Khổng học tin vào Mệnh Trời (God’s Mandate). Trời trong tâm trí người b́nh dân là Ngọc Hoàng, là Thượng Đế. “Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong”. Thuận Trời th́ sống, chống Trời th́ chết.


Sống theo mệnh trời là sống có trung, hiếu, tiết, nghĩa nhằm hướng đến cái chí thiện ở đời. Từ triết thuyết và luân lư làm người tốt và hữu dụng, triết lư giáo dục theo quan niệm của Nho học cốt đào tạo con người trở nên chí thiện. “Đại học chi dạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện”, chứ không chỉ học lục nghệ (lễ, nhạc, xạ, ngự, thủ, số ) để mưu sinh.


Khổng học c̣n là một triết thuyết về phương pháp trị quốc an dân. Vào các triều đại quân chủ, chương tŕnh giáo dục của Trung Hoa và Việt Nam đều lấy Khổng học làm căn bản như dùng Tứ Thư, Ngũ Kinh làm sách giáo khoa cho sĩ tử. Văn vơ bá quan trong các triều đại đều là những người xuất thân từ cửa Khổng, sân Tŕnh, lấy Khổng học làm phương châm hướng dẫn hành động.


Người b́nh dân không cần đào sâu ư nghĩa của Thượng Đế trong Khổng học, thường chỉ tin vào Thượng Đế là đấng thiêng liêng, tạo nên vũ trụ, trên tất cả mọi loài, thể hiện qua lời cầu khẩn: “Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cầy, lấy bát cơm đầy, lấy khúc cá to”. Người theo Khổng học, “Ư Trời” là ư của Thượng Đế. Thượng Đế đă an bài mọi sự. “Chung cục th́ chi cũng tại Trời.” (Nguyễn Du). Quan niệm về Thượng Đế được rơ ràng hơn từ khi Thiên Chúa Giáo được truyền đến Việt Nam vào thế kỷ thứ XVII, khoảng từ năm 1625.


Trước đó sách Kinh Thi trong Ngũ Kinh đă ghi:


-Thượng Đế rất lớn, soi xuống dưới rất rơ ràng, xem xét bốn phương, t́m sự khốn khó của dân mà cứu giúp. “Hoàng Hỹ Thượng Đế, lâm hạ hữu hách, giám quan tứ phương, cầu dân chi mạc”.


-Điều ǵ tốt dân chúng ước ao th́ Trời cũng chiều theo. “Dân chi sở dục, Thiên tất ṭng chi”, đồng nghĩa với câu Kinh Thánh “Cầu th́ được, xin th́ cho, gơ th́ mở.”


-Đă là người, ai cũng đều là con của Trời. “Phàm nhân giai, vân Thiên chi tử”. Người là tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ. Thiên-Địa-Nhân trong vũ trụ hội nhập làm một. ”Thiên, nhân hợp nhất.”


Quan niệm của Nho học thường có tính cách tích cực hơn là tiêu cực. Con người phải cố gắng làm việc hết sức ḿnh. Nếu không đạt được thành công th́ không c̣n tự trách ḿnh mà an ủi bằng mệnh số, đó là do “Ư Trời”. Cụ Nguyễn Công Trứ trong lúc hàn vi thường tự an ủi: “Hữu kỳ đức, ắt Trời kia chẳng phụ”. Sống trong đức hạnh, chắc ông Trời sẽ không phụ bạc !

 


2. Ư Trời trong Phật học
 

Phật học, không giải thích số mệnh là do Trời, mà nhấn mạnh vào ư niệm “Nghiệp chướng” (Karma). Karma là một ư niệm đă có từ hàng ngàn năm trong giáo thuyết của Ấn Độ Giáo (Hinduism) trước khi Đức Phật ra đời. Ấn Độ giáo tin vào thuyết, luân hồi, nghiệp chướng và nhiều vị thần linh khác nhau mà thần Siva là vị thần có nhiều quyền lực nhất.


Sau Đại Hội Phật Học kỳ thứ II ở Ấn Độ th́ Phật học chia làm hai môn phái Tiểu Thừa (Hynayana) và Đại Thừa (Mahayana). Môn phái Tiểu Thừa khai triển mạnh ở Ấn Độ, Tích Lan, Thái Lan, Miến điện…. Môn phái Đại Thừa (Mahayana) không phát triển mạnh ở Ấn Độ mà phát triển qua Trung Hoa, Đại hàn, Việt Nam…..


Theo thuyết “Nghiệp chướng” th́ mọi việc xảy ra ở đời này đều do kiếp trước truyền lại, nói khác đi là do tiền định. Con người vốn sinh ra và lẩn quẩn trong ṿng tử sinh, sinh tử. Chết đi rồi lại đầu thai vào kiếp khác hoặc sinh vật khác gọi là luân hồi (rebirth/ reincarnation). Nếu kiếp này sống ác đức, tội lỗi, th́ khi chết có thể hoá thân ra con ruồi, con muỗi, con trâu, con ḅ.... để làm thân trâu ngựa, cho đến khi được giải nghiệp, mới chấm dứt kiếp luân hồi. Có lẽ v́ hoá kiếp như vậy cho nên chúng ta không biết loài thú là hiện thân của những linh hồn tội lỗi nào đó. Như vậy trong sinh vật có linh hồn. Có thể đó cũng là một trong những lư do để tránh sát sinh?


Nói khác đi, những ǵ ḿnh chịu đựng hôm nay là do hậu quả của tiền kiếp (pre life), nghiệp báo. Ví dụ có người tin, sở dĩ chúng ta tha hương là v́ nghiệp báo, ông bà chúng ta đă chiếm đất Chiêm Thành, đất Chân Lạp, giết hại biết bao dân lành nay bị nghiệp báo... Ca dao cũng có câu “Trời làm một chuyện lăng nhăng, ông hoá ra thằng, thằng hóa ra ông”. Câu ca dao nầy một số người cho là đă ứng nghiệm cho Việt Nam sau 1975! Nghiệp báo cũng là một loại định mệnh do kiếp trước ăn ở thất đức để lại. Do đó nhân sinh phải t́m cách giải nghiệp.


Phần tích cực của thuyết nghiệp báo là dù “Đă mang lấy nghiệp vào thân, cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”. Nếu có “thiện tâm”, tu thân, tích đức, ăn hiền ở lành để tạo lập công đức có thể đạt đến trạng thái giải nghiệp (mosha). Nghĩa là thoát ra khỏi ṿng luân hồi, nghiệp chướng vào cơi vô vi, niết bàn... hay cơi Tây Phương cực lạc... Khi đó “Buổi sáng, sau khi thức giấc, có thể chu du qua ba ngàn đại thiên thế giới mà c̣n đủ th́ giờ trở về ăn sáng”.


Phương pháp hay nhất là tu tiên, đến chốn cùng cốc thâm sơn để tu luyện, như Đức Phật đă bỏ gia đ́nh, vợ con, cha mẹ đế nghiệp của tiểu quốc Ca T́ La Vệ để lên núi tu luyện. Theo sấm truyền “Đức Phật sinh ra có 32 tướng tốt. Nếu làm vua th́ được vị, nếu xuất gia tu hành th́ sẽ thành Phật”.


Phật có nghĩa là người đắc đạo (enlightened), thoát khỏi tục lụy xích xiềng của thế trần và nhất là thoát ṿng nghiệp chướng (mosha). Hiện nay, đang có hàng hà sa số chư vị Phật ngao du trên ba ngàn đại thiên thế giới.


Giải thích về sự hiện hữu của vũ trụ và con người, Phật học cho rằng vũ trụ và con người tự nhiên mà có. Bàn về thánh thần, Thượng Đế, Đức Phật bảo đồ đệ chuyện đời chưa hiểu được, làm sao có thể hiểu được chuyện thần thánh. Triết học ngày nay gọi những người có đồng tư tưởng là những người thuộc môn phái “Bất khả tri luận” (Agnosticism) khác với chủ trương Vô thần (Atheism) của Epicure. Môn phái vô thần không tin có thần linh, duy vật, con người không có linh hồn, như bao nhiêu sinh vật khác, chết là hết!


Phật học chủ trương có thoát được nghiệp chướng hay không là do sức con người tự tạo lấy, “tự lực cánh sinh” (self help approach), không nhờ vào thánh thần nào giúp sức v́ không biết được có thần thánh hay không... Cũng do quan niệm thiếu tính cách thần linh mà Phật học không phát triển mạnh được ở Ấn Độ, v́ Ấn Độ là thế giới của thần linh, mà phát triển qua các quốc gia khác.


Phật học thiên về tu thân, tích đức để thoát ṿng nghiệp chướng, lo tu luyện cá nhân để mưu cầu phần rỗi mà không bận rộn về đời sống vật chất, xa lánh thất t́nh lục dục. Sở dĩ cuộc đời khổ cực là v́ ham muốn và không thỏa măn được sự ham muốn, cho nên phương pháp hay nhứt là diệt dục, hay diệt sự ham muốn th́ bớt khổ. Đời là bể khổ v́ luân hồi nghiệp chướng, muốn thoát bể khổ phải tu tŕ để được đắc đạo, thoát cảnh tái sinh. Người b́nh dân thường nói “Người hiền chết sớm, kẻ dữ sống lâu”, có lẽ hàm dưỡng ư nghĩa chết sớm để thoát trần ai khổ lụy là có phước, kẻ dữ sống lâu để bị đọa đày, để đền tội v́ nghiệp chướng quá nặng nề ?


Phật học không đề cập đến Trời, Thượng Đế, nên ư niệm “Ư Trời” có phần thể hiện hậu quả của nghiệp chướng do tiền kiếp để lại, một h́nh thức ‘tội tổ tông”?. Có nghĩa là người b́nh dân, nếu gặp trở ngại, đời sống khó khăn, gặp nhiều cảnh tai ương khốn khó, con người có thể tự an ủi bằng câu “Tại v́ nghiệp chướng của tôi như vậy”. Hoặc tại v́ luật nhân quả, nghiệp báo, kiếp trước làm ác, báo hại khiến kiếp sau lănh đủ.


3. Ư Trời trong Thần học


Theo quan niệm của Thần Học khi nói đến “Ư Trời” tức nói đến “Ư Thiên Chúa”. Nhiều người nhớ câu “Sợi tóc trên đầu rơi xuống cũng là do ư của Chúa”. Người Công Giáo tin rằng Thượng Đế là đấng tạo nên trời đất, muôn vật và quan pḥng mọi sự.


Ư Trời trong quan niệm của Thần Học là việc làm theo thánh ư Thượng Đế, dĩ nhiên là việc tốt lành. Hành vi phạm pháp không phải là do ư trời. Tại sao? Tại v́ Thượng Đế sinh ra con người đă cho con người có lư trí để suy xét, và có ư chí tự do (free will) để hành động. Nhân quyền hay các quyền tự do bất khả xâm phạm phát xuất từ quyền thiên nhiên (natural rights) mà Thượng Đế đă ban cho nhân loại. V́ vậy, tiêu diệt tự do cá nhân là trái với Thiên lư. Không có công mà được thưởng, không có tội mà bị tù đày, cấm cố, là vô nhân đạo cho nên chủ trương chống độc tài đảng trị, bất kể tả phái hay hữu phái, là làm theo Thiên ư.


Thần Học quan niệm những kẻ theo chủ thuyết độc tài th́ không c̣n là giáo hữu chân chính. Trước khi bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Cộng Sản ra đời năm 1848, Đức Giáo Hoàng Piô thứ IX, năm 1946, đă tuyên bố : ”That infamous doctrine of so called Communism which is absolutely contrary to the natural law itself, and if once accepted would utterly destroy the rights, property and possessions of all men and even society itself”. - Cái học thuyết xấu xa gọi là chủ nghĩa CS hoàn toàn trái với luật tự nhiên, và một khi được chấp nhận, nó sẽ tiêu giệt hết nhân quyền, tài sản, quyền sở hữu của nhân loại và chính cả xă hội loài người-.


Thế th́ với lư trí để suy xét, tự do hành động, con người phải chịu trách nhiệm về hành vi của ḿnh. Giả thử Chúa sinh ra mọi người b́nh thường có thân thể và trí tuệ giống nhau nhưng đời sống mỗi người lại khác nhau có phải đó là tại ư trời hay không?


Yes and No. Có và không. Có v́ Ư Trời là ư mà Chúa an bài cho mỗi người, bất kể lương hay giáo, một vị thế khác nhau trong xă hội để mỗi người thi hành nhiệm vụ mà Trời đă giao phó v́ tất cả nhân loại đều là con Trời.


Tuy nhiên, phải lưu ư là khi Trời giao phó sự việc cho mỗi cá nhân, dựa vào khả năng riêng biệt của mỗi người do con người cố gắng, tự tạo và Chúa cho con người tự do hành động. Hành động thành công hay thất bại là do cá nhân. Những cá nhân có thành tâm, thiện chí thường là những người sáng suốt v́ tâm hồn được b́nh an,” Hồn lành trong xác mạnh”, rất dễ thành công.


Không phải là ư Trời, nếu ngược lại, những cá nhân thích sống ích kỷ, hay ganh tị, không hiểu vai tṛ đă được giao phó, có thái độ thù hận, ganh ghét th́ tâm hồn bối rối, mất sự b́nh an, từ đó kém sáng suốt, vụng về và cá nhân phải chịu trách nhiệm về thái độ của ḿnh.


Nếu chúng ta biếng nhác, không chịụ học hỏi, không chịu làm việc để lâm vào t́nh trạng đói khổ, thua sút mọi người, say sưa, phạm tội, trí tuệ lụn bại, thiếu sáng suốt, làm việc ngoài ṿng cương tỏa, không làm việc hết ḿnh, không theo thánh ư Thượng Đế, th́ kết quả chúng ta phải gánh lấy, không phải là ư Trời.


Như thế, những ǵ con người thực hiện với thành tâm thiện ư tức là làm việc thiện theo thánh ư Chúa, kết quả đạt được hoàn hảo hay không, không phải là quan trọng, điều quan trọng là chúng ta có cố gắng hay không? Có được ơn Chúa soi sáng, được sự b́nh an trong tâm hồn, có cảm nhận được sự hữu dụng của đời sống? .


Thánh Phaolô trước khi trở thành Kitô hữu đă tự ư giết hại Kitô hữu. Khi trở thành Tông đồ của Chúa vẫn cảm thấy ân hận về những việc ông đă làm (1Tim 1: 2-15). Thiên Chúa đă chọn Phaolô để nhắn nhủ nhân loại là kẻ tội lỗi như Phaolô cũng c̣n thánh hóa được. Trong thư gởi tín hữu Thành Corinto, Thánh Phaolô đă viết: “Tôi không xứng đáng được gọi là Tông Đồ của Chúa, nhưng nhờ ơn phúc Ngài ban, tôi mới được như ngày hôm nay”. “I am... not worthy to be called an apostle... but by the grace of God, I am what I am (1Corinthians 15: 19-10).


Như vậy, tội lỗi của quá khứ không nhất thiết làm cản trở cuộc sống trong tương lai, miễn là có thành tâm hối cải sẽ được trở thành người hữu dụng.


Ư niệm nầy đă được hội nhập vào môn triết pháp (Philosophy of law). Luật pháp Tây phương dựa trên nhân bản, có mục đích vừa làm ngă ḷng để ngừa tội phạm (determent), vừa giúp phạm nhân tái tạo (restoration) lại cuộc sống, giúp cho phạm nhân “a second chance” dựa trên sự cố gắng cá nhân của mỗi người.


Luật pháp nhân bản không chủ trương “thà giết lầm hơn bỏ sót hay trí, phú, địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” mà ngược lại chủ trương “thà bỏ sót hơn giết lầm”. Luật pháp cho phạm nhân hưởng lợi (benefit of doubt) nếu bằng chứng buộc tội chưa được minh bạch hay c̣n chút nghi ngờ.


Trời tạo nên con người và rất chính xác khi điều khiển vũ trụ, cũng như biết rơ người nào thích hợp để được giao phó trách nhiệm miễn là sư tuyển chọn được thực hiện một cách công chính theo tiêu chuẩn công bằng và bác ái không gian lận và dựa trên thực lực của mỗi cá nhân. Về phần thiêng liêng, Trời phán xét dựa trên công việc của mỗi người, chứ không phải dựa vào lời đàm tiếu quanh co của người khác. “God judges us by what we do, not by what others said”.


Về phương diện vũ trụ, sự chính xác của Thượng Đế thật mầu nhiệm. Sự vận hành của các tinh tú, mặt trời, mặt trăng, quả đất đều được sắp xếp vận hành trong qũy đạo một cách chính xác. Các nhân vật thông thái, các khoa học gia về vũ trụ là những người khâm phục sự mầu nhiệm của Hoá Công và nhờ vào sự chính xác của Hoá công mà họ đoán trúng những hiện tượng sắp xảy ra. Họ là những người chịu t́m ṭi học hỏi, cố gắng t́m hiểu sự vận hành của vũ trụ để đem kiến thức truyền lại cho hậu thế.


Thượng Đế đă tạo nên vũ trụ cho nhân loại. Bổn phận của con người phải t́m ṭi học hỏi để hiểu biết ư định của Thiên Chúa. Không biết mệnh Trời th́ không phải là người quân tử. “Bất tri Thiên mệnh, vô dĩ vi quân tử giă” (Luận Ngữ). Ví dụ, trong năm 1993, các nhà thiên văn học đă biết được rằng ngày 3 tháng 11 năm 1994 sẽ có Nhật thực kéo dài 4 phút, 51 giây. Nhật thực sẽ được thấy toàn điện ở các qụốc gia Bolivia, Brazil, và biển Nam Đại Tây Dương. Đó là hiện tượng về thiên văn, về sự vận hành của vũ trụ do Thiên Chúa tạo dựng. Sở dĩ các nhà Thiên-văn-học tiên liệu một cách đích xác mà không sợ sai là v́ sự vận hành của vũ trụ do Thiên Chúa tạo dựng một cách chính xác.


Đến giờ phút nào th́ hiện tượng ǵ xảy ra, đó là “Ư Trời” trong sự vận hành trật tự chung của vũ trụ (moral order of the universe). Con người có nhiệm vụ t́m hiểu Ư Trời, nếu không th́ xem như chưa tu luyện đủ để đạt đến giai đoạn “Nhi tri Thiên Mệnh”. Thịnh, suy, thay đổi như bốn muà Xuân, Hạ Thu, Đông theo luật tuần hoàn của Tạo hóa. Cho nên con người chớ nên nản ḷng, hết cơn bĩ cực sẽ tới hồi thái lai!


Trong truyện Kim Vân Kiều, Nguyễn Du tiên sinh dùng văn chương để chuyển tải đạo lư làm người. Sau khi nghe Thúy Kiều tâm sự về 15 năm lưu lạc giang hồ th́ “Giác Duyên nghe nói rụng rời” và cùng Tam Hợp Đạo Cô khuyên nhủ Kiều:


“Sự rằng phúc họa đạo Trời
Cỗi nguồn cũng ở ḷng người mà ra
Có Trời mà cũng có ta
Tu là cơi phúc, t́nh là giây oan” (Nguyễn Du)


Ai dày công tu thân, tích đức, cố gắng học hỏi, làm việc sẽ hiểu được Thiên Ư; hiểu được sự vận hành của vũ trụ; hiểu được thế thái nhân t́nh; hiểu được phương hướng, hiểu được chương tŕnh, kế hoạch phải thực hiện. Ư Trời ở trong ḷng mỗi người. “Nhất nhân chi tâm, tức Thiên địa chi tâm”.


Thượng Đế khuyên chúng ta đừng bao giờ nản ḷng, (not lose your heart: Luke 18:1), phải cố gắng làm việc, học hỏi (obligation to study) và cầu nguyện (pray) để được ơn phúc, được sự b́nh an trong tâm hồn, để được soi sáng, th́ dù kết quả có thế nào chăng nữa vẫn thể hiện thiện ư, v́:


“Thiện căn ở tại ḷng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài
Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài nằm với chữ tai một vần”. (Nguyễn Du)


Có tài chế ra nguyên tử để làm điều thiện như làm máy phát điện, dụng cụ chữa bệnh.... là hợp “Ư Trời”. Nhưng dùng tài để chế vũ khí sát thương như bom nguyên tử sát hại nhân loại tức là phản “Ư Trời” là gây tai họa th́ “Thiên bất dung gian”. Có khoa học mà vô lương tâm sẽ gây bại hoại cho tâm hồn “Science sans conscience n'est que ruine de l’âme”.


Sau mùa Đông giá rét, nhân dịp Xuân về, muôn hoa đua sắc thắm thể hiện Ư Trời. Chúng ta hăy làm việc hữu ích cho nhân quần xă hội, với thiện tâm, trong t́nh yêu nhân hậu, giữ t́nh đồng hương, nghĩa đồng bào.


Các học thuyết của Nho, Thích, Lăo và Thần học là cố gắng tuyệt diệu của nhân thế, không “đối nghịch” mà “dung hợp” thể hiện sự viên măn (fulfilment) về nhân sinh quan và vũ trụ quan của nhân loại từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc, trong cố gắng h́nh thành triết lư nhân sinh của nhân thế qua tiến tŕnh “Nhi Tri Thiên Mệnh”.


Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vào đầu tháng 11 năm 1999, đă công bố Tông Thư: Giáo Hội tại Á Châu: “Giáo hội Công giáo tỏ ḷng cung kính và ngưỡng mộ tất cả truyền thống tinh thần của các Tôn giáo Á Châu” đă thể hiện tinh thần tôn trọng liên tôn, hoà nhi bất đồng.

Luôn giữ tâm thường an lạc, dù vật đổi sao dời, chúng ta vẫn yên tâm sống đức hạnh “phú quư bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” có chí th́ nên, măc dù:


“Cơi trần thế cuộc chiêm bao
Công hầu khanh tướng xôn xao trong ṿng
Tranh nhau chỉ vị hơi đồng
Giết nhau v́ miếng đỉnh chung ở đời!”
(Nhân Nguyệt Vấn Đáp)


Lạc quan, tin tưởng, quyết chí tu thân và hành động chính trực là nhiệm vụ chung của chúng ta. Được như vậy th́ “Thân sẽ không tật bệnh, tâm sẽ không phiền năo”. Kết quả thế nào chăng nữa th́ cũng có thể yên tâm v́ chúng ta đă làm việc hết ḿnh, phần c̣n lại là do “Ư Trời” vậy.


“Gẫm thay muôn sự tại Trời.
Trời kia đă bắt làm người có thân.
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao” (Nguyễn Du)


Luôn luôn lấy hy vọng làm nguồn sống v́ :


“Trời đâu riêng khó cho ta măi
Vinh nhục dù ai cũng một lần.” (Nguyễn Công Trứ)



Trần Xuân Thời
 

 

 

art2all.net