Trương Văn Dân

 

THẦY GIÁO, BẠN VĂN

 


 

          Một buổi sáng nắng nhẹ, trời trong. Anh giáo trẻ dáng dỏng cao bước vào lớp đệ tứ, khẽ hất ngược mái tóc ra sau rồi nh́n các cô cậu học tṛ:

“Hôm nay trời thật đẹp! Ngồi trong pḥng mà học th́ phí phạm. Nếu các anh chị đồng ư, tôi sẽ xin thầy giám học, dẫn cả lớp đi du ngoạn, t́m nơi nào yên tĩnh vừa vui chơi vừa giảng bài, được không? ”

“ Đồng ư ! ”

“ Hoan hô!”

“ Hoan hô thầy !”

Cả lớp nhao nhao phấn khích. Những khuôn mặt rạng rỡ, hớn hở reo mừng. Và chỉ mấy phút sau, cả lớp ào ra sân trường như bầy ong vỡ tổ.

V́ buổi sáng hôm đó anh giáo c̣n có hai giờ Việt văn ở lớp đệ thất nên cả hai lớp cùng được đi.

Sau một hồi bàn bạc lựa chọn giữa chùa Thiên Tôn trên B́nh Tường và điện Tây Sơn ở thôn Kiên Mỹ, th́ điện Tây Sơn - nay là Bảo Tàng Quang Trung - được chọn.

Mấy chục người, kẻ xe đạp, người xe máy... háo hức cùng nối đuôi nhau đi... du học.

Đến nơi, sau một hồi chạy nhảy đùa giỡn trên những băi cỏ mởn xanh ngập nắng, tràn lan hoa dại, cơ man lũ cào cào châu chấu bay tung tóe, mọi người mới chịu ngồi lại thành mấy hàng dưới bóng cây me cổ thụ cạnh điện thờ.

Gió mát, đượm ngát hương đồng nội. Chúng tôi lặng yên nghe anh giáo ngâm giảng Kiều.

Tôi ngồi, len lén nh́n P. Cô bé lớp đệ thất có làn da sáng, đôi mắt to đen chăm chú nghe thầy giảng, thỉnh thoảng lại thích thú dơi theo những chiếc lá me vàng nhỏ xíu đang xoắn tít rơi trong không khí. Thi thoảng bắt gặp tia nh́n của tôi, P. cúi mặt, đôi má ửng hồng. C̣n tôi, cảm nhận như cô nghe được trái tim ḿnh đang đập lên rộn ră.

Đó là một buổi sáng thật hiếm hoi của thời đi học. Nó trở thành một kỷ niệm không thể nào quên.

H́nh ảnh anh giáo măi theo tôi rất nhiều năm tháng. Có lúc một ḿnh, có lúc đan xen với dáng ngồi e ấp của P. và mái tóc dài của nàng bay bay trong gió.

Rồi tang thương biến đổi, thuở thanh b́nh của năm tháng ấy không c̣n và chiến cuộc leo thang, chúng tôi như bầy ong tán loạn, mỗi người tứ tán một phương và không c̣n gặp lại.
 

***
 

Là học sinh giỏi văn, có lẽ anh giáo đă kỳ vọng tôi sẽ theo nghiệp văn chương, thế nhưng khi ra nước ngoài tôi lại theo một lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Măi gần bốn mươi năm sau, như một nhu cầu nội tâm thôi thúc tôi mới cầm lấy bút. Thoạt đầu tôi chỉ gửi bài cho các tạp chí ở nước ngoài, về sau mới gửi đăng trong nước, chủ yếu là tạp chí Văn của Hội nhà văn tp HCM.

Một hôm nhận được số báo biếu có đăng truyện ngắn của ḿnh từ Sài G̣n gửi qua, tôi thấy tác giả của một truyện ngắn, cả tên lẫn họ đều trùng với anh giáo: Huỳnh Kim Bửu, nhưng đó có phải là anh giáo ngày xưa của tôi không?

Trùng tên, trùng họ là chuyện thường. Thế nhưng ḷng tôi không tránh khỏi một nỗi bồi hồi xúc động...

Những kỷ niệm ngày xưa sống dậy.

Chuyện cũ đă 40 năm, gần nửa thế kỷ trôi qua nhưng kỷ niệm về chuyến du học ấy như chưa bao giờ phai mờ trong kư ức. H́nh ảnh các bạn nô đùa, P... ngồi e thẹn, và những lần đi ngang nhà tôi nàng khẽ che nghiêng vành nón... bước chân lúng túng vội vàng v́ biết ánh mắt của tôi đang đuổi nh́n theo.
 

***

Đặng Tấn Tới, Mang Viên Long, Huỳnh Kim Bửu, Trương Văn Dân.
 

Trường chúng tôi thuở ấy là một ngôi trường nhỏ, chỉ có bốn cấp lớp thất lục ngũ tứ. Năm đó tôi học đệ tứ và anh giáo cũng vừa mới về, phụ trách môn Việt văn để thay ông giáo già đạo mạo và nghiêm khắc. Sự xuất hiện của anh như có mang theo một luồng gió mới. Buổi học lúc nào cũng hấp dẫn và sinh động.

Tuổi của anh giáo không lớn hơn chúng tôi là bao, nên lũ “lớp lớn” chúng tôi chỉ gọi “thầy” lúc ở trường, c̣n ra khỏi lớp, chúng tôi thường gọi là “anh giáo”. Trong thâm tâm chúng tôi vừa muốn tỏ ḷng thân mật vừa cũng không muốn gắn cho “anh” cái mác quá đạo mạo, cổ kính của một “ông giáo” già. C̣n anh, tuy vai “thầy” mà vẫn xem chúng tôi như một bầy em nhỏ, tinh nghịch.

Sau chuyến “du học”, chúng tôi càng thân nhau.

Sống ở một thị trấn miền trung du, “đi dăm phút đă về chốn cũ”, các tṛ giải trí ban đêm chẳng có ǵ nhiều nên những buổi tối lũ bạn chúng tôi chỉ dạo lên dạo xuống dọc QL19, cũng là phố chính.

Chưa đầy nửa giờ đă được mấy ṿng!

Chán! Vài thằng ghé tiệm bida. Có đứa đi đánh ping pong; C̣n tôi th́ về nhà đọc sách hay thỉnh thoảng ghé thăm anh giáo, lúc ấy chưa lập gia đ́nh và đang ở trọ trong một gia đ́nh nằm cuối thị trấn.

Tôi thường mượn sách của anh về đọc.

Một buổi tối, tôi t́nh cờ bắt gặp tờ giấy nhỏ nằm giữa trang sách của anh. Đó là một bài thơ viết về buổi chiều đến thăm một người con gái. Giọng thơ tâm t́nh, nhỏ nhẹ hồi tưởng lúc hai người tṛ chuyện dưới ánh nắng, anh nh́n nàng cúi đầu e thẹn, tay mân mê chiếc lá vú sữa hai màu.. Phía dưới bài thơ có mấy lời ghi tặng H. Thằng bé lém lỉnh là tôi lúc đó sướng rên lên, nhưng cố giữ bí mật.

Cơ hội đến chừng hai tháng sau!

Trong một đề luận văn “viết về người chị”, tôi viết về chị Hiền. Dĩ nhiên H. có thể là Hồng, Hương, Hoa, Hạnh... nhưng tên thầy là Bửu mà bút danh Hữu Biền th́ có ǵ nữa mà hồ nghi!

Tôi tả chị Hiền xinh đẹp, đoan trang, đang quen một anh giáo ở xa. Quê thầy ở thị trấn B́nh Định, c̣n nơi dạy là Phú Phong, quê tôi, hai nơi cách nhau chừng 40 km. Tôi không quên trích mấy câu thơ thầy viết tặng H. Đêm đêm chị học bài, đọc sách hay chong đèn may vá. Có đoạn ví von chị với T.T.KH... nhắc lại cảnh ngồi đan áo như trong một bài thơ.

Hôm trả bài thầy chẳng những không giận mà c̣n phê “Viết khá, có năng khiếu..”.

Bài luận ấy được thầy khen hay. Sau đó thầy đọc cho cả lớp nghe, chẳng những cho lớp đệ tứ mà c̣n cho các lớp mà thầy phụ trách môn Việt văn. Từ đó tôi được cả trường biết...

Điều làm tôi sung sướng là trong lớp đệ thất c̣n có P. Em chắc đă nghe những lời thầy khen tặng về tôi.

Sau lần đó, lúc gặp riêng thầy chỉ nói khẽ: “TVD nghịch lắm!”. Tôi nghe thầy trách yêu, chỉ cười cười. Măi sau thầy mới nói: “Bài luận em viết hay, nhưng ví chị Hiền ngồi đan áo như T.T.K.H. là không đúng!” Tôi mở to mắt nh́n thầy.“ Chị Hiền rất hạnh phúc v́ đan áo cho người yêu, c̣n T.T.K.H. là người đàn bà bất hạnh, bị giam cầm trong lễ giáo”.

Thấy tôi chú ư thầy c̣n giảng thêm về truyện ngắn “Anh phải sống” của Khái Hưng và nhắc đến đoạn văn làm người đọc quặn ḷng:

“- Thằng Ḅ! Cái Nhớn! Cái Bé!... Không!... Anh phải sống!
Thức bỗng nhẹ hẳn đi. Cái vật nặng không thấy bám vào ḿnh nữa. Th́ ra Lạc nghĩ đến con đă lẳng lặng buông tay ra để ch́m xuống đáy sông, cho chồng đủ sức bơi vào bờ.”

Thầy nói đây là một truyện ngắn hay và cảm động thế nhưng câu chuyện kể chưa thật! Thấy tôi ngơ ngác thầy nói : “Trước khi buông tay, người đàn bà và chồng c̣n có những đối thoại rất dài ḍng. Trong t́nh huống thập tử nhất sinh người ta nói câu ngắn, nhát gừng... chứ không dài ḍng văn tự như tác giả viết”. Sau đó thầy lấy quyển “Những lỗi thông thường trong thuật viết văn” của... Nguyễn Văn Hầu đưa tôi mượn: “D. về đọc đi, trong này c̣n có nhiều phân tích rất thú vị.”

Có lẽ đó là quyển sách khá “nặng kư” đối với một thằng bé mới học đệ tứ, nhưng thầy nói trong sách có nhiều điều bổ ích nên tôi đă cố gắng đọc và thuở đó chắc cũng tiếp thu được ít điều.

Bằng cách ấy nên tôi không xem văn chỉ là một môn học trong lớp mà c̣n là một phương tiện để khám phá tâm hồn và cuộc sống.

Tôi vẫn thường đến thăm, mỗi lần đều được thầy tiếp tục cho mượn sách. Phần lớn là tiểu thuyết. Nhưng có lẽ “Những lỗi thông thường ...” là quyển sách vỡ ḷng làm nền giúp tôi trong việc viết lách nhiều năm sau này.

Thuở chớm biết yêu với những rung động, thổn thức đầu đời, tôi cũng tập tễnh làm thơ. Bài thơ “Vết buồn” và bài “Phương trời màu vàng” viết tặng P. được mấy bạn giỏi văn trong lớp: PTN, DBK và ĐPP... chia sẻ. Bài thơ ấy rồi cũng đến tai thầy... “D. thương P. hả, để anh làm mai cho..”. Nhưng tôi chỉ lém lỉnh và phá phách cho... vui chứ thực ra là... nhát gái: Không dám viết thư để anh giáo trao giùm (mà nói thế chứ thầy dám trao không?). Tuy vậy trong tâm tôi biết là P. cũng có cảm t́nh với ḿnh, có thể “t́nh trong như đă ... mặt ngoài c̣n e..” ; nhưng cả hai thuở ấy hăy c̣n quá trẻ!

***

Thời gian ấy tôi ít có dịp về nước. Hai ba năm tôi mới về thăm nhà một lần, mà nếu về cũng chỉ quanh quẩn ở Sài G̣n. Măi sau mới có dịp về Quy Nhơn, hỏi thăm các em.. mới biết thầy đă nghỉ dạy và hiện làm ở Hội Chữ Thập Đỏ.

Gặp lại nhau... mừng mừng tủi tủi. Chúng tôi nhắc lại kỷ niệm xưa, rồi cùng bàn chuyện văn chương. Nếu khi thấy tên trên tạp chí Văn tôi c̣n hồ nghi HKB có phải là thầy th́ thầy đă biết người dịch các truyện ngắn của Dino Buzzati từ nguyên tác tiếng Ư chính là tôi.

Từ đó chúng tôi c̣n trở thành bạn văn của nhau. Thầy khuyên tôi nên dành thời gian viết lách và đừng v́ bất cứ lư do ǵ mà từ bỏ văn chương.

Như vậy là trí nhớ và cảm nhận ngày xưa đă không hề đánh lừa tôi! T́nh yêu văn chương đă theo thầy suốt cuộc đời và ngọn lửa ấy không bao giờ tắt. Bao nhiêu năm trôi qua, dĩ nhiên không sao nhớ hết những lời thầy giảng, nhưng niềm đam mê chữ nghĩa mà thầy đă truyền vào tôi th́ không hề phai lăng.

Sau này có dịp gặp lại những người bạn cũ, khi nhắc đến thầy, họ c̣n nói là suốt những năm đứng lớp, thầy không chỉ truyền đạt kiến thức mà c̣n dạy về đạo lư làm người. Ai cũng mến v́ tâm hồn thầy thật giản dị và trong sáng.

Tôi nghĩ, cuộc đời một người dạy học có nhiều học tṛ quư mến ḿnh là một điều hạnh phúc. Và có lẽ chẳng có phần thưởng nào cao quư hơn mà thầy đă nhận được.

***

Ở Ư, từ năm 2002, tôi và một nhóm bạn có lập một “Quỹ Tương Trợ Người Việt tại Ư”, mục đích từ thiện, hướng về quê hương. Tôi và Elena đă nhờ thầy đại diện cho Quỹ để liên lạc với hội Khuyến Học B́nh Định nhằm cấp phát học bỗng cho các trẻ em nghèo, hiếu học trong tỉnh. Nhiều năm liền thầy đă nhiệt t́nh đảm nhận công việc, kể cả việc xây cất một trường học tại Tây Sơn bị hư hại v́ băo lũ.

Năm 2007, khi chuẩn bị về Việt Nam, tôi có ư định in một tập truyện ngắn mà không biết hỏi ai. Thầy nói dễ mà, rồi sốt sắng giới thiệu tôi với Đào Hiếu là một nhà văn đồng hương B́nh Định hiện đang làm biên tập viên cho nhà xuất bản Trẻ. Thế là tập truyện “Hành Trang Ngày trở lại” ra đời.

In sách xong tôi về lại Ư, rất bất ngờ khi được thầy thông báo là tác phẩm đầu tay của tôi đă được đón nhận tốt, được giới thiệu trên đài phát thanh VN và “Mỗi ngày một quyển sách” của VTV1. Thầy nói khi thấy chương tŕnh phát sóng trên VTV1 đă gọi điện báo cho bạn bè và văn hữu cùng xem.

Năm sau đó tôi có ghé thăm thầy ở Quy Nhơn. Chuyện văn một lát tôi có hỏi thầy về P. Nhưng thầy nói không biết. Chỉ nghe là h́nh như cô ấy đă lấy chồng và lên sống ở vùng cao. Nhưng chắc chẳng có ǵ chính xác sau chừng ấy năm chiến tranh loạn lạc.

Đang tṛ chuyện th́ thấy cô Mận, vợ thầy, mang ấm nước sôi lên châm trà. Bắt gặp ánh mắt đa t́nh của thầy âu yếm nh́n vợ như ngầm nói cảm ơn, tôi chợt nhớ chuyện ngày xưa nên buột miệng : “ Những mối t́nh đầu thật lăng mạng nhưng hiếm khi đi đến hôn nhân phải không thầy?”. Thầy gật gù nhưng chẳng nói ǵ. Ánh mắt thầy như mơ màng hồi tưởng thuở c̣n trai trẻ. Măi đến lúc bắt tay từ giă thầy mới nói nhỏ : “ Ngày xưa D. yêu người con gái có nét đẹp Tây Phương.... c̣n bây giờ th́ lấy một cô Tây Phương chính hiệu... và rất mừng cho D. là cô dâu người Ư này rất hoà đồng, rất “xứ nẫu” và có tâm hồn rất Việt nam. Xin chúc mừng.”

Vậy đó....Với thầy Bửu, tôi luôn tôn kính và ngưỡng mộ nhưng giữa chúng tôi không có sự cách biệt. T́nh anh em thân thiết khi ở gần, chuyện chữ nghĩa kết nối lúc ở xa.

Nếu sự đồng cảm văn chương là sự chia sẻ về tính cách và tâm hồn th́ tôi nghĩ nó gắn kết con người c̣n hơn máu thịt. V́ anh em trong gia đ́nh tuy cùng cha mẹ sinh ra nhưng chưa chắc về nhân sinh quan và những chiêm nghiệm, suy tư về cuộc sống,... đă có cảm thông thật sự.

Tánh t́nh hồn hậu, cả đời thầy Bửu chỉ dạy, đọc và viết. Thầy giao tiếp rộng, quen biết nhiều mà ai cũng đều yêu mến. H́nh như thầy không biết giận hờn hay tranh hơn thua với bất kỳ ai.

Sống vô tư, thầy luôn giữ tâm hồn trong sáng, thanh thoát trong tư tưởng, sống đạm bạc như một chân tu giữa đời thường.

Với tôi, thầy là người có nhân cách lớn. Thanh cao mà b́nh dị.

***

Đă viết về 2 quyển sách của thầy : “Nơi con sông Côn chảy qua” và “Trong như tiếng hạc bay qua”[1].. . nhưng hôm nay tôi thấy vẫn c̣n chưa đủ. Tôi c̣n muốn viết thêm về kỷ niệm với thầy như một sẻ chia và an ủi. Ư muốn ấy được thôi thúc v́ lúc này thầy đang yếu và buồn phiền v́ mang trọng bệnh.

Văn chương của Thầy Bửu dường như chỉ xuất phát từ một tâm hồn thuần chất Việt: chỉ rung cảm trước những h́nh ảnh thân quen đă hằn sâu trong tâm tưởng. Đó là tâm hồn của người nghệ sĩ Phương Đông, của quê hương làng mạc, của ruộng đồng cây cỏ. Chỉ cần đọc những trang văn đầy hứng khởi, chan chứa t́nh người t́nh quê ấy, người đọc cũng dễ dàng cảm nhận được. T́nh yêu quê hương của thầy thật đáng trân trọng, nhất là trong bối cảnh thế giới hiện đại đang lấn lướt và xoá nhoà bản sắc.

Trong cảm nhận văn chương... thầy có xu hướng viết về những nét văn hoá mộc mạc, được lưu giữ trong ḷng nhân gian. Trong thời buổi hiện thời, các bài viết đó vang lên, tựa như tiếng sáo diều trong vắt, tiếng độc huyền cầm réo rắt, rơ từng âm thanh một, nổi lên trên tiếng ồn ào của một dàn đồng ca bát nháo.

Nỗi hoài nhớ của thầy hướng về những nét đẹp. Và đó là di sản tinh thần quư báu c̣n lại sau nhiều biến động kinh hoàng.

Trong hầu hết những trang sách thầy viết như nhân nha kể chuyện: chuyện làng, chuyện quê hương đất nước, chuyện về những cái gần gũi và nhỏ bé nhưng hàm chứa những giá trị văn hóa lâu đời đă trầm sâu thành vô thức của dân tộc, tạo nên bản sắc Việt được lưu giữ từ ngàn năm của những thời xưa cũ.

Ngoài hai tập tản văn thầy c̣n xuất bản một tập thơ: “Mùa Thu biết thở ra hương” nhưng tôi ít đọc thơ nên không dám lạm bàn. Chỉ thấy rơ tâm hồn nhạy cảm của thầy khi lướt qua những câu thơ với giọng điệu tâm t́nh, nhỏ nhẹ, hiền hoà, viết về thời gian, kư ức… gửi gắm ước mơ về một ngày mai tươi sáng.

Lần giở tập thơ, cũng như văn, tôi bắt gặp những câu thơ giàu h́nh ảnh và h́nh tượng văn hóa, thiên nhiên, con người Việt; t́m thấy nhiều đoản khúc mang nhịp điệu chậm răi như giọt mưa, tiếng gió... với một âm hưởng u hoài. Đó là t́nh yêu và hoài niệm được thầy giữ ǵn bằng ngôn ngữ thi ca.

Trong thời đại hiện nay, những lo toan cơm áo và hàng hoá tiêu dùng đang bứng con người ra khỏi những hoài niệm riêng tư th́ những bài viết của thầy như muốn kéo người đọc về với nhịp sống b́nh yên, nh́n lại chiếc chơng tre, ngắm mái đ́nh làng, nghe ḍng sông chảy và ngước mắt lên cao nh́n những cánh hạc bay...bầu bạn cùng những trang viết đầy cảm xúc, t́nh quê.

...Vừa viết đến đây th́ tôi bàng hoàng nghe tin thầy nhập viện. Cấp cứu. Pḥng cách ly. Trong gịng nước mắt tôi cầu mong thầy vượt qua những hiểm nghèo để c̣n được đến thăm thầy, nắm lấy bàn tay và nh́n ánh mắt hiền hậu của thầy, để trao đổi và học hỏi nhiều điều từ vốn kiến thức rất uyên bác về văn hoá Việt.

Trương Văn Dân
Sài G̣n 15.1.2013
_____

[1] http://vannghesongcuulong.org/index.php comp=tacpham&action=detail&id=19524


Nguồn : Chuyên Mục Sống và Viết, tập san văn học nghệ thuật Quán Văn
 

____

Mời đọc thêm :

Quán Văn chia buồn

Huỳnh Kim Bửu, tiếng hạc bay trên ḍng sông Côn

Blog Sông Côn ( Huỳnh Kim Bửu)
 

art2all.net