vơ công liêm

 

CA DAO Và THI CA II

LÀ TRIẾT LƯ CUỘC ĐỜI

                     Kính dâng giáo sư: Lê Tuyên.

 

Quạt nồng - Ảnh Trần Cao Lĩnh

 

           Nói đến ca dao và thi ca cho ta một liên tưởng đến vũ trụ ngoại giới của con người, một cái nh́n khám phá mới giúp cho chúng ta bắt gặp vũ trụ nội giới; một dàn trải tâm lư giữa chủ thể và ư thức liên kết với nhau để trở thành một phạm trù văn chương, bởi trong sâu thẳm của tâm hồn phát sinh ra ngữ điệu để soi sáng nhận thức, thiết lập và chứng kiến sự lớn dần ’Au fond de chaque mot/J’assiste à ma naissance’ (A. Bosquet) Đó là những ǵ xuất thần để sáng tạo ra ngữ ngôn; đó là tri giác ngoại giới đă làm rung động nội giới, một thể hiện thường hay xẩy ra của con người trong mọi t́nh huống, trong mọi đẳng cấp khác nhau cùng khởi từ một tâm hồn trong sáng, một thức tỉnh sống dậy từ tiềm thức đi qua từ vũ trụ ngoại giới đến vũ trụ nội giới kết hợp thành ca dao hay thi ca.
 

Ca dao là nguồn cội của dân gian, thi ca là tầng lớp của văn học kết duyên để ḥa hợp vào một ngữ điệu thông thường mà chúng ta bắt gặp một cách dễ dàng không c̣n là giới tuyến của văn chương. Nếu trong mỗi lối diễn đạt ’cao siêu’ của thi ca th́ người ta không cần sự vật ngoại giới làm đối tượng mà chất liệu lấy từ nội giới để xây dựng h́nh tượng, ngược lại ca dao phải đi qua từ h́nh ảnh ngoại giới, dung ḥa giữa nội giới đúc thành văn bằng biểu hiện qua ngữ ngôn nói lên tâm trạng và hoàn cảnh thích nghi một cách tự nhiên, một cách trong sáng hơn ’J’ai mes allumettes: les mots’(Henri Bosco). Đó là những chuyển biến để chúng ta thấy rằng, một vị trí nội tại bởi con người đặt ḿnh trước cuộc đời như một nhập thể, một lối đi vừa tự nhiên vừa đương nhiên là một gắn bó con người với vũ trụ giới, một tâm trạng mà trong suốt Đoạn Trường Tân Thanh Nguyễn tiên sinh không cho đó là hiện tượng mà là vai tṛ chủ thể đối diện với vũ trụ như định mệnh, một thứ ngữ ngôn được dung thông và cách mạng hóa vào mọi tầng lớp con người, xă hội và bất cứ hoàn cảnh nào, thời đại nào:
 

’Nói chi kết tóc xe tơ
Đă buồn cả ruột lại dơ cả đời’ (Kiều)

 

Th́ đó; một lời ta thán, năo nuột vốn đă có, h́nh ảnh đó không c̣n xa lạ mà đó là một tâm lư nội tại, gắn bó cho đối tượng một ư nghĩa vào đời là một thảm trạng ngao ngán, một thảm họa bi thương nẩy nở như ’The Birth of Tragedy’ (Nietzsche) liên hệ của ngữ ngôn mà thi ca đă xử dụng là một ư thức, một thứ ngôn từ biểu dương đối tượng, biểu dương h́nh ảnh và cũng là biểu dương tâm trạng, coi những câu thơ đương đại không c̣n trong phạm vi thơ mà nó vượt xa đến quần chúng như ca dao, dù là thảm họa bi thương nhưng đó là tâm thức , một tâm thức trách nhiệm con người:


’Quanh năm buôn bán ở ven sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân c̣ nơi quăng vắng
Eo xèo mặt nước buổi đ̣ đông’
(Tú Xương).


Con người thi ca nh́n hiện tại nhiều hơn thấy vũ trụ ngoại tại, nó gây ra từ động lực ư thức nội tại ’innermost being’, đó là một thức tỉnh trực tiếp và hiện tại, từ ’h́nh ảnh’ đó biến thể ra ngôn từ, biến chất liệu để thành thơ, có đôi khi vượt thoát để xúc tác thành một ngữ điệu siêu lư thành thi-tứ một cách thông thường không c̣n xa lạ; không có lối đi, lối về, đẩy đưa như ca dao. Sở dĩ có trường hợp như vậy v́ ca dao ’sống’ với ngoại giới vũ trụ, chiếm cứ một cách quan trọng trong sự khám phá của tâm hồn; cho nên người nghệ sĩ b́nh dân sáng tạo ra ca dao là nuôi dưỡng một ư thức ngoại giới sau đó du nhập vào nội giới để biến thành vần điệu. Thí dụ: mơ trong ca dao là cái nh́n hiện vật nhưng biến hóa sự vật vào hiện tượng dung thông với tâm hồn. Hợp cảnh, hợp t́nh của ca dao đi vào người không c̣n là h́nh tượng mà hiện thực:


’Mẹ già như chuối bà hương
Như xôi nếp một như đường miá lau’
  (ca dao phổ thông)


Hay:


’Cá không ăn muối cá ương
Con cải cha mẹ trăm đường con hư’
... (ca dao phổ thông)


Đó là tiếng khua động nội tại nhưng ca dao không có h́nh tượng gần gũi th́ ca dao không c̣n thi vị hóa. V́ vậy vũ trụ ca dao là một ḥa nhập nhất thể tuy có h́nh tượng, nhưng h́nh tượng chỉ là mệnh đề phụ cho bản ngă tức chủ thể nội tại. Francis James có lần nói: ’tôi không thể nào có được một t́nh cảm, nếu không có trái ngọt hay sự vật ngon miệng...’ vị chi cái nh́n như thế là cái nh́n của ca dao, không phải cái nh́n tưởng tượng hay đ̣i hỏi mà cái nh́n sâu xa, chung thủy giữa con người(nghệ sĩ sáng tạo)với mối tương giao thiên nhiên để biến ḿnh thành hiện hữu,một hiện hữu hiện sinh trong ca dao:


’Con cua anh không sợ, anh sợ con c̣ng
Kẻ tiểu nhân anh không sợ, anh sợ gái hai ḷng hại anh’
(ca dao Nam bộ).


Rơ ràng ngôn từ như thế là một biểu thị để thăm ḍ t́nh yêu chân thật, lối diễn tả của ca dao mang nhiều tính chất nhân thế mà con người là một tiếp cận hiện hữu với thiên nhiên, xử thế như một tiến tŕnh của vũ trụ; chính nhờ vũ trụ mà con người thấy được h́nh ảnh của tâm trạng, hay nói cụ thể hơn vạn vật của vũ trụ là đối tượng thích ứng trong ca dao và thấy được tâm trạng trên vũ trụ. Linh hồn của ca dao nó biến hóa một cách linh diệu, ca dao là trực diện, một ẩn dụ sâu xa, một diễn tả thẩm mỹ của ca dao Việt Nam, nh́n ra ca dao là tác động tự khởi ’motility’. Không!ca dao là cảm thức trực tiếp với hoàn cảnh, đầy đủ chất liệu thơ để chứng tỏ sự ngay thẳng, thật thà, phản ảnh cả tâm hồn ’ăn ngay nói thật’ không mộng mị, không đạo đức giả. Tưởng như rào trước đón sau. Mà đó là một xác quyết có mục đích ’for decidedly different purposes’. Giữa thi ca và ca dao trở thành gia-huấn-ca:


’Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi’ (Kiều)
...
’Hải đường mơn mởn cành tơ
Ngày xuân càng gió càng mưa càng nồng’
Nguyệt hoa hoa nguyệt năo nùng
Đêm xuân ai dễ cầm ḷng được chăng?
(Kiều)


Đó là mối giao kết giữa người với đời, giữa người với thiên nhiên là hai h́nh tượng quấn quưt bên nhau được đưa vào vũ trụ của thi ca , mà chính hai sự thể đó là chuỗi liên tŕnh nằm trong mơ, cái mơ tuyệt diệu, thẩm mỹ, tránh cái viễn tượng cuộc đời lố nhố, lăng nhăng, khó mà có cái nh́n tương giao hội ngộ, dù có ’hoa chào ngơ hạnh’ rồi đi tới cái cảnh ’hoa cười gió đông’ tất thảy đều nằm trong vũ trụ nhân sinh, một thế giới phủ phàng mà Tố Như tiên sinh hầu như trải dài đến 3254 câu thơ là cả một gắn bó đời ḿnh vào đó, như một thổn thức chất chứa triết lư nhân sinh . Bởi thi ca cũng như ca dao đều có ư thức từ sự vật, khám phá tự chính ḿnh mà trở thành đối tượng chủ thể, nghĩa là chủ thể nghi ngờ đời không thật ḷng, cho nên chi gắn bó ở đây là tế nhị, sâu xa để trở nên siêu h́nh. Siêu h́nh chủ-thể-đối-tượng và siêu h́nh chủ-thể-t́m-thấy ḿnh trong ḷng đối tượng. Nguyễn Du đưa thi ca vào hai lănh vực chủ thể và tha thể. Một thứ thi ca vượt thời gian. Một thái độ hiện sinh trong vai tṛ độc lập của con người, đó là ḷng khao khát tự do.Tự do trong một t́nh nghĩa cao đẹp. Nguyễn Du khao khát tự do!


’Khuyên chàng đọc sách ngâm thơ
Dầu hao thiếp rót đèn mờ thiếp khêu’
(ca dao phổ thông)

Con người luôn có một dự phóng về tương lai, tức là dựa vào vũ trụ mơ ước, nh́n thực thể của đối tượng là thấy được hoài vọng, một tâm thức trở về của cơi mộng là b́nh diện của hiện hữu, đó là một giao liên ngấm ngầm của con người, một ư thức tri giác là hy sinh để có hoài vọng; tư duy đó cho ta một nhận thức khác của ’Cartian’ là ’cogito/ego/self’ nằm trong định đề của Descartes :’Je pense, donc je suis’ cái tư duy riêng ḿnh là hiện hữu, một hiện hữu của sự mơ về, không phải mơ về trong chiêm bao mà mơ về với hy sinh, chịu khổ, chịu cực cái mơ của hiện thực. Ca dao đứng trên b́nh diện diễn đạt của ngôn từ là một lối về của mơ, một ước ao tiềm ẩn nhưng mang nặng h́nh thái nghệ thuật, không vượt quá cái nh́n tâm thức mà muốn sự vật trở nên vô ngă mà ở đây là cái nh́n đồng hóa được t́m thấy trong vật thể:


’Ước ǵ em hóa ra dưa
Để anh đem rửa nước mưa chậu đồng
Ước ǵ em hóa ra hồng
Để cho anh bế anh bồng trên tay’
(ca dao phổ thông)


Một lối đối đáp b́nh dân đơn điệu, nhịp nhàng cân đối, có thể, có cách; tuy nhiên trong dáng vẻ đó đă thoát ra vẻ đẹp nội giới, đó là trạng thái tâm hồn. Vậy th́ ca dao ngoài sự bộc bạch của vũ trụ ngoại giới c̣n có nhiệm vụ tiêu diệt ’ngă’ để đi tới vô-ngă-vũ-trụ. Do đó cái vô ngă của sự vật ngoại giới không c̣n một vô ngă thuần lư của triết học mà chính cái vô ngă của đ̣i hỏi yêu cầu, ao ước, cả hai đặc trưng nầy dành cho chủ thể, một thứ vô ngă t́nh cảm xóa mờ cái bản ngă tự tại sự vật. Nhưng với con mắt triết học th́ có cái nh́n thâm hậu hơn, nh́n bằng ư thức, bằng tri giác hiện hữu; đó là cái nh́n hiện sinh: vừa thực thể vừa hiện hữu ’existenz/da-sein/being’. Ở đây không có khoảng cách không gian và thời gian mà chỉ có một thể của hiện hữu là cốt tủy; thi ca và ca dao sống động là nhờ đó. Ngoài ra tạo được một sự tương hợp thiết tha để t́m thấy được triết lư nhân sinh nằm trong ngữ ngôn. V́ vậy cái nh́n của thi-nhân hay cái nh́n của nghệ-sĩ-ca-dao đều mang nặng tính chất mơ về ’dreaming-day’ Tại sao? Cái nh́n của họ thực nhưng phi-thực nghĩa là từ bản ngă hóa ra vô ngă v́ tất cả h́nh tượng, vật thể bị đồng hóa để nhập vào nội cung của tâm hồn ’innermost’. Thử lấy ra một câu ca dao b́nh dân để thấy được hiện hữu nhân sinh, bao gồm không gian h́nh tượng, không gian hiện thực và một không gian hiện sinh đích thực gói trọn trong ca dao lục bát; một bày tỏ xót xa, một thân gái dăi dầu, chịu nắng chịu mưa, rơ ràng từ ’ngă’ bước sang ’vô ngă’ để đi tới KHÔNG. Do đấy; thế giới của người nghệ sĩ ca dao không nói lên hiện hữu của ḿnh mà ở đây là một liên đới hiện hữu giữa người và vật:


’Thân em như hạt mưa rào
Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa’
(ca dao phổ thông).


Đi sâu vào ḷng đất của Nguyễn Tiên Điền ta t́m thấy được những ǵ là bi thương của thân phận, người đă triết lư hóa thân phận làm người như chứng minh một hiện hữu có thực, một chấp nhận thương mong của người phụ nữ, phản lên một tiết điệu hiện sinh:


’Vội chi liễu ép hoa nài
C̣n thân ắt lại đền bồi có khi’
(Kiều)


Một lư lẽ khác; chuẩn mực hơn là trong các nhận định văn hóa ta thấy ít nhắc đến: là người nghệ sĩ tuyệt đối không chiếm cứ vũ trụ, nghĩa là không chiếm cứ sự vật ngoại giới để nằm ḷng như vai tṛ ngoại nhân ’outsider/L’Étranger’ mà chiếm cứ vũ trụ như một phản kháng nội tại. Cảm nhận nầy nó trở thành ’truyền thống’ cố hữu của những thi nhân, không những riêng ở ta mà khắp mọi nơi. Nhẹ nhàng một câu để thấy siêu thực:


’Mai chẳng bẻ thương cành ngọc
Trúc nhặt vun, tiếc chiếu rồng’
(Nguyễn Trăi)


Vô biên! siêu đẳng ’transcendence ’ cốt tủy của thi ca nằm gọn trong ngần ấy, có cần so sánh những Homère, Nietzsche, Heidegger, Hoelderlin, Sartre hay Camus...(?) Thi ca như vậy là trọn gói. Ấy là điều cho ta thấy rằng giữa người, vật và không gian chỉ là điều tương hợp. Thi ca và ca dao không nặng tính chất chiếm cứ như tư tưởng văn học Tây phương, ngược lại ở đây thi nhân và nghệ sĩ dung thông cùng vũ trụ ngoại giới như hoà nhập vào một cảm thức nội tại. Nói chung thi ca hay ca dao là khát vọng. Cụ Tiên Điền cũng khát vọng! Để được thổn thức, để được khóc sau hơn ba thế kỷ đợi chờ(!) Và; chính nhờ vào thi ca, ca dao hai ’nhân cách’ nầy cùng khám phá một khát vọng vũ trụ. Bởi cái đẹp của cuộc đời cũng như cái đau khổ của con người là một liên hệ tương giao, hợp thông để nói lên khát vọng; đó là khát vọng dự ước, khát vọng tồn lưu. Một định đề mà con người ở bất cứ thời nào, hoàn cảnh nào cũng phải nhận một sự ḥa hợp đương nhiên như thế :


’Trăm năm trong cơi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn ḷng
’ (Nguyễn Du/ĐTTT)


Đó chính là khát vọng mơ về, mơ về vũ trụ sơ khai như định mệnh an bài là phải nhận một bi kịch đời ’tragedy of the birth’ là cái nh́n nhân thế: ’dans les rêveries cosmiques primitives, le monde est corps humain, regard humain, souffle humain, voix humaine’.
(G. Bachelard). Vũ trụ của sự vật là biểu hiện của nhắn gởi, v́ xót xa cùng thân phận:


’Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn’
(ca dao phổ thông)


Nghệ sĩ ca dao đưa câu văn b́nh dân để trở thành thơ, bởi ngữ ngôn trong thơ là cái nh́n khát vọng hiện hữu, nói lên tâm trạng con người, ca dao nhân cách hóa thiên nhiên, sự vật là tiếng nói trung thực và là sự thật hiển nhiên c’est la vérité. Đó là lối về của ngữ ngôn, để nói lên sự thật của hiện hữu và cũng là biểu dương hiện hữu lịch sử. Một hiện hữu soi sáng ’éclaircie de l’Être’. Một thức tỉnh đáng nể của Martin Heidegger : ‘la vérité de l’être et sur l’histoire de l’être. Ce qui compte, c’est uniquement que la vérité de l’être vienne au langage et que la pensée atteigne à ce langage’(L’Hummananisme). Đấy không phải là những ǵ trừu tượng mà con người chưa bắt gặp; đó chính là những thực hữu mà con người đang sống. Thành thử vũ trụ khát vọng của ca dao là một vũ trụ bắt nguồn từ cuộc đời thực hữu để đi tới khát vọng ; do đó ca dao là tiếng kêu chân thành của con người yêu đời, yêu người là nhịp đời có thực. Ca dao không cầu kỳ, viễn vông c̣n thi ca là chứa đựng h́nh ảnh để biến hóa qua ngôn từ để nhập vào tư duy nội thể, nó không có chi là ảo tưởng mà cơi thực trong h́nh ảnh. Tựu chung ca dao hay thi ca đều nói lên cái chân lư hữu thực. Miêu tả dưới dạng thức chủ thể nhận thức. V́ vậy thi ca và ca dao có những cái mơ mộng, lăng mạn của cơi đi về; ca dao không mộng ảo, không viễn vông, thi ca th́ mộng nghe qua th́ ảo nhưng thực. ‘trăng thanh gió mát là tương thức / Nước biếc non xanh ấy cố tri’ (Nguyễn Bỉnh Khiêm). Cả hai đều có chân lư của nó.


‘Sáng trăng trải chiếu hai hàng
Bên anh đọc sách bên nàng quay tơ
Quay tơ phải giữ mối tơ
Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh’
(ca dao phổ thông)


Cho nên phải hiểu rằng ca dao chứa tính cách biểu dương hơn là miêu tả, nó phản chiếu một hiện hữu trong sáng của hạnh phúc, sự cớ như thế cho ta nhận ra được khát vọng của con người. Có một lối biện chứng triết học: khát vọng đó là tâm trạng trong mỗi t́nh cảm, nhưng cái nh́n triết học là cái nh́n bao hàm trước một thái độ, trước một biến dịch đổi thay để có khát vọng. Đấy là tất cả cái đau xót của con người đứng trước sự kiện, đứng trước thảm họa, cho nên chi cái nh́n của thi ca và ca dao là một tương quan giữa đời và người : ‘Những điều trông thấy mà đau đớn ḷng’ hay ‘Đau đớn thay phận đàn bà’, hoặc ‘Đồng bao nhiêu lúa thương chồng bấy nhiêu’ từ cái đau phải nhận và khát khao thương mong phải chấp, cả hai đều đồng nghĩa của thân phận. V́ thế ; có lẽ chúng ta nên nh́n cuộc đời khác cái nh́n tâm lư học. Triết học đứng lại trong h́nh thái của đối tượng tha nhân. Mặc khác cái nh́n của thi ca và ca dao nh́n vật thể trong vũ trụ ngoại giới mang sắc thái TỊNH và từ trong cơi tịnh thi ca, ca dao mới thấy được hiện hữu của vật thế để du ḿnh vào chủ thể. V́ cơi tịnh của thi ca, ca dao là cơi phi của ngữ ngôn ; tức thơ.


Qua sự phân tách ca dao và thi ca tưởng như là hai thái cực, mỗi người mỗi phương, chạy măi trên một tuyến đường không bao giờ gặp nhau ; nhưng không ! tụ điểm vô cực bắt chúng ta phải gặp nhau của hai hành tŕnh: ca dao và thi ca; cả hai ḥa nhập vào một vũ trụ ngoại giới, một kích động đưa tới vũ trụ nội giới. Dù đứng ở giới tuyến nào vũ trụ thiên nhiên của thi ca và ca dao là nhân chứng của hiện thực và thể hiện được tâm trạng khát vọng. Vị chi giữa hai gịng siêu thực của ca dao và thi ca là một chiếm cứ của mơ về để đi tới ‘tuyệt đối như nhiên’. Những chiếm cứ ấy không phải là khuôn phép, rập khuôn nó chỉ đến một lần trong đời mỗi khi ư thức và hội nhập, đồng lơa với bản thể (hiện thể) và hiện tượng dung thông là một tập kết cho hai luồng tư tưởng nêu trên. Xuất thần đầy sáng tạo một cách tuyệt đối để thành thơ, không thể tái tục hai lần trên một ḍng sông –Aimez ce que jamais on ne verra deux fois. Phải chăng đó là chặng đường của ca dao và thi ca, mà bản thân chúng ta cũng đang trên đoạn đường đó…


Để kết thúc bài nhận định về ca dao và thi ca thời chúng ta xếp cả hai vào một thể loại chung là thơ : thơ b́nh dân và thơ văn chương mà mỗi vị trí đều có cách riêng của nó.


Nói cho ngay ca dao hay thi ca nó có đất đứng (ground/concrete) vững chắc từ xưa đến nay là điều bất khả tư nghị. Tất nhiên là tuyệt đối dù cho là tương đối chăng nữa ./.
 


VƠ CÔNG LIÊM (ca. ab. yyc. tiết đạihàn 1/2013)

_______


BÀI ĐỌC THÊM :
- ‘Cái T́nh Trong Ca Dao I’ 10/2009 vcl.
- ‘Thiền Thơ Trong Thi Ca’ 9/2008 vcl.
Bài đă có trên một số báo mạng, báo giấy hoặc email theo điạ chỉ đă ghi.


 

trang vơ công liêm

art2all.net