vơ công liêm

 

CÁI CHẾT CỦA VĂN CHƯƠNG Và THI CA

 

 

            Văn thơ đă vượt qua một thời gian khá dài từ trước đến nay, lấy thời điểm 1930 ở nước ta làm cái mốc; đặc biệt giới văn nhân miền Bắc, khởi từ đó cho tới thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Giữa thập niên 1930 cho tới thập niên 1950 dấy động nhiều cao trào thuộc văn hóa như phong trào của Nam Phong tạp chí, Nhân văn Giai phẩm, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc và sau đó nhóm Tự Lực Văn Đoàn; cùng lúc đó có những đ̣i hỏi, yêu sách khác để thành lập những tổ chức, hội đoàn có mặt của nữ giới ‘nam nữ b́nh quyền’; đứng dậy như thách đố đ̣i quyền sống, một gián tiếp chống lại hủ hóa của thuộc điạ Đông Dương là thời kỳ đẫm lệ và cưỡng bách, nhất là những ǵ thuộc văn hóa. Theo sau những dữ kiện chính trị và thời sự là thời kỳ quá độ để bảo vệ lư tưởng chủ nghĩa; chính yếu tố đó đưa tới hận thù bắt bớ công khai hay thủ tiêu đối với giới trí thức thời đó. Với mục đích tiêu diệt những ǵ gọi là lư tưởng quốc gia.Trong khi đó cao trào văn chương, giới văn nghệ sĩ không nao núng, không ngă qụy trước sự khống chế của guồng máy cai trị hay tư tưởng chủ nghĩa, hay một áp lực văn hóa nào khác, áp đảo tinh thần cải cách và hóa trị vào đó một sự kiện biến chất để không c̣n thấy đó là thứ văn chương đích thực.Thi ca được liệt kê vào loại độc dược, một hiểm họa đáng sợ bởi lời ru trong thơ. Từ chổ ‘hiểm họa’ và ‘ma túy’, từ những biến động tinh thần và lập thành một gọng kềm sắt, thép hơn trước để chế ngự những ǵ cho là huyền hoặc ngoài ṿng cương tỏa của mệnh lệnh; tuân thủ bắt nguồn ở thành phần vô sản và thành phần trí thức giả hiệu làm nồng cốt để khước từ những ǵ chống lại chủ trương. Người ta nhận ra được thứ dân hóa đó, một thứ ngu dân hơn là khai sáng. Ngược lại; tạo nên một tinh thần bất khuất, và; tự coi ḿnh như cái chết bức tử; đó là cái chết của văn chương và thi ca –The Death of literature and poetry; là thời gian vượt mức có nghĩa rằng văn chương vượt thời gian và không gian để trở nên miên viễn giữa đời này. Từ chỗ đó suy ra: là căn nguyên của lo sợ, bối rối giữa hai nguồn mạch tự do trí tuệ và tự do bắt buộc, để trở về những ǵ của yêu cầu và thành lập một qui tŕnh có hệ thống để tạo một giá trị khởi đầu gọi chung là đỉnh cao; sự đó chính là thứ lộn ṣng, một điều kiện trở về của nguyên tắc xưa cũ với những lư thuyết đă lập ra không hợp dân tính, điạ lư của đất nước và cho đó là đỉnh cao trí tuệ, một trạng huống của phá sản. –Literature has in the past year of 1930 or so passed through a time of radical disturbance that retured the institution and its primary values topsy-turvy (a state of confusion). Và; duy tŕ thảm họa đó cho tới nay; chẳng lợi ích mà làm suy đồi nền văn hóa đặc trưng của dân tộc ta.

Cùng thời gian đó văn chương miền Nam có một khuynh hướng tự do khác, nghĩa là khai thác triệt để những ǵ đă bị ‘vùi dập’ trực tiếp vào đám văn nghệ sĩ miền Bắc. Miền Nam lúc bấy giờ chưa hẳn phải là đất dụng vơ, dụng văn hay là môi trường sinh sôi, phát tiết, mà chỉ thấy ở đó một nền văn học nghệ thuật lùi bước sau chiến tranh và hậu chiến tranh (Thế chiến II), đă tiếp thu những triết thuyết của phương Tây vào văn học Việtnam với một h́nh thù xa lạ, có thể làm đảo lộn tâm tư; mặt khác người ta vin vào đó như một tư duy đổi mới với tầm ảnh hưởng lớn nền văn minh phương Tây; nh́n vào đó như con đường chân chính dành cho văn học nghệ thuật hoặc để phô trương đường hướng mới hơn, bên cạnh đó đón nhận những ‘nhân chứng’ du học sinh từ phương Tây trở về, lấy đó làm kim chỉ nam và thần tượng hóa để suy tôn. Thật sự những kẻ ở phương Tây về đă đạt tới cái hoài bảo đó chưa? Hay nửa chừng xuân thoắt găy cành thiên hương? Hay mượn tiếng đào tạo để cho ra một ‘triết gia’ thời đại. Thứ thần tượng đó không hóa trị hay khai trí mà cậy vào đó với những ư thức giả tưởng không mấy thiết thực; chủ lực của sự hiện diên đó chỉ là nhà mô phạm. Tiếc thay những kẻ tin theo, bởi; tập quán ‘quân sư phụ’ mà suy tôn một cách mù quáng. Chớ thực ra miền Nam đă có một một nền văn học cách riêng từ lâu và đă thành h́nh một thứ văn chương Nam Bộ; thứ văn chương không ảnh hưởng mà độc lập; ngược lại tạo nên một thứ văn chương đặc thù hơn hẳn những thứ văn chương khác, thế rồi cũng rơi vào thời kỳ ‘cái chết của văn chương’ đi tới lăng quên, mà chạy theo thứ văn chương lăng mạn của bên ngoài để du nhập vào thi ca lăng mạn Việtnam qua những thi nhân tên tuổi, loại thứ đó thuộc trường phái thi ca biểu hiện (empressionism) và tự phong cho ḿnh trường phái thi ca ấn tượng hay trường phái thi ca lăng mạn (lấy từ các trường phái của Âu châu làm cái đích).

Thời kỳ thơ-mới (new-poetry) phát tiết mănh liệt ở thời điểm 1932/1945 có nhiều khuynh hướng khác nhau; có nghĩa rằng thi nhân muốn đi từ cái cũ (thơ-mới) để phát sanh cái ǵ mới hơn (thơ-mới) qua thái độ của một số thi nhân thời bấy giờ; hầu như nghiêng hẳn về trường phái lăng mạn (romanticism) hay siêu thực (surrealism); nhưng không thoát ra từ cái cũ của cái mới, gần như nhại lại những ǵ của các nhà thơ phương Tây. Thực ra chưa hẳn phải là trường phái đúng nghĩa của chủ nghĩa đặc tên. Kỳ thực nó chỉ là sự giao thoa của tiểu thuyết và thi ca trong thời điểm phôi thai chớ chưa nghe lư thuyết lập ra (theory after theory). Ngay cả những ǵ gọi là văn chương tiểu thuyết gần như chưa đạt tới ‘đỉnh cao’. Nói đến nghệ thuật tiểu thuyết lớn dần và phát triển mạnh, nhưng; cuộn vào đó một sự thầm kín cong queo và chôn sâu trong tư duy ẩn tàng; thi ca: lời và chữ không tỏ rơ, mờ ảo và thầm kín tận đáy ḷng –The art novel and poetry has grown increasingly, but; invotute and cryptic, poetry more opaque, gloomy and inward. Đấy là triệu chứng ban đầu gia nhập vào trào lưu thơ-mới ở nước ta khởi từ 1929/1932 đặc biệt đă hiện diện trong tư duy của những nhà thơ có tên tuổi, rồi tự thân coi như trào lưu lăng mạn và lan tỏa trong tư thế xu thời, xu hướng để làm nên một thứ văn chương sống thực mà để lại về sau một thể xác mất hồn của ‘dead poets sosiety’, bởi; không t́m thấy giá trị khởi đầu (primary values). Về truyện cũng như thi ca chịu ảnh hưởng lớn vào văn chương ngoại lai; điều này ít ai t́m thấy cái sự ẩn tàng trong đó mà chỉ cắm đầu b́nh giải như rập khuôn, biến ḿnh vào cái thứ ṿng vo (spiral) không thấy ở đó một sự cấu thành mà xử lư hoàn cảnh qua thái độ khách quan, nh́n vào dữ kiện để tạo cho văn chương sống lại sau cái chết của nó mà thôi.

Nh́n chung; một số phê b́nh gia mỗi khi nhận định văn chương cũng như thi ca đều đi qua thể cách b́nh giải (lối b́nh giải bậc trung) nghĩa là không nói lên cái đích thực trong thơ cũng như tâm hồn thi nhân khi nhập vào nguồn thơ;cứ lấy thơ ra phân tích, diễn giải, chứng minh việc đó không thể gọi là phê b́nh; với lề lối cổ-lỗ-sĩ rập khuôn, bí tỷ và trở thành căn bệnh truyền nhiễm, vô h́nh chung tạo nên cái chết của văn thơ và chết ‘vô thừa nhận’ hoặc lư tưởng chủ nghĩa mà biến giá trị đó trở thành tha hóa hay thoái trào để xây dựng một thứ văn chương, thi ca độc diễn, độc tôn không c̣n thấy chi là tinh hoa dân tộc. Văn chương và thi ca kiểu đó quả khờ khạo dưới sức ép đi tới tâng bốc, ngợi ca; mọi thứ đó đă đem lại cái chết cho văn chương khác với thứ văn chương bất tử (immortalize).Thời tất; đó là thứ văn chương phá sản (literary confusion).Dù có gượng gạo chỉ là thứ hóa thân (metabolism) chớ chẳng làm nên lịch sử. Cho dẫu hư cấu nhưng phải thực như một hiện thể đang sống giữa đời này mới gọi là văn chương bất tử bằng không viết cho có viết để đuổi kịp với ‘thói đời’; sự đó c̣n tồn tại và tiếp tục dẫm lên con đường ṃn chưa chịu hội nhập vào tiểu thuyết mới để hiện đại hóa cho một nền văn chương lâu dài.

Ngay cả những nhà văn, nhà thơ đương thời; cứ tưởng thế là hay, bởi; một điều dễ hiểu ‘xấu che tốt khoe’ do đó hiện rơ cái ngă mạn của ḿnh trong văn chương; do nhiều lư do khác đưa tới: có thể văn thi nhân tưởng là đạt yêu cầu cho nên tung hoành trên mạng báo một cách dễ dàng và đăng đàn diễn nghĩa từ chỗ này đến chỗ khác như rao báo cho một tác phẩm vừa mới thành h́nh. Kỳ thật; họ tạo sự nhàm chán đến đọc giả: ‘khổ quá biết rồi nói măi’ hay phóng bút quen tay cho thỏa măn với văn chương (?). Sự đó gọi là tệ nạn của văn chương, một thứ hiểm họa và ma túy; có thể làm hư hại cho một truyền thống văn hóa vốn đă dày công xây dựng và lập nên; những thứ đó c̣n ở thế gian thời khắc không thể ghép vào cái chết của văn chương và thi ca mà là bóng ma trơi đùa giỡn với chữ nghĩa. Nhận thức được là không đi tới cái chết bức tử như đă xẩy ra. Cho nên chi t́nh trạng đó đưa tới một thứ văn chương (văn, thơ) tha hóa chớ chưa thấy đó là giá trị đích thực để làm nên tiểu thuyết mới hay thơ mới ở tự nó.

Thời gian Geneva Conventions (1954) chia hai giới tuyến; một số người đi là cơ may phát tiết hoài băo, một số ở lại là nếm mùi tân khổ. Họ đến với miền Nam như ngọn gió quái, thổi tung lớp bụi hưng phế, ngọn ‘thần phong’ đó đem lại cho đất phương Nam những tinh hoa trí thức để dựng nên những ǵ là sáng tạo, những ǵ là hiện đại, những ǵ là chủ đề, phổ thông hay bách khoa…và làm sống lại những ǵ đă truất phế một lần; đó là cơ hội phát tiết cho nền văn chương miền Nam. Những người ở lại chỉ đi qua những con đường xưa, phố cổ hoặc ngồi trầm tư bên chiếc dương cầm của thuở nào mà tiếc nhớ…Giờ có sáng danh là đưa họ vào cái chết của văn chương, chỉ c̣n hoài niệm một thời vang bóng mà thôi.

Miền Nam cởi bỏ những chiếc áo the thâm mà thay vào đó một khuôn mẫu đúng thời trang của thế giới mới ngày nay có tính chất cải tiến và diễm lệ hơn. Nhưng; đứng trên lănh vực khách quan mà nhận xét: thời đệ nhất Cộng ḥa đă mở rộng vườn văn nghệ đúng nghĩa của ‘trăm hoa đua nở’, được ươm mầm và mở mang một môi trường thích ứng cho văn chương. Khác những ǵ là đối tượng ở miền Bắc sau lằn biên 1954. Hai t́nh huống coi như phản đề trong cùng một hoạt động. Cả hai bên duy tŕ nền văn hóa như công cụ chiến tranh: một thứ chiến tranh tuyên truyền (miền Bắc) và một thứ chiến tranh tâm lư (miền Nam) là chủ trương có hệ thống để chống lại những ǵ có dự mưu toan tính giữa hai ư thức hệ. Chính thời điểm đó là mối đe dọa lớn cho việc đấu tranh chủ nghĩa. Đau đớn cho giới văn nghệ sĩ ở lại phải hứng chịu những trận đ̣n thê thảm (tragedy of cultures): đưa tới khai trừ, tố cáo, thậm chí tù đày.

Trải dài hơn nửa thế kỷ qua là một chứng tích của lịch sử văn học Việtnam, và; thừa nhận nó như cái chết của văn chương mà về sau được phục sinh trong những ǵ gọi là ‘đổi mới tư duy’. Và; từ đó họ trở nên thiết tha cho một lư tưởng thuộc văn hóa và cho đó như là một sự so sánh có mục đích (comparision intended); ư chừng xây dựng lại những ǵ đă đổ vỡ bởi chiến tranh giữa hai chủ nghĩa…Giờ đây văn chương đă kinh qua những trải nghiệm của quá khứ, những vết sẹo trên mặt (the scar face) khó phai mờ, mà là chứng tích cho một nền văn hóa củng cố: kinh qua thời kỳ Bắc thuộc, thời kỳ Pháp thuộc, thời kỳ chiến tranh Mỹ Việt, thời kỳ Việt hóa (Vietnamezation) và thời kỳ Chủ nghĩa, tức thời kỳ đổi mới tư duy. Văn chương ViệtNam ngày nay ra khỏi những giới tuyến đó để có một hy vọng sánh kịp với văn chương quốc tế. Giải thưởng đó sẽ đến với người cầm bút không buộc phải mà tự do sáng tác.

Dựa vào tư duy triết học để làm chứng từ giữa sống và chết, sự đó là thách đố của con người và thượng đế mà Nietzsche gọi là cái chết của Thượng đế (the death of God). Mà thực; Thượng đế đă chết và khước từ những ǵ tha thiết của con người. Sự ngoảnh mặt đó không có nghĩa làm ngơ; với thượng đế là tự thức với chủ trương là chà đạp. Chúng ta phải nh́n vào thực tế của bi thương mà đánh giá giữa sống và chết, tất nhiên; có dự mưu ngay cả nghệ thuật cũng bị vạ lây. Sự đó gọi chung là tragedy / bi thảm.

Miền Nam nh́n vào cái chết đó là ḍng sinh mệnh của văn học nghệ thuật. Nhờ những chặn đường bi thảm đi qua mà người làm văn nghệ ư thức được phần nào giá trị của nó:-Tiêu diệt văn nghệ sĩ chưa phải là cách mạng văn hóa. Đốt sách, chôn sống chưa phải là duy tŕ quyền lực.Tù đày, chém giết chưa phải nói lên thế đứng của chủ nghĩa. Tất cả những thứ đó đă quên đi trách nhiệm làm người, trách nhiệm với đất nước và dân tộc hay ảnh hưởng vào đường lối chủ nghĩa khác mà hành h́nh văn chương và thi tứ (?)


Đúng ra tạo một sự hủ hóa u mê không c̣n ǵ là cải cách; kể cả thời kỳ cải cách ruộng đất (ở miền Bắc sau 1954) và luật người cày có ruộng (ở miền Nam 1965). Hai mặt trận chính trị khoa học đó không đem lại lợi ích cho đất nước và con người mà là thứ chủ nghĩa cực đoan; một lối ‘sửa sai’ và lối ‘cải tổ’ giả tạo không hợp thức hóa quần chúng. Những ǵ nêu ra là vạch mặt tệ đoan chính trị đă sản sanh ra ‘bệnh tật’. Lư đó đi ngược ḷng dân là vậy. Trong cái thế đó người văn nghệ sĩ cam tâm nhận cái chết bức tử.

Sự ǵ đă có trong Văn chương? -what was Literature?- Là cái sự mà tác giả tạo ra h́nh ảnh để nói lên nguồn gốc của văn chương, làm sáng tỏ cái chết hoặc nói đúng ra nó chỉ là một sự tập hợp của một ít ngữ ngôn, văn hóa khác mà thôi –The author; whose creative imagination had been said to be the source of literature, was declared dead or the mere assemble of various bits of language and culture. Trong khi đó lịch sử văn chương tự nó như đă lăng quên hoặc đă loại bỏ vô căn cứ và coi sự cố như là một thứ ảo giác chữ nghĩa văn tự (diachronic illusion) được thay thế vào đó bởi ngữ ngôn của sự điều hợp biến hóa chữ nghĩa (synchronic paradigm) được lấp đầy trong nghĩa lư vô tận, sự đó là ngữ ngôn văn chương và thi ca. Nhớ cho: văn chương là sự tăng trưởng trong một cái ǵ khao khát đ̣i hỏi tự do, dù dưới h́nh thức nào, hay một sức ép nào, nhất thiết của văn chương là khai sáng / enlightenment vấn đề nói lên sự tự do tâm hồn.Văn chương không cưỡng ép, cung cầu. Nếu có th́ gọi là gông cùm chữ nghĩa.

Trong thế giới rộng lớn, dữ kiên; cái chết của văn chương có thể là thứ có lợi ích trước nhất chỉ dành cho những ǵ đường lối, cương lănh chính xác trong những ǵ mà nó có thể thay mặc để chuyển vị đến mọi nơi –In the larger world, in fact; the death of literature may be chiefly intersesting only for the precise schematic way in which it represents changes taking place elsewhere. Khía cạnh khác thường xảy ra từ xă hội đến gia đ́nh đôi khi phức tạp giữa những ư kiến khác nhau và hiếm khi tỏ rơ để đả thông. Huống là giữa văn chương với ư thức, bởi; do từ suy tư khác nhau: một là trọng vọng (respect) hai là tiêu hủy (destroy) làm cho văn chương mất thế đứng. Đó là cái chết của văn chươ ng mà cần một sự ‘điều ḥa không khí’ để đả thông tư tưởng là giữ được những ǵ đă có và những ǵ đă mất. Sự trở về của văn chương có một giá trị chính xác, nghĩa rằng quay về (reversal) là thừa nhận một cái ǵ đă làm suy tàn. Văn thi nhân không tự dưng mà có, bên trong (inner) của con người có một thiên tính (geniuses) ẩn tàng chỉ đến khi phát tiết thành văn hay thơ. Văn chương trước sau là người khai sáng và xây dựng. Bởi; thi ca và văn chương là ‘đồng minh’ luôn luôn được ưu đăi, v́ chứa những thứ có nhiều chất liệu thuộc siêu h́nh và trừu tượng trong ngữ ngôn hơn những ǵ thuộc xă hội học (sociological) –có lẽ trong mọi thử thách cho tới trốn tránh là một chịu đứng ở mọi nơi kể cả phía xă hội. Văn chương không có ǵ; sau tất cả -Literature has not; after all- và cũng chẳng thích làm ǵ cho tương lai. -And is unlike to do so in the future- Mà dự phần trong khả năng để xây dựng xă hội. Từ chỗ đó suy ra; văn chương ở trong thế bị động, trù yểm, vùi dập, buộc phải; đẩy văn chương vào ngơ bí, vào bóng tối để không bao giờ đưa ra xử lư mà khăng khăng cho văn chương là tội ác. Nói chung đẩy họ vào con đường tự xét : dây tḥng lọng, chén thuốc đen và con dao hai lưỡi. Nghĩa là chọn một trong hai con đường để đi. Đó là cái chết bức tử của văn chương hôm qua và có thể của hôm nay. Sự kiện đó như thể vừa ư thức vừa đánh động ./.

VƠ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Đêm trừ tịch nguyên đán Kỷ Hợi 5/2/2019)


 

trang vơ công liêm

art2all.net