vơ công liêm

 

CHUYỆN LAN MAN

 

 


            Những ngày áp tết là những ngày buồn; buồn ở đây nhiều nguyên cớ khác nhau, người buồn cảnh có vui đâu bao giờ, bởi; nó mang tính chất đấu tranh trong cuộc sống, nào phải chạy gạo, nào tết nhứt quà cáp, nào phải thế này, nào phải thế nọ…hoặc có khi đen đỏ, bán buôn cuối năm hoạnh tài th́ mơ có tết dài dài để có lời chúc tụng như ư. Cho nên chi nghe tết đến ḷng đă xôn xao; tuổi trẻ đợi ngày ấy cho cả năm để khoe tài, khoe sắc. Cái sự duy nhất c̣n lại của người cao tuổi th́ ta buồn ta t́m nơi vắng vẻ là nơi chốn để tâm niệm, những khi như thế họ mong có một hạnh phúc riêng ḿnh, nghĩa là hoàn toàn tự do không một ai ‘đếm xiả’ đến để được tĩnh tâm; một số người già không theo chủ nghĩa thiền nhưng họ đă thiền bất luận khi nào, những lúc như thế họ tự vấn lấy ḿnh cho một ‘tất niên’ cuối năm mà trong Thiền Phật giáo gọi nó là vô niệm nghe qua nghịch lư nhưng xét ra hợp lư, hợp t́nh như thể tự giác, giác tha. Ai trong đời cũng cần sự tĩnh lặng trong ngày ít nhất cũng dăm mươi phút hay nhiều lúc cả tiếng đồng hồ; đó là phút tự do cho ḿnh. Ngữ ngôn trong thơ của thi sĩ Du Tử Lê tác giả dùng chữ ‘hạnh phúc tôi’ nghe b́nh thường nhưng trong cái b́nh thường là tha thiết được có tự do. Cái đó chính là nỗi niềm ham sống, ham tự do của Alexander Solzhenitsyn trong tác phẩm ‘Một ngày trong đời của Ivan Denisovich’ (One Day in the Life of Ivan Denisovich) mà con người muốn thoát ly ra khỏi bốn bức tường của túp lều lư tưởng; nhưng rồi chỉ có hạnh phúc tôi là duy nhất. Thành ra gọi tếtđầu, đầu năm, có lẽ; suy tư quá nặng mà đưa tới cái đầu bị ‘tai biến mạch máu năo’. Cụm từ này phát sinh sau 1975 mà giờ đây được coi như từ ngữ bệnh lư dành cho y khoa điều nghiên chữa trị. Chớ trước đây mấy khi mà nghe cái từ cách miệng như thế. Trở lại từ ngữ ‘vô-niệm’ là khi nhập định chính là lúc chúng ta quên đi chính ḿnh, quên đi thời gian đang vận hành, quên tất cả để niệm cho ra lẽ đạohành, dẫu trong trầm tư là cái sự vô thỉ, vô chung nghĩa là chẳng có chi; dù giữa phố thị đông người có thể trầm tư bên tách cà phê, hay coi đó là bản chất tự nhiên, nhưng; nh́n chung đều là thứ trầm mặc. Tết trầm tư là dáng điệu của kẻ đa t́nh, tết hồn nhiên là tết trẻ thơ. Tết già là tết lắng đọng tâm tư để thấy ḿnh sống trọn nghĩa nhân sinh và nh́n quảng đường trước mặt như chặn đường đă xong từ khi có tết đầu, đến tết cuối…

 

Và giờ đây; trời c̣n của mùa đông, một vùng mây xám vật vờ ngoài ô cửa, khoảng cách giữa đông và xuân đâu chừng có ‘gang tay’ thế mà đời gọi là lập xuân. Ở những vùng Bắc Mỹ hoa lá cành c̣n đang ngủ, ngoại trừ mấy rặng thông già th́ bốn mùa vẫn xanh tươi nhờ thân, lá tích trữ lương thực cho nên khoẻ và ‘đông-ke’* mùa đông. Những thứ cây, cỏ khác có sống dậy chăng th́ đó chỉ là mơ thôi! Chỗ tôi ở; một sáng chủ nhật nằm trong căn gác đ́u hiu của căn pḥng nhỏ dùng nơi làm việc ‘văn chương’; nh́n hiện vật chung quanh thầm nói với sách vở như kiểu đem tâm t́nh viết lịch sử của Nguyễn Mạnh Côn, và coi đó là thú vui nhàn nhă tợ như: ‘…cụ Kép nguyện đem quảng đời xế chiều của một nhà nho để phụng sự lũ hoa thơm cỏ qúy…’ (VBMT Nguyễn Tuân). Tôi ôm chén trà nóng, trà đậm nước mà nghĩ đến người bạn phương xa gởi làm quà tết. Hương trà thơm, chạnh ḷng nhớ nước đau ḷng con quốc quốc một thuở nào. Cuốn lịch treo tường như nhắc nhở thời gian không dừng lại mà chỉ có thời gian vô tận số của sát-na là tồn lưu, cơi thời gian đó nhà Phật cho là không dứt được; một hiện hữu tại thế. Nói sát-na nhớ câu thơ của thi sĩ HXSơn: ‘con đường đi là một sát-na buồn / đời sống hôm nay đă chưng nhiều dị biệt’ (Viễn phố 1988). Vậy th́ sát-na buồn là t́nh buồn của người thi nhân chưng ra nhiều dị biệt với thời gian (?). Cho nên chi tôi thèm có một cái ǵ cho đỡ nhớ giữa lúc này đang là mùa đông, hai bên vệ đường tuyết trắng c̣n đậu lại chưa muốn đi (tan) hay chờ có ngọn Chinook-wind* mới chịu trả mùa xuân về cho thế gian đón tết…đó là luật thừa trừ của thiên nhiên. Chắc chắn ở tuổi tôi và các bạn vong niên đồng cảm cùng tôi chia sẻ cái thời gian vô tận đó để hưởng cái hạnh phúc tôi làm nền cho lư lẽ c̣n sống sót. Nói tới chuyện sống sót trên cơi đời là hiếm; v́ như thế này: -thọ ở tuổi bảy mươi là thọ, hơn một chút là quá-đát (expired) chớ làm chi có chuyện thượng thọ, đại thọ; tới tuổi tám mươi không ai gọi là đại thượng thọ mà chỉ gọi nôm na là thiên liễu cho tới vua quan sĩ tứ cũng phải bái chào. V́ chỗ đó; mà thường khi cuối năm người ta đi t́m người ‘sống sót’ và ‘rà’ xem ai trên đời được sống lâu để mừng tuổi. Nghe nói người ăn chay sống lâu hơn. Nhà nước Gia-Nă-Đại khuyến khích con-dân nên ăn rau trái thay v́ ăn thịt kể cả tôm cá (Nhật ăn cá, tàu hủ vẫn bổ khoẻ và sống lâu) th́ may ra có một sức khoẻ trường tồn. Mới đây bên nước Phù Tang mừng tuổi ông cụ sống đến 116 tuổi phá kỷ lục thọ. Những kẻ khác không đuổi nổi th́ hành lạc trước khi chết, c̣n thua hơn lợi danh là ảo . Thi hào Nguyễn Du khuyên đời nên Hành lạc (trong Thanh Hiên thi tập). Người viết: ‘Nhân sinh vô bách tải /Hành lạc đương cập kỳ’ (Không sống trăm tuổi / Gặp th́ vui hưởng’). Không hưởng rồi cũng chết !

Nói đến chuyện sống chết nói không ngạ, đời nhiều lư sự, muôn h́nh vạn trạng, lưỡi không xương nhiều đường lắt léo. Phải lắt léo mới gọi là đời. Thôi! rứa hay rứa cái đă. Tết cũng gần tới nơi rồi nhớ cụ-kị* mấy người thân và đồng bào Thừa Thiên Huế của Tết Mậu Thân chôn sấp dập ngửa đừng quá vui mà quên thắp ba cây nhang nhớ tới người xưa; biết đâu trong đám xô xuống hố có người ḿnh yêu. V́ rứa mà ở Huế ăn tết buồn hơn ăn tết vui; dẫu là: vui là vui gượng kẻo là / ai tri âm đó mặn mà với ai (Kiều). Mà thiệt; cũng v́ cái lưu luyến đó mà cứ một hai năm tôi thường có dịp về lại cảnh quê nhà và lưu đày của A. Camus coi có đúng tâm trạng trong tiểu thuyết hay không. Có hư cấu chăng phải thực mới vực được đạo bằng không coi như nói tào lao mà thôi. Và; tôi đang ‘lan man’; nghĩa là chuyện không ra chuyện của Anton Tchekhov (nhà văn Nga 1860-1904) tôi đă cố viết cho ra giả đ̣ mà không được là vậy. Không chừng đưa tới ngột ngạt hay ná thở của ‘vous coupera le souffle’. Từ cái chỗ ná thở đă làm cho người ta hiểu nhầm dân Huế đểu hay nói phét (phách tấu) hay tại v́ Huế nghèo muôn thuở cày lên sỏi đá mà mang tiếng chịu lời.

 

Ngày nay Huế không c̣n nghèo mà giàu to, cứ về Thuận An xem thành phố xă hội nghĩa điạ. Nó hoành tráng vô cùng hơn cả đền tế trời Đàn Nam Giao; một thời hoành tráng đúng chữ nhà Nguyễn. Vang bóng một thời: Huế thơ, Huế mộng một chiều lang thang bên ḍng Hương Giang. Sự đó mới là thứ lăng mạn Huế. Hoành tráng không c̣n nữa dẫu mấy mệ có sống thực đi nữa th́ nó cũng đă mất chất rồi. Có đào, bới cũng không thấy. Ngay trong nước cũng đă ‘vietnamization’ để trở thành ‘americanization’. Vậy th́ t́m lại ǵ cho những ngày tết đến. Tôi đi t́m cái ‘hoành tráng trong món ăn’.

 

Ở những nơi khác ăn uống hào phóng nhưng ở Huế ăn uống chế biến để làm sao cho vua trong nội lạ miệng mà ăn được cơm, sống khoẻ với cung phi mỹ nữ là biết điều. Thần dân cố đô th́ khi nào cũng kiệm ước bởi; thâm nhập dân cá gỗ ở Thanh Nghệ Tịnh đưa vào, nhưng; cái hay của Huế là tạo cái nét đặc thù trong món ăn. Thí dụ: Vịt lộn phải ăn rau răm lá ngắn tṛn th́ nồng cay, thơm miệng và tiết ra ‘dịch vị’ ở đầu lưỡi, ăn ngậm nghe . Lá dài ‘chơi’ cũng được nhưng trật gu-thợ-mộc, bởi; dài th́ lép, lá tra, chất nồng của rau răm không c̣n đậm, nhai chung ‘thịt’ trứng nhăo quẹt, tải ra thứ nước bọt từ những răng cấm, ăn hết ngon miệng. Thịt heo phay ba chỉ thái mỏng như lá lụa, sắp đều đặn trên dĩa sành hay dĩa đất, phải sành điệu sắp th́ mặt thịt mới thơm để ăn kèm với tôm chua. Cơm hến, bún ḅ bi chừ xả láng để cho có mà gọi; ăn mấy món đó phải ‘múc’ vô cái đoại (đọi/tô) là đúng con nhà nghề, chơ múc tô nhựa là coi như đồ ‘dzỗm’. Nói bún ḅ Huế th́ lấy mẫu mực Mụ Rớt làm thước đo: gị, móng, khoanh phải trắng da, nước lèo vàng rộm nhờ xán qua chút dầu tỏi, ruốc pha để bốc hơi mùi mắm, rau răm, tiêu hành ‘rải nhẹ’ cắt thịt ḅ phải mỏng, dính chút sợi mỡ (không mỏng, không dính vua Thành Thái sẽ chê nấu chưa tới). Nhớ cho: bún-ḅ-Huế không chơi huyết heo, không rau quế, rau húm, không bắp chuối, không pha phẩm màu đỏ chạch. Những thứ đó người ta gọi là chế ẩu. Không ra dáng Huế mà trở nên hùm-bà-lằn củ kiệu; cả nước đều thế chớ đừng nói Huế mà cho tội dân mắm ruốc.

 

Huế ngẵng lắm và nghịch ghê mà nơi khác không có là vậy. Gái Huế cũng từ chỗ đó mà ra. Huế có cái lạ đời của nó; cho tới chưởi nhau: mụ-cô-bà-mi tưởng như tấu khúc của tiếng đàn c̣ ḥa tiếng đàn tranh hợp cung du dương chi lạ. Chưởi kiểu Huế có nhiều chất liệu của nó trong cái chưởi. Nghe vui !
 

Rượu nhậu ở Huế cũng như mọi nơi tùy cơ ứng biến.Cái thời mới vô, thời bao cấp nhậu nhẹt có phần eo hẹp, nhiều lúc trốn chui. trốn giủi; sợ ‘gai con mắt’ mấy ông kẹ. Tôi nhớ những năm sau một chín bảy nhăm, ông anh tôi ngẵng lấy cục đá cuội nhúng vô nước mắm ớt, chấm mút bữa nhậu đó thành công. Anh sống ngắn, chết bệnh thiếu dinh dưỡng, đời ‘đổ hô’ cho ông là ung thư cuống họng; thật tào lao!.
 

V́ rứa mà dễ bị chọc chưởi. Ở Thừa Thiên, huyện Phú Vang, làng An Tiên nổi tiếng chưởi, nổi tiếng chống vua của nhà họ Đoàn. Đến nay ít ai nhắc đến chỉ nhắc có rượu ngon nổi tiếng cố đô Huế. Cho nên chi Huế có nhiều tên gọi nghe kỳ cục và nhiều bút danh ngộ nghĩnh đọc lên nghe chướng vô cùng.
 

Về Việt nam (Sàig̣n, Huế, Hànội) ăn uống đúng thời thượng: quán cóc, hàng gánh là tuyệt cú mèo, nếu gặp phải mưa bay lất phất là đáo phụng đ́nh hơn một chầu hát bội bà Tuần Ngả Giữa của Huế tôi ./.

VƠ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. hai nhăm tháng chạp âm 30/1/2019)
 

---------------


* Chinook-Wind: Gió ấm, từ Thái B́nh Dương thổi xuống bờ phía Đông vào mùa đông làm tan tuyết.
* Đông-ke: Don’t care= không màng tới.
* Cụ-kỵ: Tiếng điạ phương ở Huế: ngày giỗ.

TRANH VẼ: ‘Vũ nữ / Dancer’ Khổ: 16”X 20” trên giấy thùng cạt-tông (cardboard). Acrylics+ oilstick. Vcl# 12122014 .
(Xem tranh ở trang sau)










Vơcôngliêm

VŨ NỮ / DANCER




 

trang vơ công liêm

art2all.net