vơ công liêm

 

ĐÁNH THIỀN, SANG BẰNG THIỀN Và THIỀN

 

Rỗng / Emptiness ( Võ Công Liêm )

 


          Xưa nay kẻ có đạo và kẻ ngoại đạo đi t́m Thiền để thấy được tánh-không của Thiền hoặc những ǵ trải nghiệm qua Thiền. Tất cả thuộc kinh nghiệm thiện xảo về Thiền. Nhưng trái ư Thiền, bởi; Thiền là Không / Nothingness: Thiền không dựa vào, không tỏ rơ, không giáo điều. Vậy Thiền là ǵ? Đấy là câu hỏi vật lư; nó nằm trong ư thức hệ, một đối diện trực tiếp, nó chẳng có chi để lư giải (explanation) hay hóa giải (chemically) cũng chẳng phải là dung dịch ḥa tan vào sự lư để hướng tới. Muốn đến với Thiền (dù có nếm, có ngửi, có sờ mó) tất thảy chỉ là ảo hóa đối với Thiền, một thứ ngữ ngôn thóa mạ Thiền. Thiền nh́n qua thấy hiền lành, tử tế, nhưng; Thiền là ‘d́ ghẻ’ khắt khe và nhờ khắt khe đó mà thấm thấu nghĩa lư cuộc đời cho việc tu-thiềnsống-thiền bằng không th́ coi như nước đổ đầu vịt…

 

Nghe qua tợ như châm phương để đi vào Thiền hay như lời chế nhạo về Thiền: Đánh thiền / Beat Zen, Sang bằng Thiền / Square Zen mà là viễn cảnh nh́n tới Thiền (standpoint) là quan điểm thấu triệt tự nhiên: không vướng, không tục, không chao đảo mà đi tới như nhiên Thiền (Zen naturalness). Ở đây không phải phá trừ, phản biện hoặc một vài điều làm phật ḷng thiền, nhưng; đây là vấn đề có tính chất cường điệu, một thái độ chống trả, là nhập vào như thái độ dứt khoát, mở lối để cho ta tự t́m thấy ở chính ta. Nhớ lại lời triết gia Ai Cập Plotinus (205-270 AD) nói: ‘Một cái nhất cánh đơn độc để đi tới cái Độc thể (ở ḿnh) / A flight of the alone to the Alone’. Vậy th́; đánh nó, sang bằng nó và vào Thiền.
 

Cơ bản chính là cảm thức ở vị trí của những ǵ tập truyền về Thiền Phật giáo (Zen Buddhist). Nói một cách chính xác Thiền không có ‘sư phụ’ bởi Thiền không lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền –Strictly speaking; there are no Zen ‘master’, because Zen has nothing to teach. Mà có là quá tŕnh của trải nghiệm về Thiền, chối từ hay tự nhận là môn đệ, không những dựa trên thử thách ḷng chân thật, nhưng; tư cách Thiền nói lên sự ḥa giải vô tư, mà là kinh nghiệm thức tỉnh (satori) cái không t́m thấy ở chỗ t́m kiếm –but; to give fair warning that the experience of awakening is not to be found by seeking.Và; Thiền không những chỉ dành cho những trường hợp bất khả tư nghị mà nó chỉ thu lượm được ở kiến thức hoặc trau dồi, tu luyện tâm và trí; đó là phép tu-thiền, một phép tu tối thượng thừa của Thiền Phật giáo. Nhưng; kẻ đến với Thiền thường khăng khăng, cứng đầu từ chối cho đó là ‘Không/No’ mỗi khi trả lời. Thực hiện cái sự vô bổ là chỉ nói tới kẻ đi t́m cái đang t́m sẽ là không bao giờ t́m thấy –Realizing the uselessness of just telling the seeker that seeking will not find; đối với Thiền hỏi và trả lời qua phép đột khẩu của công-án (koan) là tác động kích thích, nỗ lực để t́m kiếm cho tới khi khám phá với nhận thức sâu xa ở sở nguyện của ḿnh. Nhớ cho; Thiền không chỉ nói bằng lời (verbally) mà giác ngộ, ngộ xuyên qua từ xương tủy để nuôi dưỡng thân tâm. Công-án là đánh thức từ chỗ hỏa mù tới ánh sáng (enlightenment); biết ở chính ḿnh là biết được tất cả, bởi không lâu khi ‘nhập thiền’ là tự ḿnh tách ra khỏi ḿnh từ vũ trụ quan nơi ta đang lao đầu vào để t́m kiếm. Lư như vậy nghe qua có phần mâu thuẫn, bởi trong mâu thuẫn có cái lư mâu thuẫn của nó; ấy là Thiền đốn ngộ.

 

Đem Thiền vào triết học để luận là sai lầm lớn lao; Thiền không tham dự mà ư thức; v́ rằng càng lư sự với thiền là đi xa thiền không ḥa nhập vào cốt tủy của Thiền. Thiền là ‘d́ ghẻ’ giữa cái cảnh mất mẹ, người thay thế đă đưa ḿnh vào đời đúng nghĩa nhân sinh; ấy là Thiền. Quan trọng của Thiền Phật giáo là ǵ? Hỏi cái này hơi thắt họng và tréo cẳng ngỗng. Thiền không đo cưa mà nhận thức tinh anh để đạt tới. Thí dụ: Sư đánh rấm nghe rơ. Thiền sinh hoảng, thốt như quở. Sư cúi đầu đi vào ‘miền lặng’ mỉm cười; thiền sinh ngửi được thiền và ngộ. Cả hai đi thẳng vào thực tính của Thiền. Sự đó Thiền gọi là đắc nhân tâm, bởi; thiền chuộng lặng hơn động. Gió động? cây phiến động? Không! mà ta động. Cho nên chi Phật gọi là ‘Upaya’ là thiện xảo (skillful means) đó là phép tu-thiền hợp lẽ đạo. Nghĩa là Thiền không hùa theo gió mà đứng trước gió là chính nghĩa qua phép tu học.Tuy nhiên; tiến tŕnh của chối bỏ và chống lại vấn đề thời tất nó đi tới h́nh thức gia tăng nhầm lẫn, đố kỵ, nghi ngờ giữa hai đối tượng đang đứng trước cổng Thiền. Nơi nhận thức được chân lư tánh không của Thiền (qua tâm năo), là phân biệt được qua phép nhị-nguyên trước vũ trụ để thấy được ở chính ḿnh. Tất thảy đều là hư ảo, là h́nh ảnh tham vọng, là háo danh. Thiền khai trừ những ǵ thuộc ngă thức. Thiền phản đối thế giới hư ảo, kể cả hiện hữu của con người. Là v́; Thiền cho thế giới hư ảo là giả hợp của con người; không thực-tính. Thiền tiêu diệt phiền năo, bởi; vướng là đục, thời tất không thể ngộ thiền mà trong tu tập về thiền là tuân thủ theo hệ phái của Thiền Phật giáo; một h́nh thức giả định cho là đúng của tập truyền tôn tri (hierarchy). Nói là không có môn đệ (disciples), không có trừng phạt nhưng lại có tôn tri. Phi lư của Thiền đ̣i hỏi nhận thức hơn là nhận biết; có một vài điều gây ra bất lợi là bù vào bởi những dữ kiện khác biệt, sự đó tuồng như hết sức hoàn toàn tự nhiên –And; some of its disadvantages are offset by the fact that it seems perfectly natural. Không có chi là xa lạ hoặc cho là đặc biệt. Nó chỉ để lại một sự trống-rỗng ngay cả tu tập về Thiền. Đừng đoái hoài ở Thiền mà đánh vào để tự thức ở Thiền, sang bằng Thiền để không c̣n lụy vào Thiền là đi tới với Thiền ngộ.
 

Có thể coi đây là một sự lư giản đơn để trở nên nhiều cơ cấu tổ chức cho giáo phái chuộng tới tinh thần, những ǵ nghịch lư của những người rỡm đời, khinh mạn của bậc thức giả, gợi ra một cái ǵ rất là ‘bí truyền / very esoteric’ của những ǵ tin vào Phật giáo. Phật hoàn toàn không có bí truyền nhưng con người ngộ nhận giữa bí truyền và như nhiên trong Thiền; làm lệch cái siêu lư tánh-không của Thiền.


Hăy để Thiền ngâm ḿnh trong tư thế của ‘tịnh / meditation’ thời may ra chúng ta thu tóm được những ǵ tốt hơn trong việc tu học Thiền. Đó là cái đích chạm tới Thiền; không c̣n nghi ngờ mà vượt ra khỏi những ǵ vốn đă tàn tích để đi đến cơi ngoài của Thiền, là cơi-không của con người thoát tục.


Mục đích của Thiền đă đi qua những tinh cầu khác lạ để nhận thức đúng đắn của con người nhập cuộc giữa đời; vừa thức tỉnh, vừa hóa trị cả hồn lẫn xác đă tinh lọc không c̣n vẩn đục, bởi; tu thiền hay thực hành thiền là đánh vào Thiền để không nh́n thiền là khách thể mà nh́n thiền là chủ thể thực tại và không coi thiền là phương tiện để đạt tới mục đích khác hay biến thiền như một trào lưu đương đại. Đánh vào đó để đi tới nhất thể của Thiền; dứt khoát là điều kiện tối hậu của Thiền. Sang bằng Thiền để có một khởi đầu đúng nghĩa, xóa đi những ǵ không phải là thiền, sang bằng những ǵ ‘thị phi’ về thiền; lấy thiền làm tọa độ như định lệ để tu tập là sai đường lối chủ trương về Thiền. Bước vào cổng Thiền là sang bằng mọi thứ, kể cả dị biệt để khởi sự một thân tâm trong bóng, không một mảy may vọng động. Vào Thiền, nhập Thiền là xuất gia để đi vào tuyệt đối của tánh-không. Đấy là thiền-tính để tu tập.
 

Nói cho ngay; đây là một sự khó cho người mới bước vào cổng Thiền, xa lạ khi người Phương Tây nếm vị Thiền. Nghĩa là họ chưa định nghĩa rốt ráo tinh thần và bản chất của Thiền. Người ta nh́n Thiền như con thú với sắc da đặc biệt lạ mắt, thích thú chiêm ngưỡng như sở dục. Trong khi đó người Phương Đông nh́n Thiền như cứu cánh để giải thoát. Người Nhật đă thấm thấu ư nghĩa siêu việt là hoàn toàn dựa trên cơ bản Thiền Trung Hoa. Dù rằng chữ ‘Thiền / Zen’ sinh ra từ Nhật ngữ, dù rằng Thiền là nơi chốn của Nhật –For though the word ‘Zen’ is Japanese and though Japan is now is home.Thiền Phật giáo sáng lập từ đời nhà Lương (T’ang 618-907 AD) dưới triều đại Vũ Đế của Trung Hoa. Thiền-đạo là thể thức như đạo-Lăo là cả một quá tŕnh chiêm nghiệm giữa đạo và đời qua những tk. trước; v́ vậy mới có câu: ‘Sự đó đă biện minh ở chính nó chớ không kiên định để tin theo /Those who justify themselves do not convince’. Hành tŕnh của Thiền như có một sự thúc đẩy để thành h́nh hoặc chứng minh lẽ phải đúng đắn; sự cố đó luôn luôn đu đưa trong cảm thức của người Trung Hoa về sự phi lư cuộc đời từ khi xuất hiện Khổng tử và Lăo tử. Tuy nhiên; trên b́nh diện triết học lại có cách nh́n khác: -chúng chỉ là một thẩm định bất biến đến từ con người- Nó trở nên tư tưởng độc hữu mà người ta có thể cho đó là tường thành ngăn chận mọi hành động đến từ trong hay ngoài hoặc duy tŕ một chiều (come off it), bởi; người Trung Hoa bảo thủ cái riêng ḿnh cho nên họ nh́n Khổng tử là một đối tượng chủ thể thuộc đạo đức luân lư là Đạo lớn (great Taoist) trội hơn cả Lăo Tử (Lao-tzu) và Trang tử (Chuang-tzu) cả hai đă tách ra trước và sau mà không đi vào nhất thể. Giữa những tư duy của hiền triết họ đă thánh hóa như đấng cứu chuộc (sacrifice) đă ảnh hưởng đôi phần quan điểm của những giáo phái khác. Thiền Phật giáo khởi từ Trung Hoa được gọi là Thiền Trung Hoa (Chinese Zen) đă nh́n sự giác ngộ của Phật hay là Người Thức tỉnh (Awakened-man) là con người b́nh thường và không có chi đặc biệt cả / ordinary and nothing special. Hơn thế nữa; trong Thiền từ ngữ ‘satori’ là nói lên sự tỉnh ngộ đưa tới cái nguyên thủy bất khả phân ly (original inseparability) với vũ trụ quan, thế nhưng; trong Thiền luôn tránh né, luôn luôn đứng trong thế thủ. Có phải đó là cái thế sợ giáp mặt với đời? Thiền không sợ, nhưng; sợ phạm ‘thánh ư’ Thiền. Cho nên chi đi vào với Thiền mới nhận ra mâu thuẫn của Thiền. Thấy được, nhận được, phá được, sang bằng được thời gọi đó là thiền-đốn-ngộ.

 

Thiền dồn lực để tạo cho ḿnh một siêu lư cho Thiền. Bồ Đề Đạt Ma, Huệ Khả và những đời Phật về sau chối bỏ tất cả ngay cả bản thân ḿnh. Thuở xa xưa những thiền sư Nhật Bản trọng tuổi giam ḿnh trong huyệt mộ để nghe tiếng mơ, không c̣n nghe tức viên tịch. Thành ra rốt ráo của Thiền là t́m thấy cái trống rỗng tṛn đầy giữa sống và chết. Phật giáo không từ nan, ở đó nó có một tương thức không hạn hữu mà trong đó là cuộc đời con người, có thể cải thiện được bởi nghệ thuật và khoa học, suy luận và ước ao tốt. Đấy chỉ là phương tiện để đạt mục đích chớ đứng trên lập trường nhất thể: -Thiền là vũ trụ trống không vô tận. Thế nhưng; được chú ư tới đây là tầm ảnh hưởng hoạt động tích cực quan trọng, nhưng; dẫu sao đi nữa những phụ thuộc không c̣n hạn hữu để phân biệt từ tầm ảnh hưởng này đến ảnh hưởng khác mà hiện diện của Thiền là minh định cụ thể những ǵ là coi như chúng ta là, luôn hiện hữu bên ta và luôn sẽ là –To the comparatively limitless sphere in which things are as they are, always have been and always will be… Mặt khác; đây là phạm vi hạn hữu thuộc vũ trụ to lớn mà đôi khi làm cho cơ thể run rẫy, kinh hoàng, và; đây cũng là phạm trù của con người đối diện từng ngày, giờ, phút, giây trong cuộc đời đang sống; chúng ta gọi nó là hiện hữu tồn lưu (existential) để nhập vào một hiện hữu sống thực, nghĩa là không vướng, không tục là dấn thân vào cơi ngoài (beyond) của đúng và sai là t́m thấy chân lư của Thiền.

 

Thiền tuyệt đối phá trừ ‘cái tôi / ngă’ trong ngă không đơn thuần là ta mà có nhiều cái tôi trong đó, một cái tôi cạn cợt, giả tạo (superficial ego) không chừng đem lại cái ngă mạn hay ngă vị. Thiền cho hai cái tôi nêu ra là thủy tử, con đường đi tới ‘diệt vong’ cả xác lẫn hồn. Đây không phải là thuyết định mệnh hoặc là vận số. Ở mực độ này; đời người là bờ vực của nghiệp chướng, phiền năo –At this level; human life is beyond anxiety, bởi nó không thể cho đó là nhầm lẫn. Thiền cho đó là nghiệp quả tự nhiên. Thiền không chống, không ḥa giải. Vô tư của Thiền là nhận thức để đạt tới nhân tâm. Sao gọi là vô tư thiền? -Thiền không nhấn mạnh vào tụ điểm của viễn cảnh cho mọi thứ mà mọi thứ chẳng là ǵ / ought để đón nhận, nó chẳng phải giáo lư để thuyết giảng; mà coi nó là quan niệm tư tưởng mà thôi. Nếu như không hiểu chi mô răng rứa, không hiểu một mảy may th́ là v́ cái tôi trở nên ù ĺ như ‘Nó/It’, là không có ‘giới tính / sex’ hoặc có giới tính của súc vật. Từ chỗ đó; một đôi khi nh́n Thiền thuộc dạng siêu h́nh v́ có đó mà không có đó, hữu h́nh mà vô h́nh. V́ vậy; Thiền đ̣i hỏi quán triệt để bước lần vào thinh-không / nothingness; ấy là Thiền vậy.
 

Thiền giải phóng toàn diện thuộc về trí có từ những qui ước tư tưởng, và; ở đây có một vài lời bày tỏ hoặc thốt ra những tiếng nói khác lạ. Có thể do từ phản kháng nội tại để chống những qui ước tư tưởng hoặc du nhập từ những luồng tư tưởng ngoại biên. Yếu tính qui ước tư tưởng được tóm lược những ǵ xáo trộn về ư niệm, về vũ trụ như nhiên, ngay cả giá trị của ngữ ngôn và biểu tượng trong lối đối ngẫu. V́ lẽ; thế giới Đạo (Taoism) và Thiền (Zen) thấy như là tương quan trong lănh vực bất phân ly hoặc tiếp nối không dứt. Nó cô đọng trong tư duy của Lục tổ Huệ Năng qua ư nghĩa : ‘Nền tảng không phải là thứ hiện hữu tồn lưu / Fundamentally not one thing exists’, bởi v́ Lục tổ thực hiện những ǵ là thuật ngữ chớ không phải là thực thể (entity). Hiện hữu nằm trong thế giới mơ hồ trừu tượng của tư tưởng, nhưng; nó không phải là chứng cứ cụ thể thế giới như nhiên. Huệ Năng chỉ đúc kết qua câu nói để đời đă lư giải trọn vẹn thế nào là thực tướng, thế nào qui ước tư tưởng, là một minh định qua ư nghĩa cuộc đời. Thiền sống để nhận thấy: ‘Ư nghĩa cuộc đời là nhận thấy / The meaning of life is to see’ (Hui Neng 638-713).
 

Vậy th́ bản thể tuyệt đối của Thiền là ǵ? Câu hỏi này đă trở nên lập ngôn; đưa Thiền vào cái vô h́nh chung của cái gọi là vô-tâm (non-mental hay non-esperit). Đáng ra không trả lời câu hỏi này. Là v́; trả lời là đi vào cái sự Thiền-ngu chưa hiểu chi về thiền th́ không nên sống với thiền. Ngay cả ‘đốn’ và ‘tiệm’ tức không thấy ḿnh giữa thế gian này. Trả lời tức là chưa biết cái tâm đại bi, tâm vô lượng của Thiền, bởi; ngoài vô tâm th́ đâu có thấy, nghe, nhớ và nhận biết. Lư cao siêu của Thiền là không có lời (tợ như xem phim câm) mà lặng để suy mà lấy tâm là thực chất của tuyệt đối; người ta có thể gọi là Pháp-Thân (Dharmakaya). Đấy là bản thể tuyệt đối của Thiền, là đặc chất giản đơn của Thiền. Do đó hỏi và trả lời đối với Thiền là nghịch lư, Thiền đ̣i hỏi nhận thức tức thị không là lấy tâm để trả lời. Công-án đưa ta tới ngộ; đấy là đường lối của cuộc đời / the Way of Life là nhận thấy; chớ không đi t́m để thấy.


Tâm trạng ‘đánh thiền’ nghĩ ra như nó có tính chất bao quát và mập mờ hơn cả thời kỳ ‘hippie’ ở thập niên 1960 có nghĩa là đ̣i hỏi đổi mới tư duy, một phản kháng nội tại mà không t́m kiếm sự thay đổi qui luật của hiện hữu –a revolt which does not seek to change the existing order. Nhưng; quay lại một cách giản đơn là t́m thấy một cuộc đời có ư nghĩa trong kinh nghiệm thiện xảo của Thiền hơn là chủ thể cho sự viên măn. Đối nghịch với ‘sang bằng’ là một tâm trạng hướng tới của những ǵ gọi là lừa lẫm bởi qui ước xă hội, không c̣n ư thức của sự tương quan phải, trái cho mỗi hiện hữu khác nhau. Đánh Thiền, sang bằng Thiền là một hiện tượng rắc rối; nó sắp xếp, phân chia từ cách xử sự với Thiền như một sự phân bua hay biện minh cho cái lư đương nhiên, tợ như thay h́nh đổi dạng trong nghệ thuật, văn chương kể cả thi ca để có một năng lực của siêu thoát thuộc về chiều sâu của vũ trụ, thực sự nó có một h́nh thức tự chế, tự kiểm qua lối pḥng thủ, đó là cách nh́n khách quan, một phong cách của người tu thiền ngày nay. Thực chất của Thiền là hàm chứa, ám chỉ chớ không tham dự để chạm vào ngă. Bởi; thực ḷng Thiền là vượt ra xa những qui ước xă hội và những giá trị bên ngoài. Thiền biến ḿnh trong dạng thức độc lập cô đơn là đối kháng giữa phải và trái, giữa khách thể và tha thể là đương đầu giữa vũ trụ như nhiên và vũ trụ con người. Thế giới đă thấy được là cơi xa của phải trái trong khi nó không dự phần vào và cũng không nh́n tới bản thể ḿnh mà nh́n vào đối tượng hữu thể -không c̣n sự gần gũi phần c̣n lại của vũ trụ -out of relation to the rest of the universe. Hướng nh́n của Thiền là tĩnh lặng, một sự yêu chuộng mặc khải từ trong ra ngoài; đó là phong cách của người Nhật, một kiểu thức sống trầm mặc theo lối ‘bonseki’ (cây, đá, cát) là một tập hợp trầm lặng để chiếu vào hồn, cái sự đó gọi là ‘objet trouvé’ (mất đi t́m thấy lại) là hương chất thanh nhă dành cho thiền và cũng là bước đầu khởi nghiệp với Thiền.
 

Giờ đây đặt dưới cơ sở tu tập để chống lại cái sự vô luân của việc ‘đánh Thiền’, cái việc ‘sang bằng’ của những người tu thiền (Zennists) một cách nghiêm khắc. V́ rằng; sang bằng Thiền đă thiết lập ở ḍng Thiền Nhật Bản một cách sáng tỏ, xác định nó như một tập truyền tôn tri như luật tắc cứng nhắc và một giảo nghiệm của giác ngộ. –For square Zen is the Zen of established tradition in Japan with its clearly define hierarchy, its rigid discipline and its specific tests of ‘satori’. Nó c̣n một ư nghĩa khác là vô tận số (sát-na) hơn cả h́nh ảnh, tế nhị, sâu sắc và thiết thực, nhưng; nó vẫn coi là sang bằng, là xóa bỏ tàn tích ‘nô lệ tinh thần’, bởi; nó truy tầm cho một tinh thần đúng đắn và hợp lẽ thế nhân qua kinh nghiệm thiện xảo để đạt tới giác ngộ / satori là một chứng thực có ‘văn bản’ của đạo Thiền.
 

Thực quả; điều này là bất khả tư nghị cho việc đánh Thiền và sang bằng Thiền, có thể là bổ sung và có thể là trở ngại để chống lại những sai lầm khác? Không! nó là điều làm cho ta kinh ngạc, sửng sốt trong cái tinh anh của chất Thiền. Nó hiện ra ở đây một sự bừng sáng của xác và hồn, có từ những t́nh cảnh rắc rối, phức tạp giữa đời đang sống. Rốt ráo của Thiền là trầm ḿnh trong tâm-như tĩnh lặng ./.

VƠ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. cuối tháng 5/2018).

ĐỌC THÊM: -Bồ Đề Đạt Ma Thiền tổ đầu tiên / -D.T. Suzuki với Vô thức trong Thiền Phật giáo / -Thể tính Thiền (I) /- Thể tính Thiền (II) /-Thiền trong Thi ca / -Thiền Nhật Bản / -Thiền thơ hay thơ Thiền / -Đạo Phật / -Ung thư Thiền. Những bài đọc của vơcôngliêm hiện có trên báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đ/c đă ghi.



 

trang vơ công liêm

art2all.net