vơ công liêm

 

SIGMUND FREUD

SIÊU TÍNH TÂM LƯ HỌC

 

                                                                      

        Là những luận cứ trong tập: ’Tổng Thể về Lư Thuyết Tâm Lư Học’ (General Psychological Theory) hay c̣n gọi là siêu tính tâm lư học  (metapsychology) của Sigmund Freud*. Bao gồm 15 bài tiểu luận , khởi từ năm 1911 đến 1938. Được coi là những lời hùng biện vững chăi và được bàn căi rộng răi nhất từ trước cho đến nay; một triết thuyết phơi bày toàn bộ góc cạnh sâu thẳm thuộc tâm lư của con người. Ông nổi tiếng nhờ vào những khám phá mới về trí tuệ vô thức (unconscious mind) của những năm đầu thế kỷ XX , một cuộc cách mạng tư tưởng về học thuyết tâm sinh lư; làm thay đổi tư duy của con người, mở ra một cuộc đối thoại về những qui cách cũng như phương hướng khoa học thực nghiệm của tâm thức, kể cả cảm xúc và hành động. Từ những luận thuyết đó Freud cho chúng ta một cái nh́n trong suốt vốn tắt nghẽn từ bấy lâu nay, một giải thích cụ thể, thế nào là thần kinh học (neurology) và tâm lư học (psychology) hai dữ kiện nầy ảnh hưởng phần nào vào những tác động của chúng ta, ngay cả sự vận hành tiêu biểu như bản năng tính dục, ḷng tự ái, lời than oán, trầm cảm, mộng mơ, cuồng bạo và ưu tư là chứng cớ đem lại một tâm thần bất ổn của con người. Luận cứ nầy chứng minh được phần nào những ǵ mà Freud không ngại thám hiểm vào khu vực vô thức thuộc về ư thức con người, đó là một chuẩn bị đầy đủ để lănh hội và phơi bày niềm bí ẩn thâm sâu đó. Chính cái khám phá của Freud đă đem lại những cuộc tranh luận ở vào thời  ấy; qua những lời lẽ của ông, có thể cho chúng ta một nhận thức sâu rộng với một một lập trường rơ ràng, đường lối cụ thể về khoa tâm sinh lư học của ông.

 

Siêu Tính Tâm Lư Học và Tổng Thể về Lư Thuyết Tâm Sinh Lư Học có thể hiểu như một chu kỳ chuyển hóa và đáp ứng được yêu cầu. Cái gọi là ’siêu tính tâm lư’  có thể đưa tới một đường hướng sai biệt; Freud không bao giờ đi xa hơn khoa tâm lư, một khả năng nói lên định tính của ’siêu lư’ (meta), một tác động biến hóa (metabolism) trong tâm linh cơ thể, ngụ ư cho rằng điều ấy là chuyện b́nh thường trong con người. Ngược lại; siêu tính tâm lư học là một phương hướng chính xác và thông thường, bởi điều đó như cho phép ông đi sâu hơn những ǵ thuộc về khoa tâm học, về những ǵ thuộc đối tượng của khoa học. Những ǵ có tính cách siêu tính tâm lư là mực độ được phân tích và cung ứng bởi Freud.

Lối viết của Freud là lối viết chỉnh đốn, một lối viết có tính cách hàn lâm (academically) gọn gàng, súc tích, một lối sắp đặt dể hiểu trong những bài tiểu luận của ông. Một phần ảnh hưởng vào việc sao chép sự vật để làm sao cả hai trở nên cần thiết và thông thường. Đó là nổ lực lớn lao mà Freud dồn hết tâm lực vào quan niệm của siêu tính tâm lư học. Lư thuyết của Freud được để ư đến như thấu triệt đường lối khoa học xă hội mà đă một lần nói đến, ít nhất; được sắp xếp nguyên trạng của khoa học xă hội; điều nầy có thể t́m thấy một số cơ bản hợp lư.

-         Phương Cách Tương Quan/ Analogical Method :

Đối với Freud những phương cách nêu ra dưới dạng thức khoa học thực nghiệm không c̣n ǵ là mới mẻ cả; một thứ khoa học thời xa xưa được xem là nền móng của học thuyết hay chính trị học (không nói đến thơ), là những ǵ lệ thuộc vào đường lối của phương cách khoa học. Freud nhấn mạnh: “Chúng ta phải nh́n vào những tương quan nầy” (We must look around for analogies). Ở đây không phải là chuyện giản đơn để có hiệu năng về một liên đới cho việc làm thích hợp, để rồi tạo  sự lănh hội một cách dễ dàng như thế, nhưng cái tương quan đó là phương cách tự nhiên, không phải là chuỗi tôi luyện (untrained) đ̣i hỏi để nhận biết và mỗi khi chuyển hóa bởi một ư thức mới, chứa đựng một cách hài ḥa trong một trạng thái khoa học để nhắm đến nhận thức. Chính cái sự hài ḥa nầy là con đường mở rộng cho một phương cách mới. Sự cớ đó như có lần Nietzsche nói đến; điều nầy coi như một chiếm cứ và ngay cả h́nh thức cổ lỗ sĩ của Freud là cốt xây dựng một nền móng cơ bản của khoa học , nhờ vào cái xưa cổ của Freud mà làm sáng tỏ tư tưởng của ông phần nào.

Đây là một sự ḥa nhập có tính cách uyên bác và hầu như dễ dàng để chuyển tiếp một phương cách có tính khoa học của Freud như một hoạch định, một lư luận hợp lư cho một nhận thức và đem lại cho Freud  một chuyển động mới, một phong trào tiên khởi trong lănh vực xa xôi hơn: Phạm trù khoa học, lịch sử, nghệ thuật tạo h́nh (plastic arts), khoa thần thoại, khoa luật học và tất cả mọi thứ khác đều nằm trong qui tŕnh đưa tới một chuyễn động của khoa phân tâm học (psychoanalytic movement). Đó là trọng điểm mà Freud muốn nói tới.

Người ta b́nh phẩm Freud một cách nghiêm trọng, thường phê nhận vào phương cách tương quan. Cái thứ b́nh phẩm đó như là lề thói, cảnh báo của những nhà khoa học xă hội (social scientists). Tuy nhiên điều ấy vẫn c̣n là một phương cách, là một tương quan. Việc nầy là điều khó khăn để ngăn ngừa và đó cũng chẳng phải là khó cho việc b́nh phẩm hợp lư. Nói cho ngay v́ quá thận trọng lư luận cái dạng thức siêu thể đó mà Freud đă làm mất đi tính trung thực qua ngôn từ ông xử dụng, đôi khi đưa tới bế tắt; khó mà lănh hội đâu là tâm lư và đâu là sinh vật lư; dù Freud lư giải một cách cụ thể về quan niệm của ḿnh ngay cả việc b́nh giải có tính cách khoa học xă hội, v́ thế tác hại phần nào trong học thuyết tương đối của ông.

Phương thức tương quan của Freud bắt đầu với một bản ngă cố hữu như thử  đây là việc đầu tiên xuất phát ngọn nguồn chất liệu của h́nh ảnh (stock of images). Ở đây không phải nói lên cá tính độc đáo, Freud đă khám phá để đi vào vũ trụ của sáng tạo. Thật vậy, ‘trắc nghiệm về khoa học phải là đầy đủ cho một phạm trù nào đó, nếu chúng ta kiềm chế được giới hạn một cách chính xác rơ ràng, để chứng tỏ được rằng cái thế giới mà ta đang dung thông trong một ảnh hưởng phải đạt tới với một kết quả nhất trí và toàn diện, đặc biệt về vai tṛ hoạt động giữa bản ngă và tự tại’. Trí tuệ là ưu tiên hàng đầu đưa tới hiện thực, một khám phá thông thường cho vấn đề chủ lực của khoa học, cái đó cũng nằm trong khoa tâm lư học. Nhận thức đó có thể do từ nguyên nhân sâu xa, bởi nó: ‘một thiết bị tâm thần của chúng ta…mà tự nó cấu tạo nên một phần thế giới, một vũ trụ quan để chúng ta đi tới sự thẩm tra’.

Understanding was possible because: “our mental apparatus…itself is a constituent part of that world which we are to investigate”.

Tự nó cách ly với chúng ta, không c̣n là kẻ xa lạ (alien) ở ngoại giới xâm nhập vào một thế giới như-nhiên (nature-world) mà chúng ta đang sống, một ư thức hiện hữu không những chỉ dành riêng cho đối tượng tha thể nhưng là đối tượng chủ thể của như-nhiên trong vô số đối tượng như-nhiên khác.

Freud tạo dựng một nhịp cầu xưa cũ để vượt qua lằn biên của hố thẳm giữa suy tư chủ thể và thế giới thuộc về tha thể; người ta cho rằng cái nh́n đó gần giống giả thuyết của Schopenhauer về cái gọi là ‘tương quan’ của mọi sự kiện hiện hữu. Schopenhauer t́m thấy được thể chất của thuyết tương quan vũ trụ để đi tới thể chất của tâm linh (the essence of the psyche). Cứu-cánh-luận chính là từ tính hút những điểm nhọn c̣n lại của con đường tối tăm mù mịt; đó là tiến tŕnh đem lại một nguyên-sinh-chất có tính cách quyết đoán hơn là dự đoán, đó là bước đầu phôi thai cho mầm mống tư duy thuộc hệ phái tâm sinh lư của Freud. Cái sự cớ đó bao hàm toàn thể tính chất của con người, ngủ và mơ, vô thức và hữu thức, một vũ trụ nguyên vẹn mà tất thảy đều là sự mong muốn. Điều ấy hết sức đơn giản; bởi Freud t́m thấy được cái Mong-Muốn/Will của Schopenhauer, sắp đặt một cách chính danh, một phổ quát khắp nơi, nhưng trước mắt tất thảy mọi thứ đều nằm trong ngăn kéo của vô thức. Tất cả cuộc đời chúng ta đang sống được xuất phát từ những hoán chuyển phức tạp, từ những hợp chất và không hợp chất (bất chấp), từ bản năng tương phản là những điều xẩy ra từ trí tuệ. Bởi một phương thức tương quan; Freud được thừa nhận chức năng một cách hẳn hoi về cái điều được gọi là :’thiết bị tâm thần/ mental apparatus’ để nhận biết vai tṛ của đối thể tùy thuộc vào những ǵ đă t́m thấy tự-nó (in itself). Vấn đề đặc ra ở đây  là nói lên nguyên lư đă t́m thấy. Những người theo chủ thuyết duy lư t́m ra được nguồn cơn của ‘trí tuệ sáng suốt’, một cuộc tranh luận hợp lư bởi một tương quan hợp lư; đó là tư duy hiện hữu dành cho lănh vực nhận thức. Freud  chỉ t́m thấy được niềm hy vọng xuất xứ từ trí tuệ, từ nhận thức, không miêu tả sự vật mà dựa vào yếu tố cần thiết và những điều cơ bản từ bản năng mà ra. Tư duy đó là nguồn tự phát hoặc một hiện tượng thứ yếu tợ như thuộc về thần kinh; một tai nạn không thể tránh khỏi sức tác hại của bản năng.

Vậy th́; từ trí tuệ nhận biết tự nó coi như đối thể của đối tượng , Freud dự phóng những điều đó như một cái ǵ tự nhiên của trí tuệ và được coi như là đối tượng chủ thể vừa là đối tượng thế giới quan; nghĩa là không phải ‘Nó Là’ nhưng mà ‘Ta Là’  là vai tṛ chủ thể. Dẫn dụ : H́nh tượng đầu tiên đứa trẻ nh́n thấy là nh́n thấy đối tượng của hiện thể và được xem như hiện hữu của riêng ḿnh. Nguồn gốc tự kỷ ‘the ego’ bao gồm tất cả mọi thứ, cuối cùng những thứ đó tách ra tự chính nó, ra khỏi cái thế giới xa xăm nầy. Với tư duy của Freud: ‘chỉ có bờ nông cạn,chật hẹp là tàn tích cố cựu’ (only a shrunken vestige) của một trí tưởng vô nhiên mà thôi.

‘Đối tượng’ của chủ thể và khách thể là phương cách được coi là  thời kỳ mến chuộng nhất đối với quần chúng. Freud chuyển từ trí tuệ đến thế giới quan, từ chủ thể đến tha thể, tất cả tập trung trong một chủ thể của tâm lư và khoa học tự nhiên.

Những lư sự đó người ta phản đối và cho rằng  tư tưởng của Freud: ‘không thích nghi cho một khoa học tự nhiên, mà nó là triết thuyết của Schopenhauer’ Freud trả lời rằng; sau tất cả những dữ kiện đó: ‘Mọi thứ đă nói lên cái sự đă rồi’ (everything had been said already). Một số người lại bảo vệ Freud cho rằng trường hợp đó không những là sự thật của Schopenhauer mà ở đây Freud không nói, không làm cái sự thật như Schopenhauer; mà: ‘khẳng định rằng cái chết chỉ là cứu cánh cho cuộc đời; chúng ta không bỏ qua sự hiện diện của cuộc đời bên cạnh của cái chết’ (assert that death is the only aim of life; we do not overlook the presence of life by the side of death) ( New Introductory Lectures on Psychoanalysis (London 1949) P.139). Freud thừa nhận hai bề mặt thuộc về cơ bản bẩm sinh, Schopenhauer chỉ thừa nhận một. Freud thận trọng về những ǵ có tính  huyền bí ‘Empedocles’, mà chỉ cần một cái ǵ hết sức thực qua kinh nghiệm của cha ông để lại ’predecessor’, không những thế, bởi v́ ông đă xuất hiện lần đầu tiên để hoàn tất phép tương song (dualist)giữa hai người hay hai sự vật, một trạng thái hiện hữu của song phương, tức nhị nguyên, như nói lên niềm tin của sự tồn lưu giữa tốt và xấu như thể cách ly thực thể tồn tại (the belief in the existenece of good and evil as separate entities). Freud chấp nhận một ‘ Empedocles’ như một ‘vũ trụ ảo tưởng/cosmic phantasy’ của t́nh yêu và t́nh ghét mà tất cả thứ đó là chủ động trong lư thuyết của Freud. Tuy nhiên;  ông suy nghĩ chín chắn  về những ǵ ông đă trải lên và những ǵ ông đă cầm giữ bởi một mẫu mực hợp thời cho một kiểu cách của vật lư học.

Trở lại vấn đề như đă nêu, ta thấy được ở Freud một cái ǵ lănh hội rơ ràng  như trường hợp ‘cái chết bản năng/death instinct’. Nhưng phải hiểu cho rằng: đoạn đường từ cái chết đến cái chết đă làm lệch đi cái hành động tích cực của sự ‘thỏa măn’ hoặc của ‘t́nh yêu’ mà đôi khi lạc hướng đi của cuộc đời. Đời đă vắng bóng hoàn toàn, một thế quân b́nh của bản năng và cuối cùng t́m ra được một cái ǵ b́nh yên trong cái chết. Song le; bản năng như một sự bổ khuyết vào những hoàn cảnh phát sinh mầm mống thay đổi bản thể, mà bản thể đó theo tinh thần của Freud là duy tŕ một lư thuyết tâm lư cũng như siêu tính tâm lư đúng đường lối chủ trương của học thuyết duy tâm mà Freud đề xướng. Người ta nh́n lư thuyết của Freud là tạo thế quân b́nh. Dẫu sao đi nữa vấn đề đời sống là một cái ǵ có tính cách bắt buộc không thể chối bỏ để rồi biến đổi tự chính nó.

-         Lư Thuyết Biến Chứng / Catastrophe Theory.

Freud coi thời kỳ biến chứng là một thời kỳ nguy hại đưa tới tai biến thảm họa nhất của tâm linh con người, cái đó xuất xứ từ căn nguyên của bản năng. Freud muốn nhấn mạnh qua hai điều trong số những biến chứng khác, có thể đây là một suy tư chân thật của ông: 1) bản chất tồn tại, một thứ bị ném ra khỏi cuộc đời của một loăng thể tồn lưu, ứ trong đất. 2) và đi tới chu kỳ băng giá, mà chu kỳ đó như thể ngăn chận cái bản năng dục vọng và đưa đường cái bản chất đó vào một ḍng chảy có văn hóa giáo dục. Cả hai biến chứng đó như nhắc nhở một thứ tâm lư chống trả sự áp đảo t́nh dục. Freud cho đó là ‘thời kỳ của tiềm tàng’ và tự nó biến thành một tiểu vũ trụ trong tâm thức.

-         Lư Thuyết về Phép Nhị Nguyên / Dualistic Theory.

Freud mong muốn phép nhị nguyên của ông xuất phát từ thời kỳ ‘Eros’ và ‘Thanatos’ là hai vị thần ái t́nh trong huyền thoại Hy Lạp tượng trưng cho xác thịt; đây là sự gặp gở và chấp nhận nhỏ nhưng không có nghĩa là đón nhận dù nó nằm trong dạng thức của khoa phân tâm học. Năm 1937 Freud như đă nghe thấy những lời khẩn thiết, nhấn mạnh vào những lời lẽ đó như những lời có tính cách vơ đoán (dogmatically) hơn là nội tại đối kháng (internal conflicts) của vũ trụ nầy. Cuộc đời là một cái ǵ bức xúc không dễ dàng đi tới chấm hết, ‘chỉ chờ  thỏa hiệp hoặc chống lại hành động của hai yếu tính là bản năng -Dục xác và cái chết- không bao giờ có một trong hai cái đó hoặc một cái lẽ loi nào khác, có thể là biến thái của màu sắc khác nhau của hiện tượng sinh tồn như đă tŕnh bày’…

Life is the irritation of an uneasy stalemate. ‘Only by the concurrent or opposing action of the two primal instincts-Eros and death-instinct, never by one or the other alone, can the motley variety of vital phenomena be explained’.(Therapy and Technique. P.26 Collier Books edition . BS 189V)

Ngay cả giấc mơ cũng không thể thực hiện theo ư muốn hay nhu cầu đ̣i hỏi. Mà đó là h́nh thức làm thỏa măn nhu cầu mong muốn một cách đơn phương, cái điều mong muốn đó không thể là sự hài ḥa một ḿnh; cái đùa cợt bỏ lại sau những ǵ là cần thiết để đi tới cái điều không cần thiết phải nói. Dạng thức trọn vẹn để mở mang bản năng t́nh dục (the libido) cũng phân định ba trạng thái khác nhau: ứng xử bằng mồm (oral), iả đái (anal) và sau cùng là xử dụng bộ sinh dục (genital).

Freud muốn cho đó là những dấu hiệu quan trọng trong hệ thống tâm sinh lư, chính cái điều đưa ra của Freud đă rơi vào sự nhầm lẫn, sai lầm trầm trọng để san bằng cuộc đời và cái chết hai mảng nầy như thể xây dựng một chủ thuyết, giáo điều  tự do cho tâm linh để tạo nên một cái ǵ không tên gọi của cái chết, ư chừng lạc thú đó tương đương với cường lực dục tính. Phần nầy cũng có đôi phần quan điểm của C. Jung. Freud coi Eros là vũ trụ dục tính. Libido là một cái ǵ đặc biệt của t́nh dục. Cho nên chi Eros là sức mạnh của cuộc đời; đó là dâm tính vũ trụ, trong khi Libido chỉ đưa tới cái cá tính, một phẩm chất riêng của con người. Eros không biến đổi giữ nguyên trạng; dục vọng, sung sướng, biến đổi. Có lẽ Freud muốn nói ‘dục tính bất tận hơn là dục vọng bất tận (eternal Eros / eternal Libido).

Nói rút lại; tâm sinh là trung tâm ḥa giải giữa tự nhiên và xă hội, cả hai bao hàm trong một qui cách được thay mặt trong cùng một cơ cấu; được tŕnh diễn cùng một vai tṛ giữa tự nhiên và xă hội đó là việc làm tự-kỷ-ám-thị của ‘ego’ tŕnh diễn một

cái gọi là quan niệm ‘id’. Cá tính đó được coi như hiện tượng nhiều đặc trưng cho mặt xă hội hơn là ‘tâm sinh’, hoà giải giữa tự nhiên và xă hội và cùng hoạt động như nhau trong một biến tŕnh của lư tính tâm lư bao gồm siêu tính tâm lư cho một tổng thể về lư thuyết tâm lư của Sigmund Freud.

 

   Ở phần trên chúng ta có nêu : Trí Tuệ Vô Thức /  Unconscious Mind.  Freud  muốn nói về cái thế giới hữu thức và vô thức. Freud vận chuyển toàn bộ ư thức nầy vào trong tâm lư học của siêu tính tâm lư để từ đó có một phân tâm học . Nghĩa nầy khác với khoa triết lư nhà trường, một thứ triết thuyết đứng riêng, một triết thuyết có tính khoa học . Freud qua niệm rằng : hữu thức và vô thức không tạo nên hành vi tâm linh hay nói rơ hơn là tâm sinh (psyche) mà cả hai trước tiên  là những sản phẩm của vô thức mà ra, chúng chỉ tác động từ thế giới bên ngoài để đi tới vật thể của hữu thức. Do đó đứng trên phương diện tâm lư học vô thức cũng là bộ phận của tâm hồn cũng như hữu thức vậy. Cho nên Freud cho ‘vô thức’ không có nghĩa là cái ’không nhận thức được’ vô thức ẩn tàng trong vị trí của tâm hồn để nhận ra được đâu là vô thức và đâu là hữu thức. Cái thế giới vô thức đó là bản chất hoàn toàn không hoạt động, nó nằm trong vị trí ‘lănh cảm’ của thụ động. Nó đại diện cho cuộc đời đă sống và đă chết nhưng nó có một tác động hiện thực của ‘xác thịt t́nh yêu và xác thịt của sự chết’. Theo Freud vô thức là cơi lặng của tâm hồn, trái lại nó là nguyên liệu của tâm hồn mà chỉ hiển lộ bề mặt nhờ được soi sáng của hữu thức. Với phương pháp mới của Freud t́m thấy được qua lư thuyết mới về khoa tâm lư học, một siêu tính tâm lư hợp cùng trong một dạng thức phân tâm để khám phá thế giới tâm linh mà xưa nay chưa một ai khai thác sự tiềm ẩn của ‘linh hồn’ ; nhờ đó tâm lư học không chuyên đề về triết thuyết mà nó trở thành một khoa tâm lư khoa học. Cái ư thức về tâm lư trước đây nằm im trong vô thức của tâm lư. Freud đă quật lên được như một khám phá khoa học tâm lư. Ở đây là một cấu trúc vĩ đại đă thành h́nh của thế giới tâm linh, một tư duy phong phú, một biểu lộ mở đường, khai mào một cuộc cách mạng tâm sinh lư học. Đại diện viên măn chủ thuyết nầy là Freud, người để lại một di sản lớn cho chúng ta hôm nay và những thế hệ mai sau. Hăy suy ngẫm lư thuyết nầy !

 

VƠ CÔNG LIÊM (ca.ab. mùa Phụcsinh 4/2012)

___________________________

*  Sigmund Freud. Sanh : 6 may 1856 tại Áo quốc. Ở một thị trấn nhỏ Moravian. Phố Freiberg. Nay thuộc Cộng Ḥa Tiệp (Czech). Sống và làm việc ở Áo, Đức, Pháp, Anh. Chết: 23 sept 1939 ở London.

Ông để lại nhiều tác phẩm qúy giá về tâm sinh lư học.

 

SÁCH ĐỌC:

-  The Basic Writings of Sigmund Freud .Trans by: Dr. A. A. Brill. The Modern Library. New York 1939/1995 USA.

-  General Psychological Theory (Papers on Metapsychology). Trans by: Philip Rieff. Touchstone Book. New York 1963/1991 USA.

 

 

 

 

art2all.net