vơ công liêm

              

HOLDERLIN (II)

NHỮNG VẦN THƠ TRỮ T̀NH Và BI KHÚC

                                                     Où suis-je? (F.H.)

    

Holderlin

 

Xưa nay người ta nghĩ Hoderlin là một triết gia chuyên nghiệp, nhưng bên cạnh cuộc đời Friedrich Holderlin(*) là một nhà thơ lớn; với những vần thơ trữ t́nh và chất chứa những ǵ bi thương trong đó (Odes and Elegies), một tư duy vượt thoát ra khỏi mọi ảnh hưởng khác nhau giữa đời đang sống như cố tạo cho ḿnh một v́ sao sáng, lạ đời, phá cách, bướng bỉnh trong thi ca. Một sức cám dỗ mănh liệt; đó là những ǵ làm cho chúng ta có một cảm giác buộc phải đặt vấn đề một cách rơ ràng: - làm sao trong một ngày mà Holderlin thực hiện một lúc vừa là thơ, vừa là triết học. Vậy th́ điều ǵ đưa đẩy nhà thơ làm nên những điều mà ít ai làm hơn hai trăm năm qua. Dữ kiện đó nói lên một cái ǵ phi thường đối với chúng ta ngày hôm nay? Trả lời rằng: - hăy đặt kinh nghiệm của Holderlin như mẫu thức hiện đại hóa của thời đó. V́ Holderlin là con người duy nhất và đầu tiên, gởi gắm trong văn thơ những ǵ thâm túy về cả t́nh và lư; đó là trải nghiệm trọn vẹn đem đến cho chúng ta một ư thức tuyệt đối ngày nay.

Trong tập thơ ’Tiếng Gọi Của Thi Nhân / The Poet’s Calling’ Holderlin viết :’Chúng ta nghĩ chúng ta có thể ôm trọn thế giới để chúng ta có thể xưng danh tất cả v́ sao trên trời, nhưng thật sự chúng ta lạc hướng đến với thánh linh’ (We think we can grasp the world, that we can name all the stars in heaven, but we have lost our way to the divine).

Tiếng nói của Holderlin là sấm động đến với chúng ta ngày hôm nay, bởi nghệ thuật thi ca của Holderlin là nền tảng được dựng nên trên một kinh nghiệm lắng đọng, nhưng chất chứa một truyền thống văn hóa mà một thời đă lăng quên. Một thứ nghệ thuật cô đơn, u trầm của một tiết điệu bi thương nhưng hùng tráng. Một xúc cảm sâu lắng đưa tới một cái ǵ mới lạ trong ngôn ngữ thi tứ (poetic language) của Holderlin đó là những ǵ tồn trữ quan trọng, trong một ngôn ngữ đa dạng của thơ. Ở giữa tuổi hai mươi Holderlin đă khám phá chính ḿnh tiếng nói riêng cho thi tứ, tiếng thơ thực sự xâm lấn hồn thơ của đại chúng vào những năm 1796/1800. Một dấu ấn khởi nghiệp ḍng tư tưởng thi ca của Holderlin và những năm sau đó cho phát hành nhiều tập thơ khác nhau, những bài thơ t́nh đẹp của ông đă lan rộng ở trời Âu dù xử dụng Đức ngữ vào thời đó.

Mùa hè 1795 có những điều bất ngờ không thuận lợi xẩy đến cho Holderlin, những cuộc t́nh bỏ dở không lư do đẩy Friedrich vào hố thẳm, những bất trắc cuộc đời đă xô Holderlin vào con đường thơ, một trào lưu thi ca lăng mạn vùng dậy trong tâm tưởng ônng, đưa ông đi từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác trong đám văn nhân, một chặn đường lịch sử đời ông. Có một ǵ độc lập và khác biệt trong Holderlin; từ đó ông gần gũi giới thức giả, ảnh hưởng một số triết gia nổi tiếng Immanuel Niethammmer, Goethe và Johann Gottfried von Herder, giao lưu thân thiện với những nhà thơ Christoph Martin Wieland và Friedrich Schiller họ đă t́m thấy ḍng tư tưởng phát khởi qua những tham luận trong hệ thống triết học của Holderlin, có thể đây là cơ duyên để Holderlin phát tiết qua thơ với lư lẽ của ông, một nguồn thơ chất chứa những ǵ là mạch sống. một điều ǵ tiềm ẩn và bi thương trong tâm hồn nhà thơ trẻ nầy, một cảm thức tài năng sẳn có trong con người Holderlin -an impressive array of talen- ông đă tiếp cận mọi hoàn cảnh, mọi tầng lớp ở mỗi con người trong xă hội. Holderlin cho đây là điều quan trọng và cần thiết giữa bộ môn triết học và thi ca. Nhờ những sáng giá đó mà về sau Schiller thấy được ở Holderlin có một cái ǵ lỗi lạc trong thi ca và trong Holderlin thấy có một cái ǵ xuất chúng trong Schiller. Thư gởi bạn ông đă thú nhận: ’Đôi khi trong tôi có một giao tranh ngấm ngầm với một thiên tài; đó là những ǵ mà tôi có thể dành được sự tự do trong tôi kể từ đó’ (I am somertimes in a secret battle with your genius that I may save my freedom from it).

Trong tác phẩm đầu tay ’Rặng Sồi/ The Oaks’ phản ảnh một đối kháng ngấm ngầm, chứa đựng một h́nh tượng siêu lư, một thước đo cuộc đời và một cú pháp truyền đạt đó là những ǵ tiết ra từ thơ, một điều ǵ khẩn trương và cấp thiết là một tổng hợp xuyên qua mọi kinh nghiệm bi thương và đau đớn trong đời của Holderlin. Ṿng tay rộng mở, một dấu trỏ chỉ vào đời: ’Ngoài khu vườn kia / Ta đến cùng em’. (Out from the garden. I’m coming to you (The Oaks) cho ta một cái nh́n hoàn toàn khác lạ trong một thể thơ hai nhịp, một âm vắn, một âm dài,(iambic) nghe âm vang của vần điệu du dương lạ kỳ; chính nhờ vào tài vận dụng ngôn ngữ như thế mà tư tưởng thi ca của Holderlin không thể từ bỏ dễ dàng như ta nghĩ. Nó có một sức lôi cuốn của thôi miên. Đó là thi ca!

Trở lại với ’Rặng Sồi’ những ḍng thơ chứa đựng một sự bi thương, đồng thời biểu lộ sự rạn nứt t́nh cảm giữa Holderlin và Schiller; như chúng ta t́m thấy những câu thơ mở đầu của thi sĩ Feiderich Holderlin, ông không để lại một dấu hiệu hay chứng tích nào trong ’vườn hoa’, nơi đây ông chỉ để lại sự tùy thuộc tuôn chảy của gịng thơ, một cái ǵ ’nghiêng về / tended by’ với một ư tứ khác lạ. ’vườn thơ / poetic garden’ là chỉ định từ như nói lên sự hiện hữu của nhà thơ, một niềm vui hân hoan, tự do (joyful and free) một cái ǵ không thuần tính tự nhiên; đó là những ǵ đẩy đưa cho ông viết lên những lời thơ trữ t́nh, một xác thực cụ thể ḍng tư tưởng của Holderlin. Trong hai câu thơ cuối ’Rặng Sồi’của Holderlin, Schiller cho đó là một mớ triết lư tự cao của ông (The philosophical-egoist).

Sau khi tan vỡ với người t́nh đồng môn (Jena) và người bạn thơ kết nghĩa anh em. Schiller buộc ḷng nói lên điều nầy trong một câu thơ không đề:

’Thương cho người bạn trẻ của tôi, rồi đây bạn sẽ cô độc, cô độc chính bạn,
Trong khi mọi tiềm năng biến đổi mà chỉ c̣n lại sự tồn lưu muôn đời?’
Poor one, will you stand there ’alone’ and alone by yourself,
When it is only by the exchange of powers that the infinite stands?

Holderlin tin tưởng ở chính ḿnh, đứng vững và xanh tươi như ‘cây sồi’ Holderlin nhận ra được những lời lẽ của F. Schiller, nhưng ông vẫn giữ lập trường của một nhà thơ, khai phá và sáng tạo đường thơ, không v́ ai mà làm băng hoại chất thơ của ḿnh. Qua kinh nghiệm về thi văn của Holderlin cho chúng ta một nhận biết rơ nét về sắc thái thi ca của ông; chúng ta khám phá t́nh yêu trong thơ của Holderlin như một gởi gắm vào đó một sự hài ḥa giữa t́nh người và t́nh thơ, một thỏa hiệp với thế giới đại đồng. Nhưng trong lời gởi gắm, đồng t́nh chính là niềm tin yêu mănh liệt, một hợp nhất, không phải hợp nhất tự chính nó, mà một biểu lộ t́nh yêu đă đánh mất. Những vần thơ của Holderlin giờ đây như mở ra một tấm ḷng nhân ái và những ǵ trắc ẩn tận đáy ḷng ông. Đọc bài thơ ‘Hoàng Hôn / Sunset’ thấy được một cái ǵ ngay thẳng, thật thà, mở rộng vấn đề không một che giấu, không thể chiếm cứ và đánh mất một cách đơn thuần như thế, những lời thơ sâu sắc, bóng bẩy và tha thiết là lời ngỏ trong sáng dưới ánh mặt trời, chuyên chở đến người đọc một cái ǵ sâu lắng của thế giới t́nh yêu mà một lần trong đời Holderlin đă đánh rơi. Chúng ta đồng t́nh với nhà thơ như có một hợp nhất Như-Nhiên, một dâng hiến với đấng toàn năng, với một hào quang dành cho t́nh yêu có khác ǵ ánh mặt trời khi mọc cho đến khi lặn. Mà chỉ c̣n lại lời bi khúc ai oán đi thẳng vào hồn người như tiếng thơ dịu dàng, những lư giải đó là mở rộng cánh cửa như biểu lộ sự vắng bóng từ mấy lâu nay. Lướt qua bài thơ ‘Hoàng Hôn’ của thi sĩ Holderlin để thấy những ǵ ông muốn nói:

Hoàng Hôn
Em ở đâu? Ta say, hồn cũng nhạt phai
Hạnh phúc là em đó; cho ta một lần
Hăy lắng nghe những lời tha thiết ấy
Con ơi, âm vang lời vàng ngọc,

Tiếng phong cầm chiều nay lướt bay cao
Thánh thót xuyên qua rừng qua núi
Nhưng chàng đă ra đi từ lâu
Ôi kinh khiếp! đời vẫn c̣n chiêm ngưỡng chàng.


Sunnet
Where are you? Drunk, my soul fades
In all your bliss; for I’ve just
Listened in as the enrapturing
Sun-boy, full of golden tones,

Played the evensong upon his heavenly lyre;
It resounded through the woods and hills.
But he has gone, far away,
To god-fearing peoples who revere him still.


T́nh yêu ở đây không được trọn vẹn nhưng đó là nguồn gốc của ḷng ước ao. Thần mặt trời đă bỏ trốn chúng ta, xa vời ngọn lửa thiên đường và thi nhân bấy giờ như kẻ không hồn, chỉ c̣n mơ về cơi chân phúc, lời ca tiếng hát chỉ c̣n vang vọng đến người xưa. Holderlin quay về với thần thánh để cứu chuộc hoài niệm đă mất, một ư niệm chất chứa ngay trong những luận văn của ông.Và; dù rơ ràng hay mơ hồ, tất thảy đă nằm trong trí tưởng của Holderlin của buổi chiều tà hoặc ở đó là hoài niệm tuổi ấu thời nơi quê mẹ, hoặc những t́nh thơ của thi sĩ Holderlin hướng về cổ Hy Lạp; tất cả dữ kiện trên là một ‘ḥa âm điền dă’ bởi một ư thức nhạy bén mà ở đó chúng ta bắt gặp trong con người của Holderlin, vừa là cá thể vừa là cộng đồng nhưng nhớ rằng tâm tư của Holderlin hoàn toàn không có sự ḥa hợp của thượng đế trong đó mà chỉ trở về với hoài niệm, có thể hoài niệm đó cho chúng ta một thừa nhận sự thiếu vắng trong hiện tại của Friedrich Holderlin. Sự trở về được nhắc nhở nhiều lần trong đề tài nầy, nhắc nhở ở đây là một phủ nhận gián tiếp, một chối bỏ ‘sự vắng mặt của thượng đế’ absence of the gods, để trở nên một sự quan tâm nồng cốt ở chính ông. Đây là một thể tài đặc biệt, có một sức chứa lớn trong bài thơ ‘Diotima’. Bài thơ nầy tác động đến Holderlin cả một thời.

Vậy th́ tưởng niệm dành cho thánh linh; đó là cảm tác của nhà thơ qua t́nh yêu của Diotima là một hiện hữu trực tiếp mà ở đây ngụ ư một h́nh ảnh của thượng đế trước đây. Một dấu vết chứa đựng niềm hy vọng của ‘những đoá hoa mong manh giữa mùa đông giá lạnh’ nhưng chỉ c̣n lại ‘trận cuồng phong khuấy động trong đêm mù’-cho chúng ta một ư nghĩa về sự tương quan với thượng đế là mong manh và không dài lâu bởi người đă bỏ rơi chúng ta. Dấu hiệu đó như thể biểu lộ cái sự mềm ḷng của chúng ta mà thôi và rồi cũng chẳng đem lại niềm tin. Về sau Nietzsche thừa nhận như Holderlin là: ‘thượng đế đă chết’. Một xác định cụ thể và hiện hữu giữa con người và thượng đế.

Cảm thức mất mát và sự thiếu vắng trong Holderlin không phải là một giản đơn đúng nghĩa dành cho nỗi bi thương đau đớn, nhưng ở đây chỉ là một phần trong hiện tượng lớn lao, đó là sự bung phá của hương thơm sắc màu (arose) xuất phát từ một năng lực trào dâng, một tâm như diệu vợi; nẫy nở giữa thiên nhiên và con người, vượt ra khỏi những ảo mộng thường t́nh, đối đầu với những lư luận và giá trị truyền thống bị suy giảm. Holderlin không thể làm ngơ mà nhận lănh những đổi thay và những kinh nghiệm như thế . Lấy thí dụ trường hợp của Hegel là một nhà triết học tăm tiếng cho đây là: chuyển nhượng của ư thức. Schiller nói đây là hoán chuyển của con người hiện hữu với thời đại, khác ǵ một ‘hạt giống cằn cỗi’ chỉ hiện ra ở đây một dấu tích yếu đuối. Với Holderlin những dữ kiện xẩy ra chỉ một phần trong đời ông, nhưng thực tế là một tái phục hồi những ǵ đă trào dâng với ḷng mong muốn cho tất thảy những ǵ mà ông đă đánh mất. Một tâm tư khác của Holderlin; chính ông cùng bạn đồng song Hegel đă trở lại con đường triết học, một trào lưu tư tưởng thay đổi cục diện nền văn hóa Âu châu thời đó; không biết đây là lúc mà Holderlin bị cám dỗ bởi triết thuyết hay bị lôi cuốn bởi t́nh thân hữu, nhưng sự cám dỗ ấy chóng qua từ khi gặp Susette Gontard ư tưởng mới đến với Holderlin, ông cho rằng triết học đă đưa ông vào thế giới trừu tượng. 1796 Holderlin t́m thấy cho chính ḿnh một ‘tân thế giới’ trong thi ca, từ đó Holderlin dâng hiến phần đời c̣n lại vào ngôn ngữ của thi tứ. Holderlin viết: ’giờ đây quan tâm chính thuộc tư duy của tôi / is now the chief concern of my thoughts’ (November 1798 thư gởi bạn Neuffer).

Thi ca; vai tṛ chính yếu đă xâm nhập hồn Holderlin, bởi: một xác định ḷng kiên tŕ [Bestimmtheit] của ư thức thức tỉnh với những ǵ ông t́m thấy trong thi ca, bởi ở đó là một giao thông tư tưởng đến với quần chúng một cách nhạy bén hơn cả, có thể đây là những ǵ nói lên được t́nh yêu, một thứ t́nh nhất thể và tổng hợp. Thi ca đối với Holderlin là ǵ? Là một thúc bách đưa tới đam mê, một ước ao được ‘trở về’ trong ư thức thức tỉnh, một cái nh́n mơ mộng của nghệ sĩ, nghĩa là không thức tỉnh trước hiện tại mà mơ về quá khứ, nghĩa là nh́n hiện tại bằng cặp mắt u trầm, hối tiếc, một trở về ‘rêver à/dreaming-day’ như chuộc lại. Cái nh́n của Holderlin là mơ trở về sau những ǵ hụt hẫng, những ǵ đă đánh mất, đó là một tâm lư dàn trải đă đi qua trong đời thi nhân. Dưới nhăn quang tâm lư th́ đây là: ‘Dans les rêveries cosmiques primitives, le monde est corps humain, regard humain, souffle humain, voix humaine’ (G. Bachelard). Một lối mơ về vũ trụ nguyên sơ, thế giới con người và cái nh́n con người, kể cả hơi thở con người và tiếng nói con người. Holderlin nằm trong hoàn cảnh đó với cái nh́n bi thương được trải dài trong những bi-khúc, bởi đó là một biểu lộ cho tất cả, nỗi niềm xót thương, lở dịp được thi nhân trút vào thi tứ như tiếng nói tự đáy ḷng cho một trạng thái trầm u. Những vần thơ của Holderlin trước đây đánh dấu những suy sụp cuối cùng ở những tháng ngày 1806, không bao giờ đem lại sự b́nh yên hoặc hạnh phúc cho Holderlin. Ông đă t́m thấy nguồn sáng tạo từ đấy và nuôi dưỡng những luận đề hiện đại mà trong mỗi đề tài chứa đựng những ǵ có tính bi thảm, vực thẳm tội lỗi, những ǵ đau nhói của con người. Và từ đó đă nẩy sinh trong Holderlin qua những vần thơ trữ t́nh và những vần thơ bi khúc. Một tâm sự dẫy đầy như ăn năn của kẻ phạm tội, mặc dù Holderlin chối bỏ thượng đế nhưng thâm tâm lại là kẻ ăn năn. Đó cũng là mâu thuẩn nội tại của Holderlin cũng như của con người : Thượng đế không đến trước với con người mà đến sau những phút giây cuối cùng của con người. Có thể ở đây là một vũ trụ Như-nhiên mà Holderlin đang sống(!). Cho nên thi ca là một biểu lộ t́nh cảm vừa là phản ảnh tâm lư nội tại vừa là phản ảnh thời gian đang sống giữa đời với thi nhân. Holderlin nằm trong trạng huống đó. Một trạng huống bi thương, khắc khỏi mà thi sĩ Holderlin đă dấn thân.

Luồng thi ca của Holderlin như một đạo luật đứng ra hoà giải giữa thượng đế với con người. Người được coi là đấng toàn năng ban phép cho chúng ta cả hồn lẫn xác. Ví dù chúng ta có đầy đủ yếu tố sống ḥa hợp với thiên nhiên, chúng ta có thể không chịu đựng một cường độ như thế. Vậy th́ thượng đế là điều mà chúng ta không thể tiêu diệt hay làm tàn lụi từ những ǵ thuộc về thánh linh, mà coi như đấng hiện hữu mà chúng ta thờ phượng và có thể được coi là niềm hân hoan và cho chúng ta một u-buồn-rất-thánh (holy sorrow) :

Chư vị thánh thần cho chúng ta mượn ngọn lửa từ trời
Đấng hiện hữu, Người ban phát cho chúng ta nỗi u buồn rất thánh-
Như thế đấy. Tôi như là con cái của Người
Trần gian ; tạo nên t́nh yêu kể cả đau đớn.

For they who lend us fire from heaven,
The gods, they grant us holy sorrow too-
So be it. I seem to be a son
Of Earth; made to love, to suffer.

(six-stanza version of ‘Home’.1800)

Nhưng chúng ta cần cảm thông nỗi u buồn sâu thẳm đó mà thi nhân đă gởi gắm một cách đầy đủ và đúng cách, một lư giải sáng suốt và sáng tạo của trí tuệ.

Suốt trong ba-mươi-bảy năm Holderlin tiếp tục làm thơ, chất đầy như ngọn tháp. Thơ văn ông viết, dù rằng; xuất thần từ trí tuệ, nó cũng trở nên một cái bóng mờ của những ǵ đă đi qua trong đời ông. Nỗi u buồn của thực tại là một lắng đọng tâm hồn của người làm thơ, những phút giây bất chợt đến từ một cảm quan thiên nhiên, đối đăi với đời như thuần phục trước những ǵ ‘rất-thánh’. Đó là sự qui hàng với định mệnh để được trở về:

Holderlin hiểu được những ǵ đă qua, dùng thời gian nhàn rỗi bức lên những nhánh cỏ khô trên cánh đồng hoang vắng như một cử chỉ giản đơn; một biểu lộ tâm hồn của kẻ-bất-quá. Và; biểu lộ một ấp úng, khép nép trong lời ăn, tiếng nói đối với đời; Holderlin giờ đây thuần chất của một con người ngoan đạo. He was known to spend hours some days simply pulling up grass in nearby fields, and showed an obsequious defernce to anyone who spoke to him…as belilever.

Xuyên qua những năm tháng rực rỡ trên đường văn nghiệp. Giờ đây Holderlin mới nhận ra những vần thơ trữ t́nh hay những bi khúc, chưa hẳn đă trọn vẹn, đều được ông chỉnh lại hoặc trải rộng bằng một tư duy trong sáng hơn. Một cử chỉ phục thiện của người làm thơ thấy được người, thấy được ḿnh, cho dù một chữ trong câu thơ. Có lẽ những năm cuối đời ông thâu tóm những văn thơ, gọt giũa để có một ngụ ư cho thơ văn siêu thoát hơn. Thí dụ: Bài thơ ‘Tiếng Gọi của Thi Nhân / The Poet’s Calling’ đây là lần thứ hai Holderlin đă chỉnh sửa, để đưa ta về trong tinh thần ăn năn, sám hối:

‘Giă từ Người những ǵ để lại cho ta’ / ‘So long as the God remains near us’

sửa lại:

’…Người xa ta nhưng gần ta’ / ...till God’s absence has helped’

Kinh ngạc hơn nữa; bài thơ ’Bánh Thánh và Rượu Huyết / Bread and Wine’ là một yêu cầu chính xác nhất đối với Holderlin. Một phủ nhận và một hiện hữu của niềm tin. Holderlin gọi là t́m thấy những lời thơ dịu êm như ḍng suối hiền; một thứ văn chương ’thánh-hóa’ đánh thức Holderlin vượt ra khỏi bóng đêm mà lâu nay ông đă ch́m đắm.

*

Trích ở đây một vài bài thơ tượng trưng trữ t́nh và bi khúc của Holderlin.

Thơ: trữ T́nh Ngắn (The shortes Odes):

Thuở Nào (*)

Tuổi thơ tôi bừng sáng một ngày vui
Và ta khóc những chiều hoang dại; giờ th́ quá già
Tôi bắt đầu nghi ngại tuổi vào đời, nhưng
T́m lại niềm tin như lời cuối dịu dàng thánh ư.


Then and Now

In my younger days the mornings were a joy
And I wept in the evenings; now that I’m older
I start my day doubting but
Find its end holy, serene.


Ehmals und Jezt

In jungern Tagen war ich des Morgens froh,
Des Abends weint’ ich; jezt, da ich alter bin,
Beginn ich zweifelnd meinen Tag, doch
Heilig und heiter ist mir sein Ende.

 


Hỡi Những Người Yêu Dấu

Chúng ta chia xa dù chăng nữa
Cận kề đe dọa ta như sát khí - tại sao thế?
Ôi, đau đớn biết dường nào
V́ t́nh ta như định mệnh an bài.


The Lovers

We wanted to go our separate ways, thought it well and good,
But once it was done the act scared us like murder-why?
Ah, we barely know ourselves,
For inside us a god is at work.


Die Liebenden

Trennen wollten wir uns, wahnten es gut un klug;
Da wir’s thaten, warum schrokt’ uns, wie Mord, die That ?
Ach! Wir kennen uns wenig,
Denn es walter ein Gott in uns.



Thơ: Bi Khúc ( Elegies Poetry)
Diotima (*)

Ai thấu t́nh em nỗi đớn đau
Ôi thánh linh! em hao gầy rơi trong tĩnh lặng miên man
Nh́n em như kẻ lạc loài
Họ tên em t́m thấy dưới ánh mặt trời…


Diotima

You fall silent and suffer, and no one understands you,
O holy being! You’re wilting away and fall silent,
For you look in vain among the barbarians
To find your kin in the sunlight…

(fourteen stanzas)

Diotima

Du schweist und duldest, und sie verstehn dich nicht,
Du heilig Leben! Welkest hinweg und schweigst,
Denn ach, vergebens bei Barbaren
Suchst du die Deinen im Sonnenlichte…



Đêm Huyền Ảo

Bầu trời đêm một mùa xuân hoa nở
Thế giới hồng hoa khoe sắc thắm tươi
Một vẻ yên lành ; đưa tôi đến,
Ôi mây hồng ! Và như có từ trên …


Evening Fantasy

In the evening sky a springtime blooms;
Countless roses blossom, the golden world
Seems calm; carry me there,
O crimson clouds! And up there let…


Abendphantasie

Am Abendhimmed bluhet ein Fruhling auf;
Unzahlig bluhn die Rosen und ruhig scheint
Die goldne Welt; o dorthin nimmt mich,
Purpur Wolken! Und moge droben…

***

VƠ CÔNG LIÊM (ca.ab. cuối 9/2012)

* Friedrich Holderlin: (20/3/1770 – 7/6/1843)


SÁCH ĐỌC : Như đă dẫn ở Holderlin (I)
Où suis-je?/Where am I?/Ta ở đâu? (Freiderich Holderlin)

(*) vcl phỏng dịch thơ ra Việt ngữ từ Anh ngữ. Thơ Đức dành cho người học Đức ngữ đối chiếu.


_______

a2a: Mời đọc vài bài thơ bằng anh ngữ của Holderlin:

http://www.slope.org/archive/issue23/23chernoffhoover.html

 

trang vơ công liêm

art2all.net