VƠ CÔNG LIÊM

 

HỒ XUÂN HƯƠNG

 

TÂM THỨC PHẢN KHÁNG

 

 

Trong lịch sử ngôn ngữ và lịch sử văn học Việt Nam, Hồ Xuân Hương là người đầu tiên xử dụng thơ mang tính dục (sexual) của ngôn ngữ văn học hiện đại nước ta. Có thể nói rằng ngôn ngữ văn học Việt Nam đă trải qua  một cuộc thay đổi về bản chất và khả năng biểu hiện đầy đủ, sâu sắc qua gịng thơ của Hồ Xuân Hương. Đây là một dấu hiệu tiến bộ trong lănh vực ngôn ngữ và văn học.

 

Hồ Xuân Hương xử dụng tài t́nh một lối ngôn ngữ đặc thù cho văn thơ; nói lên những yếu tố tâm lư nhân gian rút ra từ những tập quán thông thường, mô tả trắng trợn sự hiếu dục, hiếu sắc giữa hai bề mặt của tri giác.

Những trắc ẩn đó không một ai nói ra hoặc có chăng nữa cũng nửa úp nửa mở bởi những ước lệ khắc khe của Nho giáo, của đạo đức xă hội; v́ vậy mà không dám ”vi phạm” dù dưới h́nh thức nào của chữ nghiă. Hồ Xuân Hương huỵch toẹt những tệ đoan xă hội, những tiềm ẩn chôn vùi  trong ḷng sâu của tâm hồn bằng những vần thơ tả chân, lột tả tột độ quan niệm nhân sinh. Nữ sĩ không e lệ, không ngượng ngùng, không sợ thị phi phê phán ở tuổi xuân th́ của một thiếu nữ đương thời. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương đă dân tộc hoá những đặc tính văn hoá chữ Hán mà trước đây xử dụng dè dặt trong văn học chữ Nôm; nhờ điều ḥa hai luồng tư tưởng cố hữu nói trên bà đưa vào những vần thơ phản ảnh đích thực hiện trường của một xă hội Việt Nam thời bấy giờ.

 

Tác giả Hồ Xuân Hương là sản phẩm đúc kết của thế giới ngoại quan và tác động tâm trí nội quan qua từng thời kỳ hay qua từng chặng đường lịch sử mà mỗi thời là động lực lôi cuốn sự biến thái của ư tưởng và ngôn ngữ nhất là ngôn ngữ của văn học những uẩn khúc của thân phận, thân phận bị chà đạp, cưỡng ép, bức tức mà người phụ nữ phải gánh chịu. Hồ Xuân Hương lấy thơ để riễu đời, để miệt thị những kẻ lộng quyền, nói lên những thói hư tật xấu mà xă hội phong kiến đă dung tục đă bao che. Tư tưởng bung xung của nữ sĩ phản ảnh đích thực của cuộc đời mà bà đă sống và thấy. Tuy nhiên; Hồ Xuân Hương không phải là người quá khắc khe với ngôn ngữ hay chủ quan của ḿnh, lời thơ của Hồ Xuân Hương bay bổng và phát tiết ra muôn màu muôn sắc về thế thái nhân t́nh.

 

Hồ Xuân Hương một danh sĩ lừng lẫy; hơn phân nửa(100 bài thơ) thơ văn của bà để lại gồm có 17 bài tứ tuyệt, 38 bài Đường luật, 1 bài lục bát biến thể*. Nữ sĩ để lại cho đời những bài thơ bất hủ được truyền tụng cho tới ngày nay. Nhưng có điều; lịch sử văn học chưa xác quyết ngày sinh, tử của Hồ Xuân Hương  mặc dù đă kinh qua một thời gian dài lâu nghiên cứu, t́m hiểu của các nhà biên khảo.

 

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương người xứ Nghệ, gia đ́nh bà thiên di ra Thăng Long và bà chào đời ở Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận gần Hồ Tây. Nơi đây; về sau bà thành lập Cổ Nguyệt Đường làm chỗ thù tạc văn nhân thi phú. Cuối cùng; chẳng t́m ra Hồ Xuân Hương ra đời vào năm nào và mai táng nơi đâu. Đời chỉ dựa vào văn thơ, t́nh yêu hoặc những giai thoại truyền khẩu trong dân gian mà giả định (assume) tiểu sử của bà; ngoài ra không để lại một chứng tích tài liệu nào khác hơn.

 

Nh́n vào h́nh ảnh cuộc đời của Hồ Xuân Hương, chúng ta không đ̣i hỏi một yêu cầu nào khác hơn. Nhưng may thay những bài thơ của bà nói lên h́nh ảnh trung thực của chân lư, h́nh ảnh trung thành với cuộc đời. Trước cuộc đời và vũ trụ, tiếng thơ của Hồ Xuân Hương được ḥa vào thời gian, được gieo vào cung bậc của thơ, được ngâm lên bằng âm thanh chắt lọc cô đọng và thấm sâu vào ḷng đất trong một tâm giới của t́nh yêu, của quả cảm, của xao xuyến, của bứt rứt, của “kinh kỳ” của chuyển động cơ thể tạo nên những bộc phá nội tại. Nữ sĩ họ Hồ là một nữ nhi “thông minh vốn sẵn tại trời” (ND) ở tuổi tám, mười phát ra từ khẩu khí một lời thơ không phải b́nh thường và dễ dầu như vậy. Từ cuộc đời, từ vũ trụ ngoại giới đă ư thức một vũ trụ tâm hồn; cha chết ở mười tuổi, rồi tới mẫu thân, rồi lại nhiễu nhương. Những dằn vặt nội tại chính là những bi thương cuộc đời …

                                  

                            “Giơ tay với thử trời cao thấp                                  

                              Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài”

                                            (Thơ nôm truyền tụng)

 

Tiềm ẩn cả một tâm hồn phản kháng, thách thức giữa vũ trụ quan và vũ trụ nội giới, cái nh́n của Hồ Xuân Hương khác với cái nh́n của tâm lư học, của triết học bởi Hồ Xuân Hương đang đứng giữa của chủ thể, của tâm sinh lư của thời kỳ chuyển kinh trước khi ư thức sự vật ngoại giới. Trên lư thuyết mang tính chất có thực (reality) nhưng trong vai tṛ chủ thể, Hồ Xuân Hương chỉ biết về ḿnh khi có sự vật ngoại giới hiện diện làm cho ḿnh trở nên hiện hữu, v́ rằng; ở tuổi mười, mười lăm của Hồ Xuân Hương là một phản kháng nội tại, một yếu tố tâm sinh lư thường xảy ra cho những tuổi dậy th́, một phản kháng siêu h́nh ”giơ tay với thử..” là cả một đ̣i hỏi vượt mức, Hồ Xuân Hương muốn dấn thân, không sợ, không thị phi; “xoạc” với một ư thức trẻ thơ mà đă trưởng thành ở nội giới, nội giới ấy là h́nh ảnh, biểu lộ tự nhiên đưa tới sự cố là h́nh ảnh của gợi cảm của ngôn từ. Cũng nhờ đó soi rơ nội tâm Xuân Hương khi đụng chạm với vũ trụ ngoại giới “Trong sâu thẳm của mỗi từ ngữ, tôi chứng kiến sự sinh tôi”  (A fond de chaque mot, j’assiste à ma naissane - Alain Bosquet). Sở dĩ có được những ngôn từ, dù ẩn thể, nó cũng mang lại một cái nh́n thoáng vụt nhưng kinh hoàng giữa hai h́nh thái sáng tạo và ngôn từ trong tâm lư thơ của Hồ Xuân Hương.

 

Hồ Xuân Hương lớn dần với thời gian nẩy, sinh trong ḷng một tư tưởng yếm thế, đôi khi hoài nghi cho chính ḿnh, và cũng chưa hẳn định nghiă trọn vẹn hai chữ tục lụy. Thái độ ngập ngừng ở  tuổi tṛn trăng của Mai**

khi đến thăm đài Khán Xuân:

 

                                         Êm ái chiều xuân tới Khán đài

                                         Lâng lâng chẳng bợn chút ḷng ai

                                         Ba hồi chiêu mộ chuông gầm sáng

                                         Một vũng tang thương nước lộn trời

                                         Bể ái ngh́n trùng khôn tát cạn

                                         Nguồn ân muôn trượng dễ khơi vơi

                                         Nào nào cực lạc là đâu tá ?

                                         Cực lạc là đây chín rơ mười.

                                                          (Thăm Đài Khán Xuân)

 

Hồ Xuân Hương tả cảnh quang như một sự ngạc nhiên, nhưng h́nh ảnh ngạc nhiên là h́nh ảnh không xa lià đối tượng, gắn bó với đối tượng hiện hữu và trong h́nh ảnh thiên nhiên đó gắn bó với đối tượng suy tưởng, gắn bó một ư nghĩ của ḷng ḿnh là đă khám phá được nội giới ḿnh qua đối tượng. Quan hệ của sự khám phá ấy chính là ngôn từ mà trong thơ của họ Hồ đă xử dụng để cho ta ư thức  sự tương ứng của ba hoàn cảnh qua một ngôn từ : biểu tượng ngôn từ, biểu tượng h́nh ảnh và biểu tượng tâm lư. Không có một đối tượng vũ trụ lúc ấy mà chỉ có cái nh́n từ vô ảnh mà ra, đó là tâm thức của con người. Không có một đối tượng vũ trụ mà chỉ dàn trải một tâm trạng bơ vơ giữa cảnh quan. Nội tâm chao động phát ra những ngôn từ :” êm ái, lâng lâng, nước lộn trời, dể khơi vơi …”. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương hiện tại thấy ḿnh nhiều hơn thấy vũ trụ “Nào nào cực lạc là đâu tá?” thấy được sự hoài nghi tức là thấy được tâm trạng chơi vơi bằng một sự thức tỉnh trực tiếp của tâm trạng nhiều hơn qua đối tượng.

 

Tâm trạng vụt biến thành h́nh ảnh và thể hiện ra ngôn từ. Trong thế giới thơ, cơi phi ấy chiếm phần quan trọng trong sự khám phá của tâm hồn, có thể nói rằng ư thức của nghệ sĩ b́nh dân khi sáng tạo ra một câu thơ là do ư kiến về ngoại giới. Hồ Xuân Hương nhận sự vật trong không gian mà không sao thấy được đối tượng t́nh yêu ḿnh mong muốn; cho nên mơ về (rêver à / a dreamy ) sự vật của vũ trụ là mơ về trạng thái thương nhớ của t́nh yêu. Đó là những trạng thái đẩy Hồ Xuân Hương vào sự chọn lựa hôn nhân. Nữ sĩ biết phận ḿnh, gái ngoài hai mươi là gái lỡ th́. Đó là cái nh́n sâu xa của con người muốn tương giao với vũ trụ hiện hữu, mối tương giao đó t́m ra cơi ḷng ḿnh đang ẩn kín từ nội giới,trong bài "Già Kén Kẹn Hom",  bà viết:

 

                                   Bụng làm dạ chịu trách chi ai ?

                                 “Già Kén Kẹn Hom” ví chẳng sai !

                                   Tiếc điă hồng ngâm cho chuột vọc

                                   Thừa mâm bánh lọc để ngưu vầy

                                   Miệng khôn trôn dại đừng than phận

                                   Bụng ỏng lưng eo chớ trách trời

                                   Đừng đứng núi này trách núi nọ

                                   Th́ đâu đến nỗi đói ăn khoai !

 

Đó là những chặng đường của t́nh yêu bằng sự vật, bằng hiện tượng vũ trụ ngoại giới; sự kiện ta thán, lấy hiện tượng vũ trụ ngoại giới để nói lên vũ trụ t́nh yêu cho nên lời thơ nghe b́nh dị, chân thật nhưng đồng thời cũng lập được một ư nghĩ cho ngôn từ. Lời than vắn thở dài chính là nỗi trầm thống của nữ sĩ họ Hồ đang đứng giữa hai lănh vực tuổi đời và t́nh yêu, cả hai thứ đó vật lộn trong tư tưởng vũ trụ quan. Cảm tác bài thơ trên sau khi Hồ Xuân Hương bứt ra khỏi cuộc t́nh đầu bất- đắc- dĩ với Tổng Cóc. Sau cái chết của Tổng Cóc; Hồ Xuân Hương có một cái nh́n đối tượng khách quan, nh́n tiếp thu, nh́n tham dự. Đó là những ǵ Hồ Xuân Hương muốn gạt ra khỏi vũ trụ nội giới để thiết lập một cái nh́n b́nh dị, vô tư với h́nh ảnh đẹp hơn, khát vọng hơn. Đó là khát vọng của sự vật và khát vọng của con người. Hồ Xuân Hương mơ về một người t́nh tương lai, tương đắc, tương phùng hơn cuộc t́nh “cưỡng bức” với Tổng Cóc. Qua bài thơ Khóc Tổng Cóc, Hồ Xuân Hương nghiễm nhiên đứng trên dư luận, phi đạo đức, phi lễ nghiă, một phản kháng công khai đối với ngoại giới mà bà đương sống :

 

                                         Hỡi chàng ôi! ới hỡi chàng ôi !

                                         Thiếp bén duyên chàng có thế thôi

                                         Ṇng nọc đứt đuôi từ đây nhá

                                         Ngàn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi.

 

Chính cái nh́n đối tượng khách quan cũng đă đổi thay vũ trụ nội quan của Hồ Xuân Hương đưa tới một cái nh́n sáng sủa hơn.

 

Đời của Hồ Xuân Hương là một cuộc đời thử thách, đấu tranh tư tưởng khi tuổi mới lớn, rồi lấy chồng, rồi ở giá, những vật lộn ngoại giới, gây bấn loạn  tâm thần đó là yếu tố tâm lư nhưng Hồ Xuân Hương là một phụ nữ nhạy cảm, dễ rung động về bản năng sinh lư, nữ sĩ rơi vào một trạng thái bị động về sinh lư nén đọng ( to suppress ). Hồ Xuân Hương đang t́m kiếm cho chính ḿnh đối tượng t́nh yêu mà xung quanh bà trống không là phù phiếm, đến với Hồ Xuân Hương những thứ tạp nham, bà cảm thấy khổ, chính khổ sở đó đưa tới cái trống không vây phủ và nhận ra trong hiện hữu không có được một hạnh phúc nào khác, th́ đó là một hiện hữu trống không “L’être et le néant “ J.P.Sartre; cho nên Hồ Xuân Hương phải xác nhận cụ thể vai tṛ của ḿnh và chính là cái mà bà đang sống với “vivre avec” hiện hữu; qua bài thơ nguyền rủa như sau :

 

                                      Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ

                                      Lại đây cho chị dạy làm thơ

                                      Ong non ngứa nọc châm hoa rữa

                                      Dê con buồn sừng húc dậu thưa .

                                                             (Mắng Học Tṛ Dốt)

 

Để từ đó đi t́m chân lư cho chính ḿnh, đó là cái mơ tuyệt đối của nữ sĩ.

 

Ư muốn hoài vọng, nghiă là nhà thơ họ Hồ, kẻ biết hưởng và sáng tạo lối mơ về của ḿnh trong việc chiếm cứ cũng như chia xa mà mỗi trong chúng ta gặp phải cái tương quan  của Hồ Xuân Hương. Bà lư giải cuộc đời qua nhiều trạng thái khác nhau, xung đột với nội tâm, nhưng trong sự xung đột đó bà vẫn mơ về; bỗng nhiên chân lư tuyệt đối xuất hiện như phép mầu, Hồ Xuân Hương gặp Phạm Đ́nh Hổ như định mệnh hay giấc mơ của bản thể mơ về v́ Hồ Xuân Hương cảm nhận được sự thúc đẩy  đó và chính trong lần gặp gỡ ở hội thơ giữa hai người đă tương giao, xem như ngẫu nhiên nhưng thực chất là cố t́nh, như lối mơ về không c̣n là ngẫu nhiên mà tiềm ẩn hay bộc phát giữa hữu thức và vô thức.

 

Phạm tiên sinh nh́n Hồ Xuân Hương dưới một hiện tượng khác, dưới một hiện tượng của một tài hoa và ngược lại Phạm Đ́nh Hổ là một danh sĩ. Từ chỗ thông giao thơ văn họ chuyển qua cái nh́n của tha nhân khác phái. Hồ Xuân Hương làm bài thơ Đưa Đ̣ gởi cho Phạm tiên sinh :

 

                                  Chú lái kia ơi,biết chú rồi

                                  Qua sông rồi lại đấm ngay bu

                                  Chèo ghe vừa khỏi ḷng ḍng ngược

                                  Đấm c…ngay vào ngấn nước suối

                                  Mới biết lên bờ đà vỗ đít

                                  Nào khi giữa khúc phải co ṿi

                                 Chuyến đ̣ nên nghiă sao không nhớ ?

                                 Sang nữa hay là một chuyến thôi .

 

Đến khi Hồ Xuân Hương đă đi vào cái tuổi “về chiều”, Bà nhận ra sự phũ phàng của cuộc đời mà bà đă trải qua, bà cảm thấy cô độc trở lại, t́nh yêu đến rồi đi ở chặng cuối đời là một thức tỉnh nội tại v́ bà nh́n cuộc đời  đă ẩn tàng sự biến đổi, khi vừa chấp cánh hạnh phúc chưa kịp nhận th́ đă khước từ sự biến di ? Có lẽ; muốn thể hiện thể tính t́nh yêu cho nên lối mơ về bất chấp sự biến di đó. Đấy là những câu hỏi có thể có và cũng có thể không có trong ḷng một người chứng kiến tổn thương của ái t́nh để đánh thoát  sự hiện hữu đó. Xuân Hương tỏ bày cái vũ trụ nội giới của ḿnh, vừa chua xót vừa rủa đời :

 

                                       Kẻ đắp chăn bông,kẻ lạnh lùng

                                       Chém cha cái kiếp lấy chồng chung

                                       Năm th́ mười họa nên chăng chớ

                                       Một tháng đôi lần có cũng không

                                       Cố đấm ăn xôi, xôi lại hỏng

                                       Cầm bằng làm mướn, mướn không công

                                       Thân nầy ví biết dường này nhỉ

                                       Thà trước thôi đành ở vậy xong !

 

Tâm thức phản kháng của Hồ Xuân Hương lại một lần nữa bộc phát, không buông tha bà chấp nhận về cái gọi là ư thức tục lụy, ư thức  siêu h́nh phản kháng. Nói như André Maurois :”Một người đàn bà dù có tầm thường đến mức nào cũng đủ làm cho chúng ta đau khổ;v́ họ là đàn bà”,  th́ Phủ Vĩnh Tường cũng phải lụy cái tài hoa của Xuân Hương; bà biết thân phận ḿnh, biết phận làm lẻ của một người tai to mặt lớn, văn hay chữ tốt đó không phải là chuyện thua thiệt của kẻ sĩ. Bản thể sâu xa của Hồ Xuân Hương là dự ước của hiện sinh cho nên ḥa ḿnh với Phủ Vĩnh Tường là cơi mơ về của Hồ Xuân Hương; thời gian siêu h́nh và thời gian hiện sinh trong cuộc sống của bà dù một phút quyết định của một ư thức ái t́nh, có kế tiếp chăng, có lẽ chỉ bên kia cuộc đời cho nên hồi cố với Phạm Đ́nh Hổ chỉ trên biên giới của đời và vô biên chứ không thể trong chuyển vận của hiện sinh giữa đời và t́nh ái.

 

Sau cái chết của Phủ Vĩnh Tường Trần Thúc Hiển, rồi t́nh yêu lỡ vận với Phạm Đ́nh Hổ. Như vậy đời của Hồ Xuân Hương đă ăn nằm với ba nhân vật tai tiếng mà rút lại hóa không. Cái không ở đây là biểu tượng tuyệt vọng; l’être et le néant một hiện hữu trống không, một thôi thúc mà Hồ Xuân Hương gánh chịu của thời gian, thời gian tâm lư chính là thời gian sống của con người; đó là thời gian ư thức mà con người của nữ sĩ đă đắm ḿnh vào và ḥa ḿnh trong nhịp sống để tạo nên một biến tŕnh nội tại. Nếu con người đặt ḿnh trong biến tŕnh chuyển vận ngoại tại th́ có thể xử dụng được thái độ đối xử của ḿnh.

 

Thái độ hiện tại thuộc về tư tưởng cũng như tác động là h́nh ảnh sống động về nhân sinh; phơi bày một chế độ tàn dư phong kiến hẹp ḥi, bất công của bọn giáo phường, đạo đức giả hiệu. Qua bài Vịnh Cái Quạt :

 

                                 Mười bảy hay là mười tám đây

                                 Cho ta yêu dấu chẳng rời tay

                                 Mỏng dày chừng ấy chành ba góc

                                 Rộng hẹp dường nào cắm một cây

                                 Càng nóng bao nhiêu thời càng mát

                                 Yêu đêm không phỉ lại yêu ngày

                                 Hồng hồng má phấn duyên v́ vậy

                                 Chúa dấu vua yêu một cái này .

 

Bài thơ nói lên cái thật của hiện hữu nhưng cái thật của Hồ Xuân Hương là cái bao hàm vũ trụ nội quan có một âm hưởng khác, một âm hưởng nội tại đó là hiện hữu tính dục vật thể. Một lối dụng công chữ nghiă của họ Hồ mà ít ai xây dựng cái cảm quan như vậy. Đó là  ḍng tâm lư đi từ qúa khứ, hiện tại và tương lai khi con người thấy ḿnh đang sống qua bao nhịp đời đă sống cũng như viễn tượng tương lai của nhịp đời sẽ sống. Đó là thời gian tâm lư mà Hồ Xuân Hương đă vượt qua và chính những giây phút ấy  là hành động và cảm giác. Hồ Xuân Hương đă dùng ngôn từ như một thể tính triết học hiện sinh vừa cụ thể hóa vừa tượng trưng những thâm sâu cùng tận của vũ trụ ngoại giới cũng như vũ trụ siêu h́nh.

 

Động Hương Tích; Hồ Xuân Hương phơi bày cảm quan của ḿnh qua con người hiện sinh, nhận định bằng cảm giác là nhận định trực tiếp ngay số phận của ḿnh đang sống qua sự bắt gặp của ư thức :

 

                                         Bày đặt ḱa ai khéo khéo pḥm

                                         Nứt ra một lỗ hỏm ḥn hom

                                         Người quen cơi Phật  chen chân xọc

                                         Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt ḍm

                                         Giọt nước hữu t́nh rơi thánh thót

                                         Con thuyền vô trạo cúi lom khom

                                         Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại

                                         Rơ khéo trời già đến dở dom .

                                                           (Thơ Nôm truyền tụng)

 

Cho nên có một hiện hữu hành vi và cảm giác; hiện hữu đang có những tác động ǵ đang được hoàn tất cả một mùi vị chua chát hay ngọt ngào, hiện hữu có một màu sắc thanh b́nh hay thê thảm trong khi hoài niệm phai dần với thời gian, không thấy được, không cảm được bằng tri giác không gian mà chỉ có thể bằng kư ức.

 

Vậy tâm thức phản kháng của Hồ Xuân Hương là tinh thần phản kháng giữa cơi thế vô thường, vô lượng của một thân phận mỏng manh, yếm thế, bứt rứt rơi vào một xă hội bất công và ngược đăi. Phản kháng là không đành ḷng thuận sự ngổn ngang, t́nh huống nghiêng ngả và gắng gượng tái lập cơi mộng  “Cổ Nguyệt Đường” trong cái mộng thái ḥa để được xoa dịu,bởi; hiện hữu của nữ sĩ là nỗi trầm thống và tinh thần phản kháng hiện sinh được phát tiết qua những vần thơ nguyền rủa, phẫn nộ với ngậm ngùi của nội tại. Từ chỗ hữu h́nh và vô h́nh Hồ Xuân Hương vấp phải những g̣ đống, hang cùng ngơ cụt những ray rứt nội tại xô ḿnh vào vũ trụ siêu h́nh, vũ trụ nhân sinh quan.

 

Ư thức của Hồ Xuân Hương là ư thức đậm mùi tục lụy. Có thể nói rằng khi chấp nhận hiện thể để chứng minh t́nh cảm  của ḿnh, Hồ nữ sĩ xác định cuộc đời của con người hoàn toàn đau xót và không bao giờ ngừng nghỉ những mối sầu thương và vẫn yêu cuộc đời đau khổ v́ khổ đau cũng giống như niềm vui và đôi khi đồng hóa với niềm vui…

 

Bởi những lư lẽ đó hoặc bởi những lư do nào khác mà ta mất đi lịch sử đích thực  của họ Hồ. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương nhận thức được thời đại của ḿnh đang sống. Đời đă nói một câu như thế nầy thay cho Hồ nữ sĩ “Je ne serait pas ici demain” không cần có tôi ở đây cho ngày mai.

 

                                        Nghĩ cùng thế sự ḷng như đốt

                                     Trông suốt nhân t́nh dạ muốn say.

                    Hồ Xuân Hương.Tự Thán (Thơ Nôm Lưu Hương kư) ./.

 

 

 

VƠ CÔNG LIÊM   (chestermere đạituyết mậutư khôngtám)

 

Sách tham khảo: Nữ sĩ Việt Nam Nguyễn ngọc Hiền.nxb Vănnghệ tp.HCM.. VN 2000

*Hồ Xuân Hương tác phẩm và thân thế của gs. Nguyễn văn Hanh

**Hồ Xuân Hương tự là Mai( phỏng đoán: gs.Hoàng Xuân Hản và Trần Thanh Mại)

 

 

trang vơ công liêm

art2all.net