vơ công liêm

 

 

JEAN-PAUL SARTRE

Với BUỒN NÔN

 

 

 

Buồn Nôn là một lư thuyết hiện sinh hay Buồn Nôn là một tiểu thuyết hư cấu của Sartre ? Cái hay của tác giả là biến truyện thành lư thuyết một cách sâu xa, với một h́nh thức tŕnh diễn mới lạ,một trạng thái tâm linh đa dạng.Truyện cũng chẳng phải là tự truyện và chẳng phải là hồi kư…mà là tiểu-thuyết nhật-kư,nghe lạ nhưng đọc kỷ những lư lẽ trong truyện ít nhiều cho ta thấy được tính nhân bản của nó, mà trong chúng ta dường như đă có một cái nh́n hiện sinh của một bản thể tự tại,mà đôi lúc xẩy ra trong đời làm người, vốn mang thân phận xót xa và đau khổ.

 

Sartre đă đưa nhân vật Antoine Roquentin vào tác phẩm Buồn Nôn(La Nausée/The Nausea) như một “người hùng”;một nhân vật được xem là mẫu người đàn ông lư tưởng, đứng trước mọi t́nh huống của cuộc đời đang sống.Nếu không được nh́n nhận như một cách sống mới th́ đó chỉ là h́nh thức mẫu mực chẳng có ǵ khác hơn.Tuy nhiên những tác phẩm của Sartre vẫn được đời nhắc nhở đến cho tới ngày nay;dù rằng tác phẩm Buồn Nôn được xây dựng vừa hư cấu vừa hiện thực chứa đựng đường lối hiện sinh.  Ở đây không nói đến nhân vật Roquentin như một con người hiện sinh”Existentialist man” hoặc xem Buồn Nôn là một tiểu thuyết hiện sinh”Existentialist novel”Nhưng điều chúng ta muốn nói là khám phá cái nguồn hiện sinh đó phát khởi từ đâu:Roquentin được dàn dựng như một hiện thể(being is) của hiện hữu(existence)một con người sống thực với một tâm-sinh-lư phi thường.

Những trang cuối của tập truyện,nói đúng ra là tập nhật kư,Sartre cố t́nh bỏ quên chúng ta mà qui về một chiều sâu khác của nội tâm hơn là mô tả.Sartre tự xem như chính ḿnh trong đó và đó cũng là điều đem lại cho chúng ta một cái nh́n ư thức hợp lư và thích đáng.Tác giả coi tác phẩm của ḿnh như một trang”thiết bị” cần thiết cho văn hóa,một xác định cụ thể đối với thái độ của chúng ta.Tuy không được trọn vẹn để nói lên được tính chất của một nền văn chương đương đại(contemporary literature) hay một tâm sinh lư khác mà không tránh khỏi sự đụng chạm về quan hệ những nhân vật trong truyện.

Roquentin chạm mặt với cây hạt dẻ, đó là một chạm trán mơ hồ tuy nhiên vẫn cho ta thấy được h́nh ảnh sắc bén của sự vật một cách cụ thể nhưng không để lại cái nh́n đích thực ,mặc dù Roquentin đang ở trạng thái buồn chán.Vậy th́ Roquentin đến với nỗi đau đầy tuyệt vọng chăng?Chúng ta hăy xem Roquentin có chịu đựng nỗi với một tâm thức như thế không,một tâm lư nội tại được diễn tả cách riêng…Chính v́ thế mà đem lại sự tranh luận của tác phẩm Buồn Nôn qua bao thập niên: Đó là sự biệt lập giữa hiện hữu và hiện thực.Thí dụ: Nói về sự vật;chai thủy tinh Venetian(Ư) là một cái chai có khác ǵ đâu nhưng nó là h́nh tượng của sự vật,tất nhiên cho ta nhận được hiện thực của sự vật;tṛn,nặng ,trong bóng,sắc màu không hơn không kém của một hiện vật…Cho nên hiện hữu của sự vật là một cái ǵ rất đơn thuần,tuy nhiên nhận ra được một thực thể,là giới hạn của hiện hữu và tri nhận, đó là thể tính siêu việt của hiện sinh,biến cách thức hiện hữu mode-of-being để trở thành đối tượng của hiện sinh.Một thí dụ khác;về giới hạn cách biệt của Roquentin:nhân một ngày đi chơi trên biển, hắn nhặt trong tay viên đá cuội,mân mê trên tay, đột nhiên hắn khám phá ra được những ǵ đang hiện hữu, đó là hiện hữu sự vật làm cho hắn thoát khỏi cái cảm giác buồn nôn kỳ quái mà hắn phải đương đầu, đối diện với hiện hữu. Điều ấy không mong muốn đến với Antoine Roquentin; thực thể của viên đá cuội đă biến mất trong thực tại và hắn nhận ra một tâm thức trong suốt “see through” trong những điều xẩy ra.

Những tiến tŕnh trong đời sống hằng ngày từ từ sẽ khám phá,tất cả những tính chất đó sẽ “bốc hơi” (evaporation) không c̣n lại ǵ,chỉ c̣n lại sự đương đầu, đối diện với hiện thực là cây hạt dẻ,viên đá cuội; đó là sự hiện diện có thực (reality)và chính cái thực đó làm giảm đi cái nguyên lư của hiện hữu: giữa sự buồn chán và nỗi sợ hăi.Chỉ c̣n lại một điều trong tôi(Antoine)nỗi đau khổ là hiện hữu và chẳng phải vướng tội, mọi sự được vượt qua,tương quan với hiện thể “Je sais seulement que la souffrance existe,qu’il n’y a pas de coupables,que tout s’enchaine,que tout passé et s’équilibre”.

Chính v́ quan điểm ấy;tác giả đă lập đi lập lại nhiều lần: Đó là sự ghê tởm của hiện hữu.Jaspers viết:”Cái điều vô lư đă t́m thấy trong cái tối nghĩa nơi mà chúng ta đang sống,trong thực tế của thực nghiệm hiện hữu vừa như có đó và vừa như không có đó”Tại sao gọi là không-có-đó ? Tại sao điều đó lại dành cho tất cả?Cái ǵ nhiều hơn?Không có ǵ hơn và không có ǵ kém hơn.Không thể biết được và cũng chẳng thiết yếu để tránh(éviter) được.Tout ou rien,nous passions au tout ou personne. Tất cả là không,chúng ta vượt qua được chẳng bỏ một ai.  Ấy th́ có trở nên ngu xuẩn hay là không hợp lư(non-rational).Sartre cho rằng chỉ có trí tuệ trả lời điều ấy.Sartre không buộc chúng ta phải trả lời hay đ̣i hỏi chúng ta một lư do nào hay một ư nghĩa nào khác. Điều được xác định cụ thể là t́m thấy được phần nào gốc rễ của cái gọi là vô nghĩa của hiện hữu(meaningless existence).Kết quả chỉ đem lại :Ngơ cụt và Buồn Nôn.

Trong nỗi đau đớn của Roquentin là giảm được cái điều không có,ngay cả ư thức buồn nôn cũng không có.Nó đă điền vào cái khoảng trống đó bằng một cái nh́n đầy hổn loạn.Có lẽ Sartre nhận ra được những kinh nghiệm mà Jaspers gọi là”chuẩn bị cho một sức bung phá mănh liệt”(The preparing power of chaos)Dẫu sao sự đau khổ là một nhu cầu cần thiết cho sự khai mở và tái lập qua điều kiện của ḿnh để chứng minh tâm lư học và triết thuyết hiện sinh; cái đó là chủ thuyết nhân bản L’existentialisme est un humanisme; điều ấy cũng được phát triển khoa tâm lư học,một tư tưởng của chủ nghĩa tự do,và trở nên đề tài chính của học thuyết Jean-Paul Sartre.Con người đi từ sự chán ghét,ghê tởm,,một sự trống vắng của hiện sinh,tạo nên cái thể chất chính,qua sự chọn lựa mà Sartre cho đó là một cái ǵ phóng khoáng.V́ lẽ đó mà ông đă hiện hữu và không bao giờ nh́n sự thể như một điều tuyệt đối.Sartre luôn luôn hướng tới và dẫu có xẩy ra cái chết đột ngột chăng nữa,triết thuyết của ông sẽ không bao giờ  chấm dứt được,cái mà được gọi là triết thuyết hiện sinh của Sartre.Triết gia Ái Nhĩ Lan Arland Ussher viết:”Cái khó khăn đáng kể nhất là hoàn tất những tác phẩm của họ, đó là sự thiết yếu cho một triết thuyết,là được gần gủi với mọi sinh động của cuộc đời-điều mà không bao giờ hết được”Have a notable difficulty in finishing their books of necessity,for their philosophy-staying close to the movement of life-can have no finality.Vậy th́ điều ǵ đưa tới Buồn Nôn; điều đó tùy vào từng cá tính của người đọc.Một câu hỏi khác có phần khó hơn là giữa L’Etre et le Néan/Being and Nothingness/Hiện hữu và Hư vô mà Sartre cho đó là nỗi khổ và sự khinh tởm nó diễn ra như một thằng hề đủ để cho ta thấy một thứ mập mờ hết sức trừu tượng .Chúng ta biết rằng Jean-Paul Sartre một nhà tư tưởng triết học và cũng là nhà văn tuyệt mỹ về thể loại hư cấu hiện thực,một lối xây dựng đối thoại độc đáo,một chức năng đầy đủ mới dàn dựng một sân khấu đầy sắc thái. Ông là một con người b́nh dị,nhưng ông cũng không mấy hài ḷng những điều ông đă làm như những nhà triết học khác.Sartre cho biết: “viết như giàn trải,như chuyện kể(folftale)như thần thoại,cổ tích với một văn phong của một”candide” thơ ngây,thật thà!

Truyện Buồn Nôn không phải là một truyện đầy đủ như mọi truyện,mà nó ghép lại qua từng mảnh làm thành một.Mỗi bài có cái hay riêng,lan tỏa khắp nơi mà hầu như là những bài b́nh luận.Buồn Nôn đă cho chúng ta thấy được sự sáng tạo,kỷ thuật hành văn và nhất là sức trong sáng trong triết thuyết của Jean-Paul Sartre.Truyện đă đưa dẫn chúng ta đến gần với con người trong cùng hoàn cảnh,nơi mà chúng ta đang chiếm cứ.Allen Tate nói:” Đó là chức năng tối thượng của nghệ thuật”.Supreme function of art.

 

The statue seemed to me unpleasant and stupid and I felt terribly,deeply bored.I couldn’t understand why I was in Indochina.What was I doing there?Why was I talking to this people?Why was I dressed so oddly? My passion dead…(The Nausea)

 

Đó không phải là sự cớ để chúng ta phải đi t́m một năng lực toàn vẹn mà hăy xem như một điều hết sức tự nhiên,rơ ràng trong mọi dữ kiện tác phẩm tiểu thuyết của Sartre mà hăy coi đây là một thông điệp hoàn chỉnh với những yếu tố chính đáng dưới một cái nh́n tổng quan cho một tác phẩm được dựng lên trong thế giới ngày nay bởi Jean-Paul Sartre.

Những bài viết trong tập truyện được xoáy quanh một chủ đề buồn nôn,nỗi chán ngấy đó là thảm kịch mà Roquentin trực diện với cuộc đời đang sống,tất cả mọi t́nh huống được ghi lại như chứng tích dưới dạng thức nhật kư , đó là tiêu biểu đáng kể mà Sartre đă sống qua vai tṛ của Antoine Roquentin một cảm giác nhầy nhụa,oé mửa…

Nếu có ai hỏi tôi(Sartre) hiện hữu là ǵ?Tôi xin thưa rằng: “tất cả chẳng có ǵ hết,tất cả đều trống rỗng,mà tất cả điều đó chỉ một tấm ḷng,một niềm tin chân chính- in all good faith”.  Ấy là điều chẳng tạo nên được cảnh giới bên ngoài nếu không đem đến một hữu thể tuyệt đối, dần dần tất cả đều sáng tỏ.Sự hiện hữu được phát hiện.Chính v́ vậy nó mất đi sự bất động để t́m thấy được sự mơ hồ một cách trừu tượng.Những điều đó đem lại sự tồi tệ.Chính đó là ngọn nguồn gắn liền với hiện hữu.Do đó những vật thể xung quanh mất dần và trở thành đa dạng,với tất cả cá tính đó chỉ tạo nên một thứ ảo giác,một thứ hào nhoáng giả tạo,buồn nôn.Cái giả tạo đó là những mảnh vụn hỗn độn,nhầy nhụa,trần truồng thật kinh khủng,một thứ dâm thư bẩn thỉu.Tất cả những đối tượng khách thể(objects) có thể đặt vào đó được không?Không;những thứ đó khuấy động ta!Mọi thứ dần dần xa ĺa hẳn với hiện hữu trong một trạng thái dịu êm;giống như người đàn bà rơi vào hoàn cảnh đau khổ,một tâm linh bất ổn một cách tơi tả mà vẫn nói:” đời đă cho ta một nụ cười thoả mái”trong một tiếng nói đầy ẩm đục và che dấu một điều ǵ vừa kín đáo vừa đê hèn.Những sự thể như thế đă biến mất, để lại một hiện hữu bi đát.

Ngoài những lư lẽ của thuyết hiện sinh, được nẩy nở qua từng thế hệ,thiết tưởng điều ấy dừng lại nơi đây,cái dừng hợp lư và đúng lúc Il faut savoir s’arrêter à temps! để người ta không rơi vào tuyệt vọng,bởi những ḍng chảy của thuyết hiện sinh đă làm cho nhiều người suy tưởng mà làm lạc hướng chủ nghĩa hiện sinh,trong lúc những phân đoạn đó Sartre cố t́nh xây dựng lại có hệ thống trong từng cá tính của con người đang đối diện với Hư Vô(Néant/Nothingness)và những cái gọi không-thực-chất.Sartre nh́n triết thuyết hiện sinh như triết thuyết nhân bản.Lư thuyết nầy phải được sáng tỏ một cách cụ thể nghĩa là đương đầu và chấp nhận nỗi đau,buồnchán,tuyệt vọng như một chấp nhận hiện hữu.

 

Tóm lại triết thuyết hiện sinh được thăng hoa và đưa nền văn học Âu châu vào một kỷ nguyên mới.  Ấy là điều sâu sắc mà chúng ta đang sống trong một xă hội rối loạn tâm thần,cần phải loại tận gốc rễ những hoàn cảnh nghịch lư đó; đừng để nó trở thành một thứ bi quan chủ nghĩa ,một ảo giác mơ hồ,tràn ngập,chiếm cứ trong lúc chúng ta đang xâydựng một chủ thuyết hiện sinh.

Thử nh́n lại nếu chủ nghĩa hiện sinh được thành h́nh và nở hoa ở thời kỳ của Graham Greene,André Malraux và Arthur Koestler th́ những nhận thức của hiện hữu có phần thay đổi…Khởi thủy những nguồn sáng tạo hiện sinh như Dickens,Balzac và Pushkin là những người tiên phong và chủ xướng kể cả Kierkegaard và Nietzsche cả hai đều sống trong cùng một hoàn cảnh đă đưa ra những tư tưởng “mới” của hiện sinh nhưng thời đó những kẻ đứng bên lề đă phán xét,phê b́nh cho là đi xa với hiện thực; đó là thời bi thảm của lịch sử văn học.Dostoevski viết:” Đau khổ là nguồn phát sinh từ ư thức”Nhưng đau khổ là hiện diện trực tiếp trong mọi hoàn cảnh,không gian và thời gian, tư tưởng đó đem lại ư thức đau khổ.Chính v́ thế mà Sartre đă viết lên được phần nào chủ thuyết của ḿnh,dù là giản đơn.Sartre nói:”Bên cạnh cuộc đời như bắt đầu nỗi tuyệt vọng không cùng”Life begins on the other side of despair. Jean-Paul Sartre  tin vào ngày mai hơn là hôm nay, ông cho rằng sự nghịch lư chính là niềm tin La mauvaise foi est foi(trong L’Etre et Néant).

Tiểu thuyết La Nausée được miêu tả một cách chi tiết,bên cạnh đó có cả L’Etre et Néant,L’Imaginaire,Vérité et Existence,Les Chemins De La Liberté I, II, III và Les Mains Sales đều nói lên tư tưởng hiện sinh của ông mà ông là chủ soái một tư tưởng,một lư thuyết quan trọng hơn hết.Khi triết thuyết nầy xuất hiện;  ấy là điều như chúng ta t́m thấy được bản chất của nó từ những suy tư về sự vật dưới một cái nh́n khác biệt.Biến mơ hồ trừu tượng đến một thực thể rơ ràng,cụ thể không thể xóa mờ.Tự nó đă hiện hữu giữa thế giới hôm nay cũng như tất cả những điều mà ta nhận ra được. Nhân vật Roquentin vẫn c̣n đó,có nghĩa là vẫn c̣n tranh luận donner comme argument que; một cách khá đặc biệt cho một tiểu thuyết hư cấu của Sartre. Đấy chính là sự khám phá những siêu nhiên trong vũ trụ mà chúng ta đang sống và nắm giữ ?

Roquentin trong Buồn Nôn là một thân phận trầm thống,một tệ nạn xă hội cũng như chính bản thân của tác giả.Chúng ta không thể quả quyết  mọi người sẽ hợp thông điều đó hoặc phải suy tưởng những điều như Sartre suy tưởng. Đúng như thế!bởi chúng ta không thể dựa vào những nguồn cơn đó để miêu tả một cái ǵ mơ hồ như một thứ siêu h́nh metaphysical mà chúng ta đă t́m thấy qua những từ ngữ,từng nhân vật trong tiểu thuyết của Jean-Paul Sartre.Nhưng ở đây thực tế là làm sao cho ngôn từ được sáng tỏ và hiệu ứng những ǵ đă chứa đựng cho dù rất ít chi tiết,hay bất luận nơi nào,khi mà chúng ta nhận ra được Hiện hữu và Hư vô th́ lúc đó chúng ta nhận thức được những ǵ Roquentin đă thực hiện.Cái ǵ mà Antoine nhận thức được là có một đôi phần của bản thân ḿnh trong cuộc sống giữa người và vật.Buồn Nôn là khởi thủy từ sự cảm nhận đích thực giữa nội quan và ngoại quan mà không để lại một dấu hiệu hay kinh nghiệm nào khác hơn. Đôi khi chúng ta phải tránh xa nỗi chán chường bởi những đắm ch́m trong vật thể,trong ao ước mà điều đó nằm trong dự tưởng.Nhưng nếu buồn nôn không c̣n lắng đọng trong tâm tưởng th́ chính là lúc chúng ta nhận thức cùng một lúc với thời gian hiện hữu;bởi buồn nôn ở đây là do nhận thức từ chúng ta mà ra hoặc đúng hơn do từ bản thể của ta mà ra,không có điều đó chắc chắn chúng ta không thể ch́m đắm dưới bất cứ điều ǵ khác hơn.

Buồn Nôn là phó sản của sinh lư,một ”cogito” của Decartes, đó là ư thức ch́m lắng của bản thể; đưa tới một ư thức buồn nôn.Hữu thức không c̣n là sự ch́m đắm của bản thể, điều đó đă xâm nhập một cách t́nh cờ,có thể không c̣n khả năng sáng suốt đối với hữu thể.Bản thể là một liên lạc trực tiếp với thế giới ngoại quan và cũng ch́m đắm trong vũ trụ nội quan,giữa hai vị trí đó làm trung gian để vượt qua mọi sự ch́m đắm của bản thể.Sartre viết:” Điều đặc biệt mà chúng ta phải ghi nhận rằng mỗi khi không c̣n đau đớn hay không đạt được yêu cầu mong muốn hoặc khước từ sự thỏa măn th́ đó là hiện hữu”Do đó nhận thức không ngưng nghỉ và tạo thành một sự sợ hăi bất tận,mà đó là phần tự có.Sartre nói tiếp:” Đây là những ǵ tôi đă miêu tả dưới bất cứ hoàn cảnh nào của tên gọi là”buồn nôn”This is what we have described elsewhere under the name of nausea.Một tâm thân u tối kéo theo với sự buồn đau điều đó không thể tránh được,măi măi bị ám ảnh,phát hiện được qua bản thể và ư thức.

Điều quan trọng được ghi nhận của Sartre;buồn nôn không có nghĩa là thay h́nh đổi dạng để miêu tả về một thái độ của thế giới quan và không hẳn thái độ đề cao, điều cần thiết được nhắc nhở chúng ta về những cảm giác đó là những phương thức nắm bắt được, đó là những yếu tố cần thiết đă lắng ch́m vào sự vật mà ḿnh tiếp cận.

 

* * *

Jean-Paul Sartre (*) một triết gia,phê b́nh gia,tiểu thuyết gia và một kịch tác gia nắm một vị trí cao cả, ít ai có trong thế giới văn chương Pháp.Hầu hết những văn nhân, độc giả cũng như những nhà phê b́nh văn học đều nhận định về những tác phẩm của Sartre, đặc biệt La Nausée(Xb đầu tiên 1938) đă thu hút một số lượng khổng lồ về triết thuyết hiện sinh của Sartre như một tư tưởng mới và có một ư nghĩa quan trọng.Ngày nay La Nausée/Buồn Nôn không c̣n một ai chất vấn hay đặt vấn đề hoặc b́nh phẩm cho một tiểu thuyết có tính chất siêu lư như thế ở thế kỳ XX;một điều nên nhớ tiểu thuyết hư cấu Buồn Nôn là một tiểu thuyết mang tính hiện thực vừa đương đại vừa hiện thực cho một chủ nghĩa hiện sinh mà Sartre chủ xướng  một cách trung thực và đầy sáng tạo giữa đời này.

Buồn Nôn là một câu chuyện hư cấu nhưng có thực và sống thực qua nhân vật Antoine Roquentin.Tác giả đă làm kinh ngạc người đọc về triết thuyết hiện sinh.Một tiểu thuyết đầy ấn tượng dưới một thể thức nhật kư mà ông đă diễn tả được cái sâu sắc nội tâm của con người,cái ray rứt,cái tàn nhẫn trong sự cảm nhận giữa thế giới với con người dường như xẩy ra quanh đời ông.Tư tưởng của Sartre đạt tới cực điểm và lan tỏa,vượt qua được sức mạnh của cảm giác,tức nỗi đau khổ không cùng của con người đứng trước hiện hữu;tất cả được thể hiện rộng răi từ dưới thể tính bầy nhầy,nhăo quẹt (vicous)trộn lẫn với loăng chất(puddle)của cái thời đầy rẫy bóng tối vây quanh và lan trải như vết dầu loang;những hiện tượng đó là cơ hội dành cho Sartre phát triển chủ nghĩa hiện sinh, mà nhân tố hiện sinh chính là nhân bản,là yếu tố tâm lư và sinh lư giữa hiện thể và hiện vật xẩy ra cùng một lúc.

 

Buồn Nôn không c̣n là hư cấu,nó trở nên một luận cứ triết học của học thuyết hiện sinh mà Jean-Paul Sartre là kẻ đưa đường.Tác phẩm Buồn Nôn của ông đă để lại hậu thế những giá trị tuyệt đối,vượt thời gian qua những án văn chương bất hủ,một phạm trù triết học đầy nhân tính trong thuyết hiện sinh của ông.Jean-Paul Sartre là nhân vật thời thượng qua mọi thời đại của nền văn học sử hiện đại.

 

VƠ CÔNG LIÊM  (stampede day thángbảy 2010)

 

(*) Jean-Paul Sartre.Sanh:1905 tại Paris(Pháp) Mất:1980

-1929 đổ thủ khoa thạc sĩ triết học tại đại học Sorbone(Pháp)

-1964 đoạt giải văn chương Nobel.

Ông để lại nhiều tác phẩm gía trị về văn học;gồm có:Bút kư,Khảo cứu,Tiểu luận triết học,Kịch và Phêb́nh.

 

Sách tham khảo:

-La Nausée.Editions Gallimard.1972.Bản Pháp ngữ.

-The Nausea.A New Directions Paperbook.1964.Bản Anh ngữ của Lloyd Alexander.

-JPS Essays in Existentialism.Citadel Press.1980 USA

 

 

 

trang vơ công liêm

art2all.net