vơ công liêm

 

KIỀU THỤC OANH

 

 

 

1.

Mới đầu tháng tư mà khí trời oi bức, mây không muốn bay, gió không muốn thổi hay tại ḷng người xôn xao trước t́nh thế ’tiến thoái lưỡng nan’ mà làm cho cảnh vật và t́nh người âu sầu lắng đọng? Làng Tề xưa rày b́nh an vô sự, bom rơi đạn rớt thỉnh thoảng xẹt ngang vùng trời, vùng đất của họ, dân ở đây vô tư trước t́nh huống đó; dù rằng con cái họ phải đầu quân nghĩa vụ giữa hai lằn biên cuộc chiến. Dân ở đây có một suy tư tầm thường: -tại sao phải có chiến tranh, tại sao phải lấn đất dành dân, tại sao con người chết phải nhờ súng đạn kết liễu mà không có một cái chết dịu dàng như loài sâu bọ hay sinh lăo bệnh tử là chuyện thường t́nh của kiếp người; cho nên dân Tề không buồn lư giải mà do ở ḷng ’sinh sự’ của con người. Nội chiến, ngoại chiến, nồi da xáo thịt, củi đậu nấu hạt đậu. Chiến tranh đến rồi đi như cơm bữa, cái thứ nầy vốn đă có ngàn xưa và trở thành thói quen truyền thống. Phải gây chiến mới sống được! Không gây chiến tranh súng đạn th́ gây chiến tranh tâm lư. Dân cư ở đây khổ tâm nhưng không nói nên lời, t́nh cảnh đẩy đưa họ vào thế bí; thôi th́ mặc cho cuộc thế, họ lấy cái b́nh an trong tâm tư để mà sống. Đất nước yên ả đâu được vài năm th́ lại khơi mào nổi dậy, không ông này th́ thằng nọ t́m đủ cách xúi dục dân lành đứng lên dành rồi chống; hóa ra đem dân làm cái thớt. Họ ghét những ai nhắc đến súng ống, hành quân, hành dân. Nhảm! hay ho ǵ mà đem ra kể công, kể trạng dẫu có thắng không kêu, bại không nản. Chuyện chiến tranh lỗi thời đối với dân làng Tề. Trong cảnh quê trước và sau cuộc chiến dân Tề không thay đổi bản chất, trầm lắng và yên ấm với đời sống; chấp nhận những đổi thay xuất phát từ đâu tới. Làng Tề đa phần sinh sống theo hướng kinh tế con trâu đi trước cái cày theo sau, cảnh gạo chợ, nước sông. Một tập thể biết che chở, đùm bọc, bởi; dân thưa cho nên coi nhau như anh em một nhà, sẻ áo nhường cơm. Nhưng ít ai biết cái t́nh nầy; không hẳn thế cũng có kẻ đau với vận nước. Thuở nào cũng vậy dân khi nào cũng là kẻ bị trị. Con dân Tề chịu trận và ngậm đắng! Người làng Tề có một quan niệm thủ cựu: phải nỗ lực để cậy trông chớ không nhờ vào chiến tranh mới cậy trông. Tập quán của dân Tề không hiếu chiến, không đấu tranh, không dành giựt, xưng hùng, xưng bá; họ muốn có một ’Diên Hồng’ mới nói lên chính nghĩa chớ không mơ một chiến thắng lẫy lừng với máu chảy, thịt rơi rủ màu trắng khăn tang. Người làng Tề ước có một cuộc sống thanh b́nh thịnh trị hơn là mơ bả vinh hoa của những kẻ ngồi mát ăn bát vàng. Muốn có một tinh thần như làng Tề khó. Khó lắm!

 

2.

Giáo Thức sau chiến tranh làm nghề dạy học. Thức không đi tù chiến tranh v́ có một cái đáng ghi công là trốn lính, thời đó trốn lính được xếp vào thành phần yêu nước. Có kẻ không đi lính vẫn là tù nhân chiến tranh. Sao có một sắp xếp lạ kỳ như thế ? Thức chịu thua, bó tay trước hoàn cảnh chính trị. Nhưng Thức không cho đó là ân huệ của đối xử, ḷng khoan hồng, độ lượng của tự do mà ruột gan khi nào cũng phập phồng lo sợ, sợ c̣n hơn trốn lính, bởi sống mà lúc nào cũng có cảm giác như ḿnh là con chuột trong đêm dưới mắt con cú. V́ vậy giáo Thức xem nghề dạy là thiên chức để dân làng Tề có một cái nh́n kính nể của người hay chữ. Thế thôi. Biết phận ḿnh ; sau khi văn hồi t́nh thế Thức cư trú ở quê ngoại và trở nên ‘công dân’ làng Tề từ đó cho tới nay. Trong cảnh khốn cùng ; giáo Thức được bao che bởi dân làng, tạo điều kiện cho Thức có việc làm, khuây khỏa trước hiện t́nh. Thức trốn lính không có nghĩa là ghét bỏ mà cho đó là một phản kháng v́ xă hội đê hèn, trục lợi bắt người ta hy sinh để ph́ gia, tham quyền, cố vị, tranh chấp hàm tước, lập điạ vị sau lớp hia măo mà quên đi trách nhiệm của đất nước. Thức trốn lần nữa vào làng Tề để t́m thấy cái chân lư thật sự của một nơi xa xuôi hẻo lánh, nghèo nàn, cam phận thủ thường, không bon chen cầu cạnh ; ǵn giữ những vuông đất mảnh vườn, con sông bến nước và luôn luôn pḥng chống những kẻ âm mưu phá hoại. Một chọn lựa đích thực của ‘kẻ sĩ’ ; ẩn ḿnh  không có nghĩa là ‘chịu trận’ mà v́ quá thương cha, quá thương cái gia tài của mẹ để lại cho con mà đành tránh xa cái đám dao gâm mă tấu, mặt chai mày đá ; trốn c̣n hơn phải đối đầu với một thứ chiến tranh khác, một thứ chiến tranh hù nạt, bắt bớ, đ̣i hỏi, tư kỷ, ‘đầu tiên’ những nhu cầu đó phát sinh từ tầng lớp ít học ưa trị v́ thiên hạ, một thứ quan liêu phong kiến mới không khác ǵ thời thuộc điạ. Họ hô hào cho một đất mới, người mới, việc mới, công bằng xă hội không có cảnh người bóc lột người, nam nữ b́nh quyền. Đó là mỹ ngữ dành để ngu dân nhưng vô t́nh đă hủ hóa. Bên trong cái tinh thần xây dựng đó lại chứa một thứ khác nguy hiểm hơn: đó là cửa quyền, chính cửa quyền đưa tới lạc hậu… Thức thấy được mặt thực của ngày nay, đành chọn cái ‘thiên chức’ làm cứu cánh, một phương tiện đưa tới phẫn nộ tự đáy tâm can ; hành động nầy của Thức như trả ơn đời, trả ơn người và coi đây là nghĩa vụ đóng góp cho làng Tề. Giáo Thức không lấy làm tự măn mà cho rằng con đường chưa đi tới; chẳng qua lấy cái đam mê mà che nỗi đau. Kẻ sĩ ngày nay là nhận thức chớ không rêu rao v́ kêu rêu lâu ngày thành ra giả tạo và khuôn sáo với quần chúng mà chẳng giải quyết được ǵ. Giáo Thức ôm cái t́nh đất nước trong ḷng, làm mới trong tư duy, mơ một đất nước lành mạnh và sáng ngời khởi từ đám lao động, chân lấm tay bùn. Đến bây giờ giáo Thức ở tuổi ngoài 70 mà hoài vọng đó vẫn c̣n ngổn ngang, g̣ đống, nhưng Thức không tuyệt vọng mà chỉ mong sao trong triệu người sẽ có người cảm thông được cái chí khí ‘trốn lính’ xưa và nay của con người phản kháng từ ḿnh mà ra.

 

3.

Kiều Thục Oanh là bí danh ; cái thời buổi ưa chơi chữ, tạo hiện tượng, từ già tới trẻ đều có bí danh để ‘trốn lính’, một siêu vi âm không cho ai biết mặt ngang mày dọc ; chọc trời khuấy nước, muôn h́nh vạn trạng để dễ bề trốn chạy, dễ bề đổ hô đổ thừa. Không ai biết ḿnh là ai, thật hay giả. Đó là siêu âm! Tại sao đă là người hùng mà mang trong người nhiều tên tuổi kỳ bí ? Tại sao phải giấu mặt, ẩn danh. Sợ ai ? Đâu có trộm cướp mà sợ. Đường đường một đấng anh hào. Rơ ràng là thế. Đó là lư thuyết ; nhưng chưa hiểu hết ư của cái gọi là bí danh thâm hậu, cái thứ đó nó có một siêu lư của nó. Chỉ có trời mới hiểu ḷng dạ của bí danh. Mà lạ ; cứ cái đà đó, đua nhau nối đuôi lấy bí danh để huyền thoại hóa, hay thần tượng hóa ( ?) cho một kỵ sĩ không đầu để được tôn thờ. Thế kỷ 21 coi bí danh là cổ ngữ La Hy ! Cho tới nay lịch sử nhân loại ghi nhận như chuyện lạ, chưa từng có trong ‘Guinness’ đó là hiện tượng của một kỳ quan ngôn ngữ -the most incredible-. Rất ít người trên thế giới chơi bí danh, ngoại trừ trường hợp đặc biệt.

Chín Sẹo làm nghề đánh cá ở đồng bằng sông Cửu Long, thường đi rớ giữa đêm khuya với ngọn đèn dầu heo hút, không soi nổi mặt nước. Tầm vóc của Chín Sẹo cở trung b́nh, mặt mày nhem nhúa, Chín Sẹo mỗi khi nói phát ra giọng ‘ngỗng đực’ eo éo khó chịu, đối diện y tưởng chừng như Chín Sẹo ‘lại-cái’. Vậy th́ Chín Sẹo có biệt danh. Đúng ! y đạp trúng ḿn khi đi chơm cua, nhái ngoài đồng ; người ta chỉ biết vậy thôi. Chơm hay chôm chẳng ai quan tâm, bởi ; y kín từ lời ăn tiếng nói, chỉ hay mảnh ḿn để lại trên đôi chân chín vết thương, chữa trị theo thuốc Nam, thuốc dân tộc cho nên chín vết sẹo thâm quầng khó ngó. Chín Sẹo nh́n vết thương mà tưởng chừng như dân mặt rạch. Chín đau khổ lắm nếu một mai kia cởi quần thay áo mà người t́nh thấy được th́ đâu c̣n là kỷ niệm đẹp. Chín Sẹo ám ảnh về người mà ḿnh thầm yêu ở Năm Căn. Hồi đó Chín học hành chưa tới nơi, bữa học, bữa nghỉ theo cha ra ruộng hay xuống sông ṃ tôm, bắt ốc. Rồi một vài năm sau Chín đi biệt tăm, nghe đâu đi về Tây Ninh có ngơ qua Cam-Bốt và Lào làm ăn... Nằm ‘bồi dưỡng’nhà thương làng ở một nơi đèo heo hút gió. Tinh thần và thể xác Chín Sẹo ‘xuống cấp’ thấy rơ ; ngẫm đời ngao ngán sanh chứng làm thơ, học hành đâu mấy sản mà lại có hồn thơ yêu nước. Ấy mới lạ ! Khi xuất thần thành thơ, Chín Sẹo đọc đi đọc lại thấy thỏa dạ ; không nhẽ kư dưới bài thơ Chín Sẹo Nguyễn Tức Đối nghe không êm tai chút nào cả mà thơ lồng ư, ư lồng thơ dù thơ bày tỏ ḷng yêu nước (không nổ sản bài thơ coi như dập) trong đó có vài câu ám chỉ về người thầm yêu. Nhớ ra cái tên : Kiều thị Oanh, lanh trí chơi một bí danh rất văn chương phụ nữ  Kiều Thục Oanh. Vừa đẹp, vừa kín mà không ai biết người ḿnh thầm yêu là con gái cưng có học hành của chủ vựa cá tra nổi tiếng Cà Mâu. Có nhiều người ḍm ngó, Chín Sẹo cũng háo hức nhưng chỉ thầm thôi !

Chín Sẹo liều mạng gởi bài thơ cậy đăng trên nhật tŕnh in tay ‘rô-nê-ô’ phổ biến kín trong rừng rậm. Chơi thành thiệt, bài thơ hứng t́nh lại gây chú ư trong những đơn vị gần xa, được trớn Chín Sẹo không c̣n là thi sĩ nghiệp dư mà thành nhà thơ chuyên nghiệp. Thơ Chín Sẹo lọt tai cấp cao, lời thơ ngợi ca, có tính động viên tinh thần của người ái quốc. Bộ phận văn nghệ tuyên truyền cho điều tra thi sĩ nữ để thu nạp chức năng. Từ đó tên Nguyễn Tức Đối được đời nhắc nhở qua bí danh Kiều Thục Oanh. Đố ma nào mà biết nam hay nữ chỉ có thành phần ṇng cốt mới biết Chín Sẹo chính là Kiều Thục Oanh. Nghe như tên Tàu và năm tháng qua Chín Sẹo làm lớn trèo lên ghế bành. Bí danh Kiều Thục Oanh ngang nhiên có tên trong văn học sử, nhưng không có tiểu sử thật chỉ có tiểu sử do ai đó dựng nên với tiêu đề nhà thơ nữ yêu nước. Đến nay vẫn c̣n lưu truyền trong nhân gian, nhưng không hợp thời với kỷ nguyên nầy và ngay cả thi sĩ cũng quên luôn mấy vần thơ ngợi ca gây ra từ tấm gương phản chiếu. Chín Sẹo Nguyễn Tức Đối bỏ làm thơ với cái hư danh Kiều Thục Oanh. H́nh như Nguyễn Tức Đối chịu ảnh hưởng của trào lưu văn minh Tây phương mà cảm thấy thẹn cho chính ḿnh. V́ nửa quăng đời lỡ ông, lỡ thằng, không đủ chữ nghĩa để đối đáp. Học! đầu óc đâu có vô chữ mà học. Vô tiền th́ có. Có học bập bẹ đôi ba tiếng nhưng vẫn chưa thông, cứ ra bồi. Chín Sẹo bực lắm !

Tiếng c̣i bên ngoài réo dài làm cho Chín Sẹo Nguyễn Tức Đối giựt ḿnh là kẻ dối ḷng ./.

 

VƠ CÔNG LIÊM (những ngày ở vn.5 và 6/2013)

 

 

trang vơ công liêm

 

art2all.net