vơ công liêm


LĂO TỬ

ĐẠO ĐỨC KINH


          Nói tới Lăo Tử (Lao Tzu) là nói tới Đạo Đức Kinh (Tao Te Ching); không thể thiếu một danh xưng đi theo đó. Bởi; Lăo Tử là tư tưởng vĩ đại của người Trung Hoa, một ảnh hưởng lớn xuyên qua mọi thế hệ và thời đại, một độ dày có tầm cở quốc tế nương theo. Nó dẫn đến một tác phẩm kinh sách có tới năm ngàn đặc tính sâu sắc –the book of five thousand characters. Dẫu rằng; trong mọi sự kiện, hầu hết nêu lên vấn đề, sự kiện của một cá nhân hay trên quan điểm của một cá thể; một văn bản có độ sâu thâm hậu, chất chứa một ít triết lư nhân sinh, nhẹ nhàng mà dài lâu hơn tất cả mọi lư thuyết khác. Một tác phẩm cô đọng, ngắn gọn được xem là văn tự cổ của người Trung Hoa, một ngữ ngôn súc tích, hàm chứa và nó cũng là kiểu thức đặc biệt mà trong mỗi thiên đều viết ra những sự lư thông thường từ những dữ kiện khác nhau trong đời người; không đúc kết hay cô đọng sắp vào đó một sự lư âm u, tối nghĩa. Không c̣n nghi ngại mỗi khi diễn giải qua các ngôn ngữ khác nhau mà hầu như thông thường. Thế nhưng diễn giải cho đạt ư là cả một tôi luyện công phú (văn hóa và ngữ ngôn Trung hoa) th́ may ra thấm nhuần đạo lư chân không của Lăo giáo. Một tác phẩm như nhiên –as the nature of the work attracted many whose enthusiasm for Eastern mysticism; quan tâm một cách nồng nàn cho những ǵ là bí truyền Đông phương.


Phẩm văn của Lăo Tử được chia ra làm hai phần chính. Đây là một sự lư đă hoàn tất, có thể đó là một thích nghi đưa tới xác định cho một phát biểu trong cuộc đời và sự nghiệp của Lăo Tử; điều đó cho chúng ta t́m thấy những ǵ ông đă viết ra như một yêu cầu của kẻ giữ ǵn, chăm chút về chặn đường vượt qua (Keeper of the Pass). Bất luận ở hoàn cảnh nào, sự phân chia trong lư thuyết ít nhất đă khơi dậy từ thế kỷ (tk.) đầu (AD). Vin vào đó chúng ta có lư do để tin rằng sự phân chia trong văn bản gồm có tám mươi mốt chương- ba mươi bảy trong bản văn I và bốn mươi bốn trong bản văn II. Cho tới cuối tk. thứ hai (AD) Bản văn mới thành h́nh và nổi tiếng bởi có sự lựa chọn giữa một trong hai; để rồi đúc kết dưới tựa đề Đạo Đức Kinh. Theo bản văn I th́ trước đó được biết là Đạo Kinh (Tao Ching) và bản văn II là một phần đặc biệt trong Lăo giáo gọi là Đức Kinh (Te Ching) là một chứa đựng của ‘độ lượng / bounty’ và ‘ḷng biết ơn / to be grateful’.Theo qũy tích sơ cổ của thế truyền th́ Lăo Tử đă được ghi trong chính sử (Shih chi) là một biên niên lịch sử tổng hợp của Trung Hoa và bắt đầu việc chép sử vào đầu tk. thứ nhất (BC) của Tư Mă Thiên (Ssu-ma Ch’ien):


Theo sử kư Tư Mă Thiên: Lăo Tử là người nước Sở (Ch’u) huyện Khổ (Ch’ũ Jen), làng Lệ (Li) thuộc tỉnh Hồ Nam (Hu Hsien). Ông họ Lư (Ly) tên thường gọi là Nhĩ (Erh), tên chữ là Đạm (Tan). Ông là người kinh sử thuộc đời nhà Chu (Chou). Sinh vào khoảng tk. thứ Sáu trước Tây lịch (AD). Lăo Tử một nhà trí thức trầm mặc, tu luyện nhân tâm đạo lư. Một tư tưởng bí truyền khác với người cùng thời. Kiểu cách cũng như tư duy đều ghi lại trong Đạo Đức Kinh.


Trong lần gặp gỡ và trao đổi giữa Khổng Tử và Lăo Tử. Khổng Tử miêu tả Lư Nhĩ như sau: ‘tôi biết chim có thể bay cao, cá có thể lội sâu và thú có thể chạy nhanh, v́ thế mà có thể làm ra cái bẫy, v́ thế mà thả theo ḍng nước để lưới, v́ thế mà có thể tạo nên sợi dây thừng với cung tên. Nhưng sự uốn lượn của rồng trong trời là gió và mây, là những ǵ ngoài sự nhận biết thông đạt nơi tôi. Ngày nay tôi thấy Lăo Tử người có lẽ giống như con rồng’. Lăo Tử cải tiến về đạo và đức, dạy về làm người là hướng tới ở chỗ tự xóa bỏ (self-effacement). Lăo Tử sống dưới thời nhà Chu không lâu là lên đường ra đi; trong khi đến cửa ải để vượt qua (the Pass) Người giữ ải (Keeper) tha thiết nói với ông rằng: ‘Trong khi ông đối diện mọi thứ để rồi lià xa thế giới mà ẩn dật, v́ tôi thời ông có thể viết vài điều không? As you are about to leave the world behind, could you write a book for my sake?’. Kết quả cho biết; Lăo Tử đă viết sau đó thành hai thiên, đặt vào đó một nghĩa cử của Đạo / Way và Đức / Virtue nằm trong năm ngàn đặc tính khác nhau và từ đó khởi sự lên đường. Không ai biết nơi đâu ông đến và dừng chân ở đâu. Theo truyền thuyết Lăo Đạm Tử (Lao Tan Tzu) là người gốc nước Chu đă viết mười lăm thiên (p’ien) dùng để giảng dạy ở trường Lăo giáo, một lư thuyết đương đại với Khổng Tử. Lăo Tử đă sống trên một trăm sáu mươi tuổi, có người lại nói sống nhiều hơn thế nữa –có thể v́ lư thuyết đạo đức mà luyện được tâm hồn và thể xác để sống lâu? Chẳng qua đó là dự phóng mà thôi! Lăo Tử là con người b́nh thường nhưng có một trí tuệ siêu việt làm nên để được sống lâu hơn(?). Nói cho cùng; Lăo Tử là đấng trượng phu người đă sống trong ẩn mật xa lià trần thế / Lao Tzu was a gentleman who lived in retirement from the world. Ít ai nhắc đến cái tên Lư Nhĩ của Lăo Tử. Lư Nhĩ (Li Erh) chẳng là ǵ cả; người đời chỉ chuyển hóa danh xưng cho hợp tánh khí với con người ông. Rứa th́ ‘Nhĩ’ là Lăo Tử tai nghe thấy được? Hay ví von cho bậc tài trí? Không! mà thực ra là giữ lại cái nguyên trạng trong suốt và cái ǵ c̣n lại nơi con người một thứ tinh anh chuẩn mực của tự nó mà ra. Thành ra Lăo Tử trở nên huyền thoại nhưng trên thực tế Đạo Đức Kinh là một chứng thực hiện hữu dài lâu và truyền lưu nhân thế. Đi vào vô tận. V́ vậy Lăo Tử đă lấy Đạo làm gốc và Đức làm nhân nghĩa lễ trí tín. Một thứ học thuyết mang tính chất triết lư siêu h́nh. Bởi; theo Lăo Tử là vận chuyển vào tâm thức một vi diệu tính không, một sắc không và một vô thể của Có và Không; chính những yếu tố đưa tới một cái ǵ siêu h́nh. Tại sao Lăo Tử xây dựng tư duy có ư nghĩa hơn là chuộng vào lời văn hay rao giảng mà xử lư hoàn cảnh trong cái tự xóa bỏ để đi tới nhân tâm. Do đó đọc Đạo Đức Kinh là suy hơn là giảng. Tác phẩm này đă viết ra hơn hai ngàn năm trăm năm lịch sử cho nên so ra giữa thời đại tiên tiến th́ có một vài điểm dị biệt hơn thuở đó. Chủ yếu Tu thân, Tề gia, B́nh thiên hạ là cơ bản dựng nên Đạo Đức Kinh trong đó đặc nặng vấn đề chính trị và nhân văn xử thế. Đạo của Lăo Tử là VÔ. Đạo vô thường đạo nghĩa là đạo không làm ǵ nhưng không việc ǵ mà không làm. Đạo của Lăo Tử là nhân từ, như nhiên không hơn thua, vô tư như vạn vật (động vật, cây cỏ) là sự sống hồn nhiên, trong bóng. Vậy th́ Lăo giáo là sắc tức thị không (Phật giáo sau này), bởi; ‘Nhĩ’ là ‘Seemed / Seeming’ có vẻ như là có thể Không và Có của Đạo. Ba thứ này hợp nhất lại mới có đặc tính riêng biệt của nó: ‘Thị chi bất kiến / Thấy nhưng không thấy’, ‘Thính chi bất văn / Nghe nhưng không thành văn’, ‘Đoàn chi bất đắc / Không nắm bắt được’. Cái nh́n, cái nghe của Lăo Tử là vũ trụ hư vô. Nh́n chung Đạo của Lăo Tử khác Đạo của tôn giáo khác. Lư theo chiều hướng Đạo của Lăo Tử th́ không có một văn bản hiện hữu làm trụ cột để lư giải trong triết thuyết của Lăo Tử, nhưng trong tất cả phải là trong sáng tốt đẹp nét triết lư nhân sinh quan cũng là chủ đích đưa tới tính không (Vô/ Nothingness) trong những bản văn mà mỗi bản văn đều có một sự mâu thuẩn không tương hợp với nhau ngay cả lư giải qua từng trương mục đă viết như một nguyên nghĩa của Lăo Tử hoặc không coi đó là nguyên nghĩa mà có thể đó là một giá trị hiện hữu tồn lưu thuộc về những ǵ có tính chất triết học. Thể thức đó có thể gây ấn tượng để làm nổi bậc những điểm khác nhau theo thể loại thuộc về siêu h́nh, đấy là lư do tương tợ tập quán phương Tây của những ǵ mà Plato đă đưa ra những đặc thù trong lư thuyết của ông. Theo hướng của Plato là đối tượng hữu thể là vũ trụ cảm tính, là những ǵ không thực trong phạm vi qui mô; đấy là điều có thể nói lên được, cùng lúc của bất cứ một trong những ǵ Có và Không mà nó là cả hai có A hoặc là không có A. Nó không phải chủ thể trong vũ trụ này, không vấn đề vây quanh, là; những ǵ mà chúng ta không thể phát thành lời mà bằng suy nghiệm. Lăo Tử quan niệm chữ nghĩa chưa phải là tiếng nói mà ngữ ngôn đưa tới suy nghiệm. Tuy nhiên; cũng có thể là sai lầm quanh những ǵ đưa ra và cũng có thể là điều chân thật. Nhớ cho ở điểm này: cốt tủy của Lăo Tử là luận (suy) hơn là giải (bằng văn tự). Từ cơ bản đó triết học nói chung và Trung Hoa nói riêng là dẫn đến cái lư thâm hậu của tính-không tức là đạt tới nhân-tâm. Lăo Tử, Khổng Tử hay Phật Tử không phải là tôn giáo mà là thứ tôn giáo rao giảng chớ không phải là đấng để thờ phượng hay cầu xin mà chính yếu là cung-ngưỡng; thờ cái đạo lư tánh không; đấy là theo đạo. C̣n bằng không chỉ là chuyện để nói mà thôi. Lăo Tử nhấn mạnh:‘có thực mới vực được đạo’ là cơ bản nồng cốt trong Đạo Đức Kinh. Tại sao lại có cái sự phủ nhận một cách đoan quyết? Bởi vạn vật trong vũ trụ là Không, là Hư vô mà chỉ c̣n lại Tánh không nghĩa là không ‘trượt’ mới thành đạo. Trên quan điểm của Lăo Tử th́ Đạo/Way là con đường, nhưng; trong Đạo Đức Kinh ẩn một ư nghĩa thâm hậu ‘con đường biến thiên vạn vật vũ trụ’ nghĩa là vô h́nh, vô ảnh nhưng mà lại hữu h́nh. Cái đó gọi là tính siêu việt của đạo, là nguyên lư siêu h́nh cho nên chi không thể dùng lời để luận bàn mà là một cái ǵ huyền nhiệm vô cùng và bao la vi diệu pháp kinh. Siêu h́nh ở chỗ này: ‘Đạo bất khả văn / văn nhi phi dă. Đạo không thể nghe được / nghe được thời không phải là Đạo. Đạo bất khả kiến / kiến nhi phi dă. Đạo không thể thấy được / Thấy được không phải là Đạo. Đạo bất khả ngôn / ngôn nhi phi dă. Đạo không thể diễn tả được / Diễn tả được không phải là Đạo’. Lăo Tử cho rằng: ‘Đạo có trước cuộc đời nhưng đến sau cuộc đời’ đó là ḍng vận hành của lẽ đạo. Đạo là cái ǵ đơn-thuần (simple) và đồng-nhiên (same/même) nhưng lại bao trùm tất cả vạn vật. Khắp nơi đều có đạo. Đạo chẳng riêng ai khắp mọi nhà. Ấy là đạo vậy! Nhưng trong vũ trụ là cơi bao la nhưng tồn hữu, tồn lưu, tồn lại và tồn thế; nh́n vào vũ trụ quan là thể chất (form) siêu h́nh của Đạo. Như đă nói ở trên ‘self-effacement’ là tự xóa mọi vọng niệm để đi tới chân không, thoát ly những hiện tượng ngoại giới để tâm lắng đọng (meditation), một tâm trí hoàn toàn trống không (nothingness/ néant) tức là loại bỏ để tâm như nhiên, trở thành vô-dục tức thấy-nghe-biết sự huyền nhiệm của Đạo. Ấy là đạo vậy! Thời lúc đó ta phân biệt được Có và Không trong lẽ đạo. Trái lại thể chất là chân lư sự thật được biểu lộ qua ư thức nhận biết, bởi; nó là cái vô nghĩa để nói về thể của ṿng luân hồi mà là không phải ṿng tṛn quay –The Forms, on the other hand; are truly real because it is nonsense to say of the Form of Roundness that it is not round. Những ǵ Plato đủ khả năng hay cường điệu cho rằng Thể chất / Forms thật sự là chính xác th́ điều đó có thể là lời tuyên bố không đúng đắng hay sáng tỏ chân lư của Đạo/Tao mà đạo là thực thể không thể thay đổi được, mà bất biến –What in Plato qualifies the Forms for reality is precisely that which would disqualify the tao from being the immutable way. Sở dĩ đưa lư lẽ này ra đây là có một cái nh́n tổng thể của Thể , của Có và của Không cho mỗi đặc tính riêng biệt của nó.Cái thuận lợi của Lăo giáo là tư duy ổn định, trong khi Plato đưa tư duy vào đường cùng không thể an nhiên tự tại với toàn diện của thể chất, mà chỉ nêu lên thể chất của ḷng tốt mà thôi. Tựu chung trong mọi lư luận là đi tới thực chứng của sự kiện (Plato) c̣n Lăo Tử th́ đi tới thực chứng của hiện hữu tánh không. Đạo là con đường lớn dẫn tới nhất thể (như nhà Phật đă rao) nghĩa là không có hai mà một nhất thể tức nhất quán dù là sự kiện hay hiện hữu tánh không. Đă một thời có nhiều người nh́n Lăo giáo (Tao chiao) là một vị trí đối kháng và nh́n tới tao như không có thể nhận thức được. Nhưng; trước đó là hoàn cảnh thuận lợi và tuồng như c̣n tùy vào người hưởng ứng. Không một lư do ǵ cho chúng ta nghĩ đó là giả định mà ở đó là một tổng thể chân lư có thể nhận biết được; là hiện thực được xem như siêu việt tánh không. Và; từ đó Đạo Lăo là hoàn toàn được thừa nhận như một lư thuyết chính đáng. Không c̣n nghi ngờ mà sự thật.


Chua thêm ở đây về ư nghĩa Đạo của Lăo Tử là tránh sự nhầm lẫn, bởi; ngữ ngôn trước và sau (Hán/Nôm) có cái giống nhau nhưng lại khác nghĩa đưa tới ngộ nhận hoặc sai lầm chữ nghĩa của Lăo Tử xử dụng trong Đạo Đức Kinh. Lăo Tử nói: ‘Đạo khả đạo phi thường Đạo’. Đạo ở đây là Con Đường dịch đúng nguyên nghĩa và tinh thần th́ Đạo / The Way / The Path / de la Voie. Đạo là hướng đạo, người dẫn đường; cho nên chi ‘Đạo khả đạo’ nghĩa Đạo là lời Nói, lời trao đổi với nhau. V́ vậy Đạo ở đây là tiếng nói chân lư (real) chớ không phải Đạo (thuộc đạo của tôn giáo) c̣n ‘phi thường đạo’ mang một trọng tâm khác là Thường Hằng không thể thay đổi được, nó miên viễn, có một nghĩa khác ‘phi thường Đạo’ là con đường vĩnh cửu mà là vận hành, biến đổi muôn h́nh vạn trạng giữa vũ trụ và con người. Do đó chuyển dịch cho sát nghĩa và tinh thần của Đạo Lăo (Taoism) đ̣i hỏi một sự thông đạt về ngữ ngôn giữa Hán và Nôm. Sai một ly đi một dặm là rứa đó. Đôi khi làm cho thơ/văn tối nghĩa là vậy. C̣n như (as if) nói ngoan Lăo Tử Đạo Đúc Kinh là nói suông (như luộc rau nửa sống, nửa chín) th́ cái đó nói chơi cho vui, cho ra vẻ rành rọt thôi; chớ tạng thức của của cụm từ Đạo Đức Kinh là chứa ba đặc chất khác nhau như đă giải ở trên : Đạo / The Way, Đức / The Virtue, Kinh / The Book / Le livre; tuy cùng một qũi đạo nhưng Trong qũi đạo và Ngoài qũi đạo là một hàm chứa khác nhau. Bởi; Đạo không có h́nh tướng nhưng vận hành th́ thành Đức hợp lại thành Kinh. Nói chung Đạo là một thực thể sống thực, nói lên cái siêu lư giữa vạn vật vũ trụ, v́; Đạo ngó vậy mà vô thủy vô chung, là thường hằng có sinh có tử không thể là vĩnh cửu. Đạo là con đường sáng không thể phai mờ hay lụn tàn theo thời gian. Đạo luôn hiện hữu; v́ Đạo là của con người, có người là có đạo, bởi; đạo là tương giao. Ấy là đạo vậy!


Trong Đạo Đức Kinh Lăo Tử nhắc đi nhở lại qua nhiều thiên, rốt ráo chỉ nói đến Không tức là nói về Đạo. Không ở đây là tên gọi nguyên thủy của Trời Đất và Người. Lăo Tử đặc vai tṛ thiên điạ nhân là h́nh tượng của vũ trụ giới, ngôi thứ đó là cơi ngoài (beyond) là cơi hư-vô là cơi Không thuộc về thế giới Vô-thể; không màu, không sắc nhưng bắt chụp được . Ấy là đạo vậy! : là tên gọi của mẹ vạn vật như mẹ thiên nhiên là nói về nguồn gốc con người tức nguồn gốc nguyên thủy sự vật v́ Đạo là gốc của sự vật ở cơi đời chớ không phải nguồn gốc vật chất cấu thành Đạo.V́ vậy Đạo là một tổng hợp giữa Không và Có mới làm nên Đạo. V́; Đạo là hiện hữu, bất biến, phi thường cho nên chi Lăo Tử đi từ Vô đến Hữu để đi tới ‘tự-thể, tự-tánh’ để trở về bản thể uyên nguyên nghĩa là không c̣n vướng đục, vướng dục tức là tự xoá lấy ḿnh đó là Lẽ Đạo; một tất định như nhiên của ṿng quay là ḍng sinh hóa hủy diệt của vạn vật và được coi sự biến thiên đó là hiện tượng luận. Heidegger cho đây là con đường vận hành của Đạo làm người; là con đường hiện hữu / the way of being / chemin de l’Être. Lăo Tử gieo vào người những đức tính luân lư đạo đức cái đó là thiết yếu trong Lăo thuyết; một lư thuyết nói đến tâm vô lượng, tâm b́nh đẳng tức cái tâm bất-nhị nghĩa là có hai (nhị nguyên) nhưng không có hai (nhất thể). Lăo Tử nói đến cái tâm không phân biệt mà đồng-nhiên (same/même) và giản đơn (simple) trước vấn đề để thành Đạo. Trong suốt mấy chục chương chỉ một lư giải giản đơn nhưng bao hàm một nhân sinh quan về Lẽ Đạo. Đạo Đức Kinh là một triết lư tâm lư nhân sinh không có ǵ khác hơn. Ấy là đạo vậy!


Nhưng nhớ cho điểm này: ‘Đạo đức của cái sự không tranh chấp, hơn thua, đồng ư hay bất đồng’ mà là phương tiện có thể giúp cho con người đánh bại kẻ thù ḿnh mà không đem lại hay tiếp nối vào hậu quả. Ở đó chỉ có nhiều hướng đi nhưng chỉ ngợi ca là vô chấp ngă mà thôi’. –The virtue of non-contention enables a man to ‘defeat his enemy without joing issue. There are many passage in praise of this ‘virtue of non-contention’. Dường như trong ngữ ngôn của Lăo Tử cho rằng chữ ‘Không / Nothing / Wu là thường bắt gặp trong Đạo / Tao; bởi Đạo ở đây có nhiều đặc tính khác biệt mà đôi khi khó để lănh hội, sinh ra nhầm lẫn hoặc đối kháng lại cái Đạo tiên chỉ của Lăo Tử. Có thể chưa niệm được tính-không trong đó. KHÔNG là tác động thích đáng trong Lăo thuyết / Taoist-theory coi như giáo lư. Trước mắt ta bắt gặp ‘wu wei’ và sau đó là ‘wu ming’. Wu wei là không tác động c̣n Wu ming là không danh tính, bởi ‘wu’ có nghĩa không có /not to have tức là Vô. Ở đây không có nghĩa rằng chấp nối, tiếp dẫn (connexion) vào nhau giữa wu wei và wu ming, trái lại wu c̣n có nghĩa khác của nó là ‘không có cái có và cũng không cái không / ‘not to have’ and so ‘nothing’ mà đó là thể (form) của cơ bản nguyên thủy, là duy nhất một thứ ngữ ngôn. Nói về Đạo/Tao là nói về hành động là hạn hữu có thực hiện hữu, bởi; nó có tính chất đơn thuần cho mọi điều, nó phải là, bằng mọi ẩn ư trong đó, bỏ đi những ǵ chưa hoàn thành. Không có một tương quan hiện sinh giữa Đạo và chắc chắn đó là mối quan tâm để ngăn ngừa những thứ khác xẩy đến. Trọng tâm của Lăo giáo là ngăn ngừa, chận đứng mọi nghi hoặc, vọng niệm, những thứ đó làm băng hoại trí tuệ, mất đức và trí th́ không c̣n là con người. Có chăng là loại người thuộc dạng tâm thần phát sinh những tư duy ngu xuẩn, đốn mạt, phá hoại những thứ đó trộn lẫn trong đời hoàn toàn không phù hợp tinh thần của Lăo giáo; lẽ đạo đă bị tiêu diệt bởi những siêu vi, một thứ siêu vi vô thức, một thứ vô thức không nguyên nhân / without cause. Nguyên nhân chính trong Lăo thuyết là hướng tới như-nhiên để đi vào chân-không của sắc-không là Lẽ Đạo. Ấy là đạo vậy!


Tư tưởng của Lăo Tử trở nên một thứ triết thuyết của Lăo giáo, một triết lư vô biên đă phản ảnh qua cuộc đời của từng thế kỷ, một triết lư thông thường và dễ ḥa nhập vào ḷng người từ xưa cho đến nay. Bởi tất cả gói trọn trong một tư duy siêu h́nh, cần suy nghiệm hơn là đọc bằng lời, nó chứa đựng cả hai mặt Đạo và Đức, Đạo và Đời so ra nó có một sự tương đồng cùng những giáo phái khác. Nói lên một thứ chân lư tối thượng. Không một thiên nào trong Đạo Đức Kinh là vô h́nh, vô tưởng hay siêu h́nh mà là một chứng cớ thiết thực. Siêu h́nh ở ngữ ngôn nhưng vi diệu ở tư duy một cách đơn giản.


Dẫn ở đây văn bản của Thiên Một trong Đạo Đức Kinh của Lăo Tử. Nguyên nghĩa của Hán ngữ chúng tôi không viết ra đây mà chỉ dịch âm và nghĩa qua Việt ngữ của bốn đoạn luận. Dịch về Anh ngữ thông thường tránh dùng đại danh từ ‘nó/it’ và ‘chúng/they’ và những ǵ không có từ trong Trung ngữ đă viết ra mà lời giải bày ở đây là bao hàm ẩn ư trong nghĩa lư của nó; đại để như thế:

Dịch Âm.
1- Đạo khả đạo, phi thường đạo
Danh khả danh, phi thường danh.
2- Vô danh thiên điạ chi thủy
Hữu danh vạn vật chi mẫu.
3- Cố: thường vô dục, dĩ quan kỳ diệu
Thường hữu, dục dĩ quan kỳ hiếu.
4- Thử lưỡng giả, đồng xuất nhi dị danh
Đồng vị chi huyền. Huyền chi hựu huyền. Chúng diệu chi môn.


Dịch Nghĩa Việt.
1- Đạo có thể dùng lời để diễn tả được, thời không phải là con đường thường hằng, bất biến.
2- Không tên là nguyên thủy của Trời Đất. Có là tên gọi mẹ của vạn vật.
3- Rứa cho nên: trong cái không thường hằng thời chúng ta muốn xem sự vi diệu của Đạo.
4- Hai cái đó cùng sinh mà tên khác nhau đều là kỳ diệu. Vi diệu hiện hữu là càng vi diệu. Đó là cửa ngơ vi diệu biến hóa thần thông của vũ trụ.


Dịch Anh ngữ.
1- The way that can be spoken of. Is not the constant way;
The name that can be named. Is not the constant name.
2- The nameless was the beginning of heaven and earth; The name was the mother of the myrial creatures.
3- Hence always rid yourself of desires in order to observe its secrets; But always allow yourself to have desires in order to observe its manifestation.
4- These two are the same. But diverge in name as they issue forth.; Being the same they are called mysteries. Mystery upon mystery. The gateway of the manifold secrets.


Tóm lại: chúng ta đă nói hay đă đọc hay đă nghe, đó là những ǵ chúng ta đi qua ít để lănh hội lư thuyết Lăo Tử mà chúng ta đă t́m thấy hay tiếp thu với khả năng chứa đựng; đó là chià khóa của ư niệm từ trường học hay trường đời hay cái thời xa xưa chiến quốc (Warring State); muốn hiểu Đạo của Lăo Tử không nương vào sự cầu mong hay không may, không dựa vào ai để noi theo, mà tin ở ḷng trung thực của Lẽ-Đạo. Đạo vốn có ở tự tâm. Vũ trụ của Đạo là vũ trụ đạo làm người. Có hai lư do để xét đoán. Lẽ thứ nhất; chúng ta thu thập từ kinh điển, từ trường học, trường đời là vẫn tồn lưu nhân thế. Lẽ thứ hai; là ư niệm hợp thông giữa đại học đường và đại học đời là ấn tượng sâu đậm rất thông thường, đó là những dữ kiện khác biệt giữa những ǵ trong kinh hay sách vở, nó nằm trong phạm trù lư thuyết hơn là bản chất tự tại. Ở đây chúng ta không coi trọng để qui phục –‘valuing the submissive’ hay coi trọng sự trống không vô biên ‘valuing the empty’ hoặc là tránh xa lư thuyết đưa tới ‘avoiding the lead’. Những ǵ đưa ra tợ như nhau? Có thể một trong những trường hợp đưa ra gần giống như lư thuyết thường dùng để ‘ngụy tạo tư tưởng’, nhưng; mỗi thứ là một thứ sắp đặt khác nhau trong cái biểu ngữ đề ra hay lư giải theo chiều hướng khác hay theo tư duy cảm quan để nói tới giáo lư của Lăo Tử. Cho nên chi cái thận trọng trong ngữ ngôn Đạo Đức Kinh là tiêm nghiệm để thấy được chân lư của nó, đọc Đạo Đức Kinh như kinh điển, giáo điều th́ hoàn toàn lệch hướng tư duy của Lăo thuyết. Văn phong cô đọng, ngắn gọn, thiết thực là đúng đường lối chủ nghĩa của Lăo thuyết. Lăo Tử đến trong một tư duy tổng quan để mô tả chân lư tối thượng của Lăo giáo. Thế nhưng sự thật của vấn đề là những ǵ vừa đủ (scanty) là đủ (enough is enough). Chúng ta có thể củng cố niềm tin nơi chúng ta; cái đó là hợp tuyển của Lăo Tử mà chúng ta trước sau sẽ t́m thấy. Thực sự đă t́m thấy chân lư đó vào đầu tk. thứ ba (BC) như một kinh điển nổi tiếng của Lăo phái. Không cần để nói, không cần phải hết ḿnh mà nó đă là thông điệp cho một chân lư tánh-không, một vi diệu pháp-kinh đă chuyển vào đời người qua tâm thức siêu việt tính, của những ǵ vi diệu pháp mà Lăo Tữ để lại từ mấy ngàn năm qua. Không cần đứng trên cơ sở lư luận v́ bản chất của Đạo Đức Kinh là một lư luận cơ bản và thiết thực giữa Không và Có ./.

VƠ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . jan/2017)

SÁCH ĐỌC: ‘Lao Tzu Tao Te Ching’ by D.C.LAU. Penguin Books.. Published London,Canada and USA 1963.


T̀M ĐỌC THÊM: ‘-Vô thức Hữu thức / -Phân tích Tâm lư thuộc Triết học Tự nhiên / Vi diệu Pháp kinh / -Pháp giới Dhammapada’. Những bài trên của vơcôngliêm hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc l/l theo điạ chỉ email.

 


 

art2all.net