vơ công liêm

 

 LỊCH SỬ NGHỆ THUẬT

                                                 ’vẽ là tạo nên sự vật, không phải mô tả sự vật’

                                           (’Lầu Xép’. Vơ Đ́nh)

 

fall-in-love - Vơ Công Liêm*

                                                                                             

    Từ nghệ thuật (art) thường bao trùm toàn diện về văn hóa nghệ thuật hơn là dành riêng cho bộ môn hội họa. Vậy lịch sử nghệ thuật là ǵ? Thật ra không có những thứ ǵ để gọi là lịch sử nghệ thuật cả; chỉ có những lịch sử khác nhau  nói về nghệ thuật mà thôi. Cũng không có một đường lối nào minh định cho nghệ thuật mà chúng ta t́m kiếm; để trả lời cụ thể cho con đường nghệ thuật th́ tất cả xuất phát từ những phương thức khác nhau trong mọi cách diễn tả để đưa tới một giải thích rơ ràng về nghệ thuật. Ở đây chúng ta thấy được vai tṛ của lịch sử nghệ thuật một cách chính xác, có nghĩa là một chức năng truyền thông phát ra từ nhận thức của trí tuệ; có lẽ khắp nơi đang nh́n vào tác phẩm hội họa để nói lên ’lịch sử nghệ thuật’ là cơ cấu thành phẩm đă được tạo ra. Chúng ta tin rằng vai tṛ của nghệ thuật là khám phá trọn vẹn ư nghĩa qua những tác phẩm hội họa để lại và nhờ vào những nguyên bản gốc, một khả năng cho chúng ta nh́n thấy được tầm vóc, để định nghĩa được thế nào là nghệ thuật mà chúng ta nh́n nhận từ xưa cho đến nay. Động cơ nầy làm cho chúng ta tin rằng lịch sử nghệ thuật phơi bày cho chúng ta một ư nghĩa quan trọng hoặc giải thích cho chúng ta rằng tại sao một tác phẩm hội họa có thể làm nên, hay không làm nên, ở bên cạnh đó phải có cái thẩm mỹ (aesthetic) xuất hiện th́ may ra mới nói lên được cái giá trị nghệ thuật. Dữ kiện đó là chứng tỏ cho nghệ thuật, một căn nguyên có thể làm nên được và làm nhiều hơn nữa. Trong khi đó chúng ta đọc về nghệ thuật, chúng ta nghe người ta kể quanh về nghệ thuật, chúng ta cần thông đạt; song le sự lư đó chưa cho chúng ta nắm hết toàn diện câu chuyện. Thực tế không có nắm hết toàn diện câu chuyện, chỉ là diễn giải mà thôi, mà lời nói ấy là một phát tiết dành cho những người có một cái nh́n, viết và nói đến nghệ thuật .

Mỗi một lời diễn giải có một giá trị riêng và thêm vào đó một ư thức, nhưng đứng riêng rẽ th́ điều đó sẽ không cho một sự hiểu biết hoàn toàn và biết tới một hiểu biết đích thực về nghệ thuật. Dù có đặc vào một khiá cạnh riêng biệt nào đi nữa hoặc cùng đi tới với nhau, điều đó có thể không cung cấp đầy đủ cho một cái nh́n tầm xa.

Each interpretation has its own value and adds to our awareness, but alone it will not give a complete understanding and appreciation of art. Even placing several strands or approaches together may not provide a complete overview.

Trong phần mở đầu với câu hỏi: Lịch sử nghệ thuật là ǵ? -Thật ra không có những thứ ǵ để gọi là lịch sử nghệ thuật cả. Chỉ có họa nhân làm nên lịch sử. Trong cuốn  ‘Câu Chuyện về Nghệ Thuật’ của Ernst Gombrich giải thích rằng : ‘…lịch sử nghệ thuật có thể đến từ mọi thứ khác biệt trong hoàn cảnh thời gian và nơi chốn khác nhau’. Đúng vậy; dù trước đây chúng ta đă xem như đă có lịch sử nghệ thuật, chúng ta cũng đă hiểu thế nào là ư niệm nghệ thuật. Một ư niệm chứ chưa chuyên sâu để t́m thấy ngọn ngành của lịch sử nghệ thuật một cách lớp lang, thời kỳ, trường phái...

Tuy nhiên, nếu chúng ta thực sự t́m hiểu nguồn gốc lịch sử nghệ thuật, đặc biệt lịch sử nghệ thuật hội họa mà lâu nay sự kiện đó như giam hảm, tù túng trong câu hỏi mà chúng ta đă nêu và làm thế nào để có một cái nh́n đích thực nghệ thuật. Chúng ta muốn thấy tác phẩm trong một phạm vi thỏa măn chung giữa mọi tầng lớp xă hội. Thường th́ chấp nhận chung chung cái khuôn phép, một môi trường trung độ và chủ thể là một liên đới gần gũi với những ǵ mà chúng ta nhận thức được ở nghệ thuật (hội họa) there are commonly accepted disciplines, media and subjects closely associated with our understanding of art. Lấy điển h́nh: một tranh vẽ sơn dầu, một tượng điêu khắc bán thân bằng đá cẩm thạch, một tạo h́nh trừu tượng… th́ những thứ đó đă ‘làm nên nghệ thuật’? cho nên chi lịch sử nghệ thuật làm nên bởi nghệ nhân. Chỉ cần một cái nh́n lướt qua cũng đủ cho chúng ta nhận ra được phần nào tính-nghệ-thuật của nó, một cái nh́n toàn diện th́ cái tương quan đó có dễ cho ta thừa nhận tức thời. Nhưng là ǵ? At first glance it may seem that art is, on the whole, relatively easy to recognize. But is it? Thưa rằng; nghệ thuật hội họa có thể xuất phát từ bẩm sinh gắn liền với khéo léo, nhưng cái đó cũng một phần nằm trong điều kiện cá tính, yếu tính đó có từ nguồn sáng tạo riêng ḿnh, một đường nét cố hữu giữa màu sắc và hồn khí (spirituality) một tư duy sáng tạo hoặc từ khả năng nhận thức (conceptual capacity). Tuy nhiên, cái sự tương quan giữa nghệ thuật với nghệ thuật  sẽ được phát hiện sau nầy; quan trọng là thiết lập nền móng để được nh́n nhận nghệ thuật ở tự chính nó. C̣n nếu như chúng ta đứng một góc cạnh nào hay một vài điển h́nh nào khác để nh́n vào lịch sử nghệ thuật; e rằng cái nh́n riêng biệt đó làm cho nghệ thuật hội họa giảm đi vai tṛ chính xác của nó một đôi phần.

Điều rơ ràng cho việc xác định nghệ thuật là một sự thử thách. Dù thích hợp với một viện bảo tàng nghệ thuật sẽ có thể giúp cho chúng ta xếp từng loại thứ, cái ǵ thuộc nghệ thuật và cái ǵ là không; th́ đó không phải là một trắc nghiệm hợp lư. Nhưng nếu được chúng ta thỏa thuận hay đồng ư những ǵ chúng ta thấy được cái dung ḥa độ lượng ở Pháp qua tất cả phẩm vật trưng bày ở viện bảo tàng nghệ thuật th́ sự lư đó chứng minh được phần nào lịch sử nghệ thuật nằm trong đó. Chắc chắn một điều là chúng ta không thể đồng ư những giả thuyết đưa ra rằng : những thứ tŕnh bày trong bảo tàng th́ đó phải là nghệ thuật (!).

Hẳn nhiên, không phải bất cứ phẩm vật nào đem ra trưng bày hay triển lăm đều được coi là nghệ thuật hay đánh giá đó là nghệ thuật. Những tượng điêu khắc ngoài công viên hay đặc trong lâu đài, phóng họa hoặc những tranh vẽ treo trong biệt thự, trong nhà là ba cái thứ điển h́nh nêu trên; những thứ đó không thể chan ḥa vào nghệ thuật để rồi định nghĩa dễ dàng như thế được. Tuy nhiên; nếu bao gồm tất cả phẩm vật chọn lọc trong bảo tàng, không những chỉ đo lường, đánh giá mà thẩm định những ǵ thuộc về giá trị lịch sử nghệ thuật; th́ điều đó tới bao lâu chúng ta trải rộng cái ư nghĩa nầy cho trọn ư, trọn t́nh hai chữ: ‘lịch sử nghệ thuật’ một cách đầy đủ? Cái ǵ cũng là thời gian; chớ không phải làm ra tác phẩm, họa phẩm là nghệ thuật, là thành danh, là lịch sử. Nếu có cái nh́n như thế th́ không c̣n là nghệ nhân. Đối với họa phái thẩm định giá trị nghệ thuật là một phạm trù vừa có tính triết học vừa có tính lịch sử. Vẽ ai cũng vẽ được cả, kề cả trẻ con cũng như súc vật ở sở thú, nếu có cái nh́n thiển cận cho đó là nghệ thuật th́ thứ nghệ thuật đó có hạn mức của nó. Chúng ta cần phân biệt để nhận rơ giữa cơ cấu h́nh thành mà những thứ đó chỉ xây dựng một cách đơn thuần, thứ đó gọi nôm na là ngẫu hứng tự nhiên, nhưng biết đâu về sau nó là một nghệ thuật thẩm mỹ của hội họa (như trường hợp của Bill Traylor). Điều nầy cho ta thấy được câu nói của Joseph Beuys như xác định: ‘Trong mỗi con người đều là nghệ nhân / Every human being is an artist’. Nhưng chúng ta phải cảm nhận rằng tất thảy mọi thứ đều ngoài tầm tay của ḿnh / whole thing is getting out of hand. Nếu chúng ta không thể xác định cụ thể phẩm vật th́ làm thế nào chúng ta định nghĩa được giá trị nghệ thuật để liệt kê vào sự kiện lịch sử ? Trái lại truyền thống Phương Tây thường đồng t́nh một cách nhạy cảm; tranh họa ‘painting’ được xác định như là nghệ thuật, song le; tranh họa không phải luôn luôn được xem như ‘nghệ thuật’ nh́n ở góc độ thẩm quan khác th́ họa chăng chúng ta mới lănh hội được chân tính nghệ thuật một cách sâu sắc hơn.

Vị chi họa là tạo nên sự vật do từ sáng tạo để h́nh thành sự vật, không phải chủ yếu là mô tả, mà mỗi khi đă là mô tả sợ rằng đă ra khỏi ‘mô-típ’ mà ḿnh muốn diễn tả. Vậy nghệ thuật là ǵ? Là ḥa nhập giữa thần trí với h́nh ảnh, trong một trạng thái tương nghị để tạo thành MỘT chủ thể mà không là HAI. Cái duy nhất đó chỉ xẩy ra  ở nghệ thuật hội họa.

 

Thay Đổi Ư Nghĩa của Lịch Sử Nghệ Thuật Hội Họa 

Thay đổi ư nghĩa nầy phải khởi từ những họa nhân ‘hang động’ đến nhận thức về quan niệm lịch sử nghệ thuật. From Cave Painters to Conceptual Art History. Là chứng cớ cho một dữ kiện được nêu. Một thôi thúc đẩy tới động lực sáng tạo qua những h́nh ảnh của thế giới mà chúng ta đang sống; kể từ khi con người có mặt trên điạ cầu nầy, con người đă bắt đầu biết bôi, quẹt lên cát, lên ḿnh bằng phẩm màu, đục chạm qua bàn tay thô sơ lên vách, lên đá hoặc vẽ những tượng h́nh như để tôn thờ, sùng bái. Từ những tuyệt phẩm đó, xuất xứ qua những h́nh ảnh ban sơ của lớp người mang rợ và những kỳ bí nầy được khai mở theo gịng thời gian để có một nhận thức về nghệ thuật, tất cả được đặc trong một lịch sử phong phú của một tập quán có tính cách nghệ thuật phát triển và thay đổi lần hồi theo thời gian. V́ vậy thời gian là ‘chủ khảo’cái giá trị tồn tại của nó cho định hướng nghệ thuật.

Có thể ở đây là một lối định nghĩa có tầm cở, một chức năng, điạ vị của nó và được coi như nghệ thuật; cho dù là một giới hạn nào đi nữa. Nhưng; trong khi vẽ mang nặng tính chất thẩm mỹ tŕnh diễn nhiều hơn là tính chất ‘thẩm mỹ’ nghệ thuật, sở dĩ như thế; một phần tỏ ḷng cung kính, một phần trang trí h́nh ảnh để thờ phượng đấng thượng đế. Ở thế kỷ thứ 15 nh́n nghệ thuật hội họa là một yêu cầu ‘làm đẹp vật thể’ để nghiêng ḿnh trầm tư mà cầu nguyện –as an object for aesthetic contemplation, để đưa vào giáo đường lên bệ thờ đúng đắng ‘altarpiece’ tôn nghiêm. Bức b́nh phong : ‘Mẹ Đồng Trinh và Chúa Hài Đồng’ (Virgin and Child) của Masaccio vẽ vào năm 1426 là một bằng chứng của sự thay đổi về bộ môn hội họa dưới cái nh́n không c̣n nghệ thuật mà nó chỉ dính dáng đến tôn giáo và những người thờ phượng; thừa nhận là nghệ thuật. Quan điểm đó không phù hợp với nghệ thuật ngày nay, mà những ǵ mong đợi là một nghệ thuật trong sáng, mới mẻ và lănh hội để có thời gian minh định giá trị lịch sử. Vậy th́; nghệ thuật có thể có nhiều nghĩa khác nhau ở mỗi thời gian khác nhau. Nếu thật quả khó khăn cho việc định nghĩa những ǵ nghệ thuật là thuộc văn hóa. Ở đâu có bảo tàng nghệ thuật, những kẻ buôn tranh, bán tranh, những kẻ sưu tập, những kẻ sành điệu và phong phú hóa cho sử gia là biện chứng cho lịch sử nghệ thuật ?. Cho nên chi những dữ kiện đó có chăng nữa cũng là điều khó khăn trong việc định nghĩa cho một lịch sử nghệ thuật đúng nghĩa, phù hợp với nền văn hóa, tập quán, truyền thống với một ít bày tỏ sáng sủa và thông hiểu đúng đường lối của nghệ thuật hội họa th́ may ra đạt tới mức yêu cầu của nghệ thuật.

 

Từ Lịch Sử Nghệ Thuật đến Lịch Sử Hội Họa 

Lịch sử nghệ thuật bao gồm toàn diện gần như thuộc về lịch sử văn học. V́ vậy bộ môn hội họa vô h́nh chung nằm trong vị trí đơn phương, một tổng lược như những bộ môn khác trong lịch sử văn học; trên b́nh diện khách quan thể th́ hội họa có một vóc dáng khác biệt, một ngôn ngữ khác biệt và đa dạng phản ảnh qua nhiều niên kỷ, thời đại, thời kỳ và trường phái. Có thể hội họa là trọng lượng đáng kể hơn cả nghệ thuật viết, một uốn ḿnh (gesture) khéo léo để diễn đạt tư tưởng. Hội hoạ ôm đầm  mọi giới tính giữa người và vật, lănh vực thời gian và hiện thực như một triết thuyết không thành văn, một biến dạng từ sơ khai, trung đại đến cận đại rồi đi tới hiện đại với những họa phái khác nhau, tất cả phát triển không ngừng qua tư duy trí tuệ, h́nh ảnh và màu sắc, ḥa nhập, đan kết để thắm nhuần chân lư giữa Đông và Tây; mặc dù mỗi nơi có một vị trí đặc biệt, một chân tướng riêng tư nhưng bao hàm một ngụ ư diễn tả để nói được yếu tính của nó, đánh dấu cả một quá tŕnh: thời gian, tư liệu, phẩm vật (matter/matière) một kết cấu toàn diện, nói lên được chân tướng hội họa th́ có thể đó là một nghệ thuật chân chính. Hội họa là một công tŕnh ‘kiến trúc’ trí tuệ. Một ư thức thức tỉnh thường đối lập với ư thức thức tỉnh nghệ thuật (trường hợp của J. Pollock). Tại sao hội họa đ̣i hỏi ư thức thức tỉnh? - Muốn sáng tạo nghệ thhuật phải ‘mơ về’(rêver à). Bởi: “ Tâm thức và trí tưởng của ta đủ khả năng để giúp ta sáng tạo những ǵ mà ta nhận thức” G. Bachelard.(trong Rêverie).

Để thu tóm giá trị nghệ thuật hội họa gần đây (Tk 19 và 20), thử lược qua mỗi một vai tṛ, trường phái để định giá tầm độ lịch sử hội họa; thật ra không phải dựa vào cái mốc nầy. Phải thừa nhận ‘lịch sử’ của nó phát khởi từ sơ nguyên để rồi người nghệ sĩ vượt thời gian và bắt đầu làm mới nghệ thuật như vai tṛ chứng nhân lịch sử:

-Bước thứ nhất cho ta thấy trường phái ấn tượng (impressionisme) và hậu ấn tượng đă để lại dấu ấn không ít qua một số nghệ nhân: Monet, Renoir, Van Gogh và Gauguin… mà họ chịu ảnh hưởng tranh mộc bản Nhật Bản cả một thời gian khá lâu và thành h́nh.

-Bước thứ hai là Picasso đă đem nghệ thuật đại dương và nghệ thuật da đen Phi châu làm một cuộc cách mạng nghệ thuật hội họa, dập nát nghệ thuật hội họa cũ trong đó cổ điển, lăng mạn, ấn tượng để dựng lên trường phái Lập phương (khối/cubism).

-Bước thứ ba; Matisse đè nặng trong màu sắc rực rỡ, hoang dă của sa mạc Á-rập và mộc bản Nhật để trở thành trường phái Dă thú (fauvisme). Từ đó hội họa và điêu khắc mở đường chinh phục thế giới với một ư thức mới trong văn học nghệ thuật, xâm lấn cả tư duy từ hội hoạ đến triết học, nảy sinh nhiều lư thuyết, trường phái, khuynh hướng và phong trào; hết thảy đă rầm rộ nở hoa như: trừu tượng, siêu thực, hiện sinh, chuyển động (movement), quá thực, dă thú, đa đa, ảo giác (pop-art)... những hiện tượng đó gọi chung là chủ nghĩa hiện đại (modernisme) rồi đến hậu hiện đại (post-modernisme). Nói chung nghệ thuật hội họa đi từ nguyên sơ đến hiện đại, đi từ một tâm như lắng đọng bằng tất cả giác quan, tri giác và ư niệm, khêu gợi từ ư thức thâm sâu của tiềm thức để phát họa h́nh ảnh, tập trung trong tư tưởng để sáng tạo h́nh ảnh đầy tính nghệ thuật. Đó chính là làm mới nghệ thuật đương đại, làm mới đường nét văn,thơ,họa,điêu khắc và nhiều bộ môn khác…

Ba bước trên chưa nói hết ngọn nghành của lịch sử hội họa nhưng phát họa một con đường sáng mà vai tṛ hội họa là thành viên minh định được lối vào lịch sử, nói theo ‘cụm từ’ văn chương ‘đem tâm t́nh(vẽ)viết lịch sử’ đồng thời cho chúng ta thấy những chặn đường hội họa đă ảnh hưởng hầu hết các bộ môn nghệ thuật, biến dạng qua một thể thức khoa học nghệ thuật (art science). Vẽ không c̣n là vai tṛ thủ diễn như ta nghĩ mà vẽ là thể hiện tính hiện thực; thật từ trong ra ngoài, không thể nh́n hội họa là lộ liễu, là tục mà ở đó nghệ thuật vị nghệ thuật. Vin vào trào lưu, khuynh hướng nghệ thuật mà khai hóa ng̣i bút để trở nên phóng khoáng, tự do hơn, một phần nhờ Ngôn-Ngữ-Hội-Họa tiên phong. Một lư giải đúng đắng, trung thực và thực tế giữa vẽ và viết ở cơi đời này, cho kỷ nguyên này(!).

 

Qua diễn tŕnh như thế ta chỉ thấy bước đi của hội họa với từng chặn đường, khai phóng, khám phá, mở đường chứ chưa t́m thấy cuộc đời bên trong của hội họa –the inner life of painting. Một đức tính trong sáng, diệu vợi dưới hai dạng thức khác nhau: - Như nhắc nhở sự thay đổi của hội họa đă xuyên sâu qua từng thời đại, từng thời kỳ (ages). -Như một thể loại bung phá ra khỏi tụ điểm học hỏi về nghệ thuật.

The mood is light in two way- as a reminder of the changes in painting throughout our history and ages; as a sort of jumping-off point for learning about art.

Ở đây không phải tạo ra ấn tượng hay ảnh hưởng về hội họa và cho là tuyệt diệu của hội họa mà chỉ là kêu gọi sự xác định nhiều hay ít sự có mặt của hội họa là chức năng, nhiệm vụ chính cho lịch sử đương đại, một sự biểu lộ thiên tài thần thánh (genie) ban cho. Với tất cả; đă cho chúng ta một thứ ngôn ngữ thường dùng để giải thích và định lượng hội họa, chuyên chở một cảm thức về giá trị tuyệt đối của truyền thống và khuôn phép qua sự giao thoa giữa con người và nghệ thuật. Hội họa tợ như con suối chảy dịu dàng, dễ lôi cuốn ta bước vào ở bất cứ hoàn cảnh nào. Hội họa vẽ lên cái riêng tư của nó, cũng không phải tự đè nén, mà cũng chẳng phải tiểu thuyết để mô tả lư sự. Hội họa ngày nay là một xác quyết tự nó, không hệ lụy ǵ tập quán cổ truyền, hệ lụy những tập truyền mới mẻ nhưng phải chứa đựng cái ǵ thâm hậu sâu xa, uyên bác nhất định không nhận ra được qua thị giác ‘non-visual’. Sao gọi là non-visual ? Cái nghệ thuật hội họa giờ đây đến như h́nh ảnh (photography) mà được nh́n như h́nh ảnh, nhưng chính yếu là nh́n được sự trong sáng và thuận mắt, lợi ích mới là chính (trường hợp của Salvador Dalí và Velázquez).

Hội họa truyền lưu bắt đầu có sớm từ thời Phục Hưng (Renaissance) chạy xuống từ đó cho tới năm 1950. Một cuộc chạy hối hả, dốc sức, trút lên trên cánh đồng màu sắc của họa phái Mỹ vào thập niên 1960, cuối của năm tháng bốc lửa, mănh liệt nhất (heyday) của trường phái Biểu Tượng Trừu Tượng Mỹ (American Abstract Expressionism) là đỉnh cao của thời kỳ ‘bốc lửa’: đó là Jackson Pollock, Mark Rothko và Barnett Newman xẩy ra giữa thế kỷ 20. Trường phái Mỹ được trải rộng 1950, thành lập riêng rẽ như một kiểu cách chính yếu trên trường hội họa quốc tế, liệt kê như một kiểu dáng riêng biệt. V́ vậy qua bao thập niên kiểu dáng đó trở thành lề thói, trong khi những trường phái mới thiết lập trước 1950/1960 bị gục ngă thê thảm mà thời gian qua đă dựng lên lâu đài kiên cố. Họa phái Mỹ nghiễm nhiên thừa nhận như một giải phóng của những cái ǵ xưa cũ không c̣n hợp thời đại, mở màn một lịch sử nghệ thuật hội họa Mỹ hiện đại và tân kỳ hơn những tân kỳ khác.

Mục tiêu ǵ giữa sự khác biệt ‘bên trong cuộc đời của hội họa’ và vấn đề chủ thể của hội họa và có cái ǵ khác giữa họa phẩm và họa nhân? Những thứ đó có nghĩa rằng nó nằm trong chu tŕnh lịch sử và xă hội tạo nên, nó bao gồm giữa chủ thể và vật thể cùng một lúc.

Làm thế nào để ta thấy được những tranh vẽ có một khoảng cách của quá khứ? Làm sao biết được có cái ǵ khác hơn dưới mắt nh́n, với kinh nghiệm hiểu biết và ư nghĩ? Điều nầy đ̣i hỏi một ‘giàn giá (frameworks), một hoạch định sẳn có của một ư tưởng tốt, trong cùng một lúc xẩy ra giữa một trực cảm tri giác nhạy bén mới thấm thấu giá trị của hội họa một cách tương đối qua nhận thức. Đó là hai câu hỏi được trả lời trọn vẹn giá trị của hội họa.

Từ xưa nghệ thuật hội hoạ đă đi qua giai đoạn thờ cúng và tưởng niệm  như thời thịnh Phục Hưng; hoạ phẩm của Raphael và những họa phẩm khác được xem là vật để thờ cúng, truy điệu nhưng cùng lúc đó người ta cũng khám phá ra những họa phẩm khác năng động hơn; như thời kỳ ‘Baroque’ của Rubens và Caravaggio. Trong hội họa đôi khi đưa tới cái nh́n; bởi v́ quá đơn giản. Đôi khi đưa tới cái nh́n; bởi v́ quá phức tạp, ấy là điều khó định lượng cho một họa phẩm thật sự là họa phẩm có ‘chất’ nghệ thuật. Đôi khi cho ta một cảm thức riêng tư cần có một Masaccio mà không cần có Rubens. Cho nên chi đường nét trừu tượng của Masaccio và Rubens đă đem lại những tranh luận khác nhau. Ở Masaccio cho ta thấy một hoành tráng vương cung uy nghiêm, một nội thể trầm tư, một cái ǵ nguy nga và thanh thoát. Ở Rubens cho ta thấy một cái ǵ lạnh giá và náo động, một cái ǵ đầy hơi, hỗn loạn, quấy động, cảm thấy như tạo ra một cái ǵ có lợi ích và thiêng liêng.

Quan niệm cổ xưa trong lịch sử nghệ thuật là những ǵ xẩy ra ở thế kỷ thứ 18 trong khi lịch sử nghệ thuật bắt đầu thành lập như là khuôn phép, đó là trường hợp Masaccio được thay thế cho tất cả, một thể cách có tổ chức mà mọi chi tiết được xem như là điều đáng tin phục, trong khi đó Rubens được thay thế cho một thể cách được chỉ rơ cho tất cả sự thật. Nhưng cả hai Masaccio và Rubens là sâu đậm, cả hai được sùng bái tôn thờ như thiên tài, cả hai đầy đủ kinh nghiệm đó là những ǵ chất chứa trong một nội tại và một cái ǵ chuyên sâu của người nghệ sĩ; đó là những ǵ mà chúng ta được thừa hưởng và đánh giá nhờ vào văn hóa nghệ thuật trong thời điểm hiện nay.

Sự khác biệt giữa quá khứ và hiện tại không phải là phong cách đặc thù như trường hợp giữa Masaccio và Rubens; sự cớ đó chỉ là luân lư. Nói cho cùng; những ǵ họ để lại là những ǵ chúng ta có hôm nay như một chứng từ của lịch sử nghệ thuật nói chung và riêng nghệ thuật hội họa là chứng tích lưu truyền, một bằng chứng hùng hồn cụ thể. Và; chúng ta sẽ t́m thấy rằng hội họa sẽ không bao giờ đứng yên bất động như ‘tĩnh vật’ mà luôn luôn khám phá những ǵ mới lạ, một chuyển động không ngừng nghỉ của sáng tạo và đầy kinh nghiệm cho nghệ thuật hội họa hôm nay và mai sau.

 

VƠ CÔNG LIÊM (ca.ab. 8/2012)

 

SÁCH ĐỌC:

-   The Museum of Modern Art . Pub. by The Museum of Modern Art New York. NY. USA 1999.  

-   A Brief History of Painting by Roy Bolton.Carroll&Graf Pub. New York USA 2004.

*Tranh Vẽ : ‘T́nh trong như đă mặt ngoài c̣n e’ (ND) / Fall-In-Love’. Khổ: 12’X15’ trên giấy bià (ḿ gói Mama).

Acrylics+ Mixed+Pigments. 12/2011 cvl.    

 

 

 

art2all.net