vơ công liêm

 

LIÊN HOA KINH

SADDHARMAPUNDAR̀KA SÙTRA / LOTUS SÙTRA

 

 

    Là ḷng đại từ, đại bi, ḷng xót thương của Phật (Buddha compassion). Một t́nh yêu dâng hiến sâu xa và hết ḷng, một t́nh yêu tôi luyện được ghi nhận trong Kinh Liên Hoa (Saddharmapundaŕka Sùtra) và Tâm Kinh (Avatamsaka Sùtra) tức Tâm-B́nh-Đẳng là phép huyền diệu trong hai phẩm kinh nầy. Đặc biệt Liên Hoa Kinh là kết quả qui tụ cả một năng lực trong kinh nhà Phật. Dù rằng Tâm Kinh lấy Tâm-Như-Tánh-Không làm trụ nhưng đóng góp một cách chân như của Phật qua Liên Hoa Kinh. Thông thường đây là một tôn giáo thực nghiệm là vấn đề chủ lực  trong kinh Phật và một quyền năng mầu nhiệm lớn lao được cô đọng trong Liên Hoa Kinh.

As so often, religious practice is a  matter of power, and the greater magical power lay with the Lotus Sùtra.

Kể từ khi Phật giáo phát nguồn từ các nước Đông Á; Liên Hoa Kinh được gần gũi với tín đồ Phật giáo và được xem như ‘thánh kinh’. Một án thư kinh được phát hiện, chứa đựng toàn bộ ḷng tin Phật, chính tự nó có nhiệm vụ đầy đủ dành cho sự cứu khổ mà con người hệ lụy giữa trần gian. Liên Hoa Kinh không phải phẩm kinh như loạt kinh đồng chất-homogeneous- khác mà được coi bộ kinh lâu đời trong Phật kinh, được t́m thấy giữa thế kỷ thứ nhất BCE và đầu thế kỷ thứ nhất Công Nguyên CE cho măi đến thế kỷ thứ hai th́ xuất hiện rộng răi hơn.

Trong Kinh Phật Buddha Sùtra; xướng bởi: Thích Ca Mâu Ni Phật -Sàkyamuni Buddha- hay Mô Phật! là nói lên sự khổ hạnh, một diễn đạt trong sáng của ngài đối với chúng sinh. Như Lai Phật là một triết lư cao siêu, tối thượng thừa mà điều đó bao gồm trí thức và một cái ǵ có tính thiêng liêng huyền nhiệm, những thứ đó đạt tới một thành quả viên măn cho mục đích của tôn giáo, bất luận là Phật tử  và không-Phật tử (Buddhist and non-Buddhist). Tuy nhiên; ngài là Phật th́ đó là cả một vận dụng siêu việt trí tuệ và một hoạch định đầy đủ một vũ trụ, một vũ trụ giới (upàya/upàyakau’salya) đây là phép dạy  về phương tiện thiện xảo ‘skill-in-means’ của giáo pháp Phật Giáo Đại Thừa (Mahàyana) đó cũng là chià khóa mở ra cánh cửa nhà Phật trong Liên Hoa Kinh, không c̣n nghi ngờ nào hơn, một yếu tố đầy đủ và thành quả lớn lao trong phẩm kinh Liên Hoa mà các nước Đông Á xem trọng. Đó là vấn đề thiết yếu mà người Phật tử phải đối diện như một sứ mạng trong thời kỳ đầu truyền pháp ở Trung Hoa và dĩ nhiên đi lần vào các nước Á châu. Mặc khác sự phân lượng cho được minh bạch là cả một sự tương phản qui vào Phật pháp và rồi đưa tới sự khác biệt qua những thông điệp của giáo phái Ấn Độ làm trở ngại lớn lao cho việc thuyết giảng Phật giáo ở Trung Hoa. Nhất là giáo phái Phật Giáo Đại Thừa.

 

MAHÀYÀNA SÙTRA / KINH ĐẠI THỪA

Đạt tới nghi thức tụng niệm Kinh Đại Thừa; lập tức chúng ta đối đầu trước một giả thuyết như có một sự quan hệ tự nhiên về kinh điển, đó là vấn đề thử nghiệm để đi tới mục đích. Như chúng ta biết ‘Kinh/Sùtra’ không phải là đối tượng chính trong mọi thứ khác, nhưng thích hợp cho thân tâm nhà Phật mà đó là trọng điểm dành cho việc thờ phượng một mẫu thức thánh hóa ‘relic worship’ để thờ phượng.

Kinh sách không phải vị trí tự do tụng niệm để rồi tự giải hóa cho tâm linh, nhưng ở đây được coi là là một thực thể tồn tại, một Vi-Diệu-Pháp-Kinh (Prajnàpàramità Sùtra) được sắp xếp trong một vị trí của Kinh Đại Thừa và được an vị như một tôn giáo thực tiển, một vật phẩm dành cho một tinh thần đầy đủ phật tính. Nhưng trong phong cảnh của Kinh Đại Thừa là hoàn toàn vi diệu, không gian và thời gian được khai mở và qui hợp, một liên lạc như là để thấy được sự lỡ dịp, mà chính chúng ta đưa tới sự bất ngờ không phải phép do từ những ư nghĩ bị đè nén và bí ẩn mà tạo ra khiá cạnh vô nghĩa qua từ kinh thư nhật tụng.

But the landscape of the Mahàyàna sutra is quite extraordinary, space and time expand and conflate, connections seem to be missed, we move abruptly from ideas so compressed and arcane as to verge on the meaningless, to page after page of repetition.

Kinh Đại Thừa thay đổi để làm rộng nghĩa bằng những từ khác nhau; như trong 100.000 bài Kệ (Verse), Trí Tuệ Tuyệt Hảo (Perfection of Wisdom). C̣n những phẩm kinh (sùtra/books) lớn thường được nhắc nhở hoặc lập lại nhiều lần; dù rằng những phẩm kinh như thế vẫn c̣n thiếu sự nguyên vẹn. Tất cả những kinh lớn c̣n để lại là những chứng tích lịch sử cần thiết cho chúng ta ngày hôm nay và cũng là một nhất thể phi thường, bởi v́ ‘Sùtra mỗi ngày mỗi phát triển và mở rộng, một hệ thống kinh điển (systematic doctrine) xuyên qua mọi pháp kinh (dhamarsùtra)’.

Độc đáo của phẩm kinh phát hiện sớm là một hiện tượng được cung nghinh và tự chính nó như lời tham khảo thính chúng. Tuy nhiên kinh Đại Thừa có một bề dày đáng kể. Kinh như lời ngợi ca đồng thời như lời xoa dịu nỗi khổ hạnh mà con người gánh chịu. Những công tŕnh thiết lập là cả một công đức bao la diệu vợi đối với Phật. Đối đăi như thế là một chiếm cứ, ngay cả bài kệ cũng được tôn kính cho dù có sa vào tội lỗi đi nữa những điều đó sẽ bắt nguồn từ cái gọi là ‘nghiệp chướng’ (karma) dữ kiện đó như một h́nh phạt chê trách mà trong kinh đă ghi lại. Chúng ta thử t́m xem sự tiếp nhận đó, một bày tỏ giản đơn trong bước đầu thành h́nh giáo phái Đại Thừa và được coi như một thông điệp lừng lẫy trong Liên Hoa Kinh (Saddharmapundaŕka Sùtra/Lotus Sùtra). Một trong 5000 văn tự kinh được đ́nh chỉ để sắp xếp trở lại đề thành kinh kệ hơn là hằng ngày lắng nghe những lời kinh nhật tụng không mấy thông suốt; bởi v́ mỗi một câu kinh trong đó: ‘ch́m đắm vào tội lỗi là nguồn gốc quan trọng  và vượt quá giới hạn của kiêu căng, tưởng như điều đó đạt được và được coi như chứng cớ bẩm sinh mà dữ kiện nầy không hẵn đă có.‘deep and grave roots of sin and overwheening pride, imagining themselves to have attained and to have borne witness to what in fact they have not’ (trans. In Hurvitz 1976:29).

Ấy là điều không hiếm xẩy ra như chúng ta đă nhận biết, kinh tự như lời tuyên ngôn qua một nhóm tu sĩ, tỳ kheo để rồi Kinh Phật/Buddha Sùtra không nằm trong thế giới kinh điển của Phật Pháp. Chính v́ vậy mà Phật-Pháp-Tăng đă làm mất đi cái nghĩa siêu lư đạo giáo và làm sai lạc con đường trong sáng của Phật mà ngược lại mang dấu hiệu độc tôn. Phật pháp là điều hẳn có, Tăng là hành đạo để đạo được sự thông tuệ, nó không nằm trong qũi đạo của nhà Phật!

Làm thế nào để định được sự ngụy tạo ‘Kinh/Sùtra’ ở Trung Á và Trung Hoa trong con đường sáng đó? Vẫn tiếp tục vạch ra và mở một cuộc thảo luận để kinh trở nên đích thực chính nó. Sau cùng t́m thấy những quan điểm lệch lạc do từ tập quán của thời kỳ quá độ của Đại Thừa mà ra; trong đó Kinh Đại Thừa cũng đă là ngụy tạo!

 

AVALOKITÉSVARA BODHISATTVAS / QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT 

Bồ Tát (Bodhisattvas) là đấng đầy quyền năng và tin yêu mănh liệt nhất trong Phật Giáo Đại Thừa nhất là ở Tây Tạng, Trung Hoa và Nhật Bản đều nằm trong phẩm kinh của Liên Hoa Kinh. Bộ kinh nầy là sứ mạng đưa dẫn chúng sinh thoát khỏi cảnh khổ nạn; Bồ Tát là ‘vị Thánh’ lănh đạo tinh thần, đưa chúng sinh đi từ Có sang Không và Không sang Có. KHÔNG/CÓ là Phật-Tánh-Không đó là lư tính trong học thuyết nhà Phật để làm sao con người thấm nhuần chân lư để đạt tới đỉnh cao của trí tuệ để vượt thoát cảnh trầm luân, để có một kiếp người an nhiên tự tại, sống động đó chính là con đường bước vào cơi an nhiên, vĩnh hằng cho kiếp đời sau. Con đường (Way/Tao) là Đạo, đạo là đường sáng. Người Phật tử ao ước được đi vào cơi mộng của cái chết, một nơi thật sự là cơi vĩnh hằng, thoát tục thật sự. Cơi đó là Niết Bàn (Nirvàna): một ư niệm cứu khổ và giải phóng (liberation) toàn bộ tâm linh để được tái sinh hoàn hảo trong một tôn giáo cổ Ấn Độ. Kể cả Ấn Độ giáo (Hinduism) Phật giáo (Buddhism) và Cổ giáo (Jainism), một giáo phái có trước Ấn Độ giáo. Họ cho rằng Niết Bàn là nơi tận cùng, dập tắt mọi vọng niệm để đem lại một niềm hạnh phúc vô cùng, một thứ hạnh phúc tuyệt diệu, một hào quang chiếu sáng, tất cả xuất phát từ nội tại. Phật giáo th́ cho là đỉnh cao cho một trạng thái vương tới cảnh siêu nhiên, giải thoát để đến cơi vô cùng với tất cả điều mong muốn. C̣n tín đồ Jainists th́ nh́n Niết Bàn là nơi chân phúc và an nghỉ. Cho nên chi Bồ Tát đưa niềm tin đó vào chúng sanh, vượt qua mọi sự khổ để đến bờ giác cho sự sống và sự chết,cái đó là con đường hạnh phúc tuyệt đối.

Avalokitésvara (Quán Thế Âm) là Bồ Tát, đấng cứu độ chúng sanh ‘Ngài nh́n xuống thế gian trong nỗi bi thương -The Lord Looking Down in Pity- V́ vậy; tên người là bao hàm sự cầu xin của ḷng nhân từ, tất cả tiếng gọi đó là cảm thức sinh linh từ sự đau đớn, xấu xa, tội lỗi của hiện hữu mà con người ch́m đắm trong bể khổ. Ngài xuất hiện dưới mọi h́nh thức, bất luận hoàn cảnh nào đều mang lại những thích ứng cho sự cứu khổ, thần thông biến hóa và linh cảm cứu khổ, cứu nạn. Quán Thế Âm là đấng bồ tát mầu nhiệm và linh ứng, một t́nh thương bao la giữa vũ trụ, một tấm ḷng kiên tŕ bền bỉ và một hành động không ngừng nghỉ với tất cả năng lực của mười phương chư Phật Bồ Tát dành cho việc cứu nhân độ thế với tất cả linh hiển mầu nhiệm không qua một khác biệt nào hơn. Quán Thế Âm được nói đến sự linh ứng như một hóa thân chính xác cho tất cả vị Phật với ḷng xót thương vô hạn; nguyên thể của Phật là lư do hiện hữu. Niềm tin và hiến dâng : là thờ phượng Phật và Bồ Tát (faith and devotion: the cults of Buddhas and Bodhisattvas) Được coi như hóa thân của t́nh thương. Ngài là đấng hiển linh độ tŕ đến những ai nguyện cầu hoặc xin được cứu độ với sự che chở, buông tha tội lỗi.

Ở Đông Á; Bồ Tát Quán Thế Âm được thay đổi h́nh tướng (changed sex). Ấy là điều không mấy cụ thể sáng tỏ, rơ ràng và cũng không hiểu xuất hiện trạng thái đó vào lúc nào, thời kỳ nào, dù rằng điều đó đă thay đổi nhưng vẫn thừa nhận như một thực thể của tôn giáo là một sự thu hút mầu nhiệm để sung bái, thờ phượng ‘apotheosis’ qua một nghi thức và h́nh dáng của một thần tính nữ (female deities) đó là Quán Thế Âm Bồ Tát. Theo bác sĩ D.T. Suzuki cho rằng; h́nh ảnh Quán Thế Âm Nam đặc trong vị trí học thuyết kinh điển ‘doctrinal’ là bồ tát. Trong khi đó Quán Thế Âm Nữ được xem là h́nh ảnh ‘phổ thông’ để thờ phượng (Suzuki 1953:341). Một tượng h́nh của cứu độ gần gũi với chúng sinh, đấng cứu chuộc và buông tha. Một ấn tượng hiếm có không trọn vẹn và minh xác để tín phục. Đời nhà Sung; sau Công Nguyên (960-1126) người ta họa tranh Quán Thế Âm qua h́nh ảnh nam có khi qua h́nh tướng nữ. Ở Trung Hoa gọi là Kuan-Yen / Quan Thế. Nhật Bản gọi là Kwannon / Quán Âm. Thời đó dưới tranh vẽ để thờ qua nhân dáng Quán Thế Âm có râu mép và mô tả như tính nam (male). Tuy nhiên; chúng ta  biết rằng ‘ông’ Quán Thế Âm được h́nh thành của một ‘đức bà’ rơ ràng, minh bạch một cách hiển nhiên và bắt đầu từ đó được xem là Phật Bà Quán Thế Âm vào thế kỷ thứ V (Tày 1976:151). H́nh thái đó được xem là đúng hay sao? Vậy th́ Quán Thế Âm hiển nhiên là nam hay nữ. Điều đó được thích nghi từng hoàn cảnh. Hoặc cứ cho rằng Quán Thế Âm Bồ Tát là đấng Bồ Tát Như Nhiên là đầy đủ. Có một nhà thơ Trung Hoa cảm nhận Quán Thế Âm là vô-tính (sexless) :

Pháp thân là Quán Thế

Dù cho thân không là thể

Thể không là thân

Gọi tên ngài là ǵ…?

Tất cả chúng sinh là con Phật :

Đừng bám vào mà để ḷng vào

Người là đấng Bồ Tát mà ta :

Không ảnh không tranh vẫn thờ người.

(vcl phỏng dịch)

 

The Dharma-body of Kuan-Yi

is neither body is not a body

Even the body is not body

What attributes can there be…?

Let it be known to all Buddhists:

Do not cling to form

The Bodhisattva is you:

Not the picture or the image

(Tày 1976:173)

 

Thật như thế; Bồ Tát là đấng Như Nhiên là đấng hằng sống là ḷng đoái thương vô bờ bến những điều đó là hiện hữu của linh cảm (sentient being). Mặc dù, Quán Thế Âm là thể nữ hay nam nhưng được chuyển tải qua nhiều câu chuyện hấp dẫn trong văn chương Phật giáo và để lại nhiều tác phẩm tuyệt thú về nghệ thuật tôn giái thế giới với nhiều thể tính của Quán Thế. Dần dà nh́n Phật Bà Quan Âm là Mẹ của chúng sinh, một Thánh Nữ Đồng Trinh và Chúa hài đồn của Trung Hoa (The Chinese Madona and Child) Phật Bà tọa trên lưng sư tử với cành hoa sen, hoặc tay kia cầm nhành dương liễu hoặc có khi tay kia cầm chiếc b́nh ngọc thon thon chứa đầy thánh thủy Cam-lồ bất diệt. Nhưng riêng các nước Đông Á, Quan Âm là phép mầu huyền diệu dưới y trang trắng, một màu sắc dành riêng cho Quán Thế Âm. Ở Trung Á và Trung Hoa; Phật Bà được thiết kế với 11 cái đầu và ngàn cánh tay trong thế kỷ thứ 7 và thế kỷ thứ 8. Riêng Phật giáo Tây Tạng, Quán Thế Âm lại thêm 4 cánh tay kèm lời tường thuật với ư nhắc nhở là “Quán Thế Nam”, tọa bàn trên đài sen với khăn da nai quấn lên vai trái, cầm trên tay hai nhành dương liễu, tay phải tràng hạt, tay trái nhánh hoa sen, Quán Thế Âm được thể hiện dưới màu trắng tinh khiết. Quán Thế Âm mỉm cười dưới ánh hào quang để tỏ ḷng khoan dung thương xót, một t́nh thương tận tụy được lắng sâu trong sự  dâng hiến để cứu độ như chính ngài là một siêu nhiên, một h́nh thể vượt ra ngoài hiện thực đó là hiện-thực-siêu-nhiên của Quán Thế Âm Bồ Tát.

Yếu điểm của bồ tát là  hiện hữu thực sự, một sự tồn lưu muôn đời hoặc ở đây là cơ sở hoạch định để tu học về Phật; v́ đây là là một hành động của thiện tâm (beneficence) trong phẩm chất của con đường thiêng liêng ? Đó là câu hỏi được nêu ra. Cả hai có hay không! Quan điểm của người Phật tử nh́n Phật là hiện hữu, không thực sự là sinh tồn hay tồn lưu (exist), sinh tồn là có mặt nhưng không hiện hữu. Hiện hữu ở đây là nhận là dấn thân như-phật-tạng! Sự cớ đó đưa tới Trống-Không của hiện hữu tự tại (inherent existence) hoặc nẩy sinh từ trí tuệ. Nhưng rồi, cũng thế thôi! But then, so are we!

Bồ Tát cũng như Quán Thế Âm là đấng thực thể như chúng ta đă hiểu. Dựa trên một cấp độ nào, thực hay không thực chỉ c̣n lại con đường giải thoát chúng sinh và không một ai đă được giải thoát…

The Bodhisattvas like Avalokitévara are as real as we are. On the level of theire unreality there is enlightenment, and no one to be enlightened…

Nhưng đẳng cấp giải thoát thật sự ở nơi chúng ta, nó chỉ có một giới hạn nào đó, một giới hạn vừa đủ th́ đó là trạng thái vừa đủ để được giải thoát. Và; như là không được giải thoát th́ chúng ta cần có tất cả để giúp chúng ta có thể nhận được sự giải thoát đó!

Như đă dẫn; Quán Thế Âm là đấng được nh́n qua sự bi thương, một cái nh́n bi thương thống thiết, một cái nh́n đau cho chúng sinh chính v́ thế ngài phải cứu độ để đưa chúng sinh vào bờ giác ngộ, giải thoát. Một linh cảm sáng thế (sentient creatures).

Nói đế Quán Thế Âm ta không thể quên câu thần chú:

‘Om Mani Padme Hum’

(Úm Ma Ni Bát Di Hồng)

Nghĩa là ; ‘Ngọc Báu Trong Hoa Sen’ ; đă được đọc đi đọc lại hằng triệu lần trong lời cầu khẩn như bánh xe quay không ngưng nghỉ và tiếng chiêng gơ liên hồi ở đền chùa Tây Tạng là xua đuổi mọi thứ qủi ám, những điều xấu không được tồn lưu trong đời con người, lời cầu khẩn trở nên bất tận dưới mọi h́nh thái của Bồ Tát ở mười phương chư Phật. Câu thần chú nầy được xử dụng cả hai giáo phái Phật giáo :

-  Hynayana Buddhism (Phật giáo Tiểu thừa) c̣n được lưu hành ở Tích Lan (Ceylon) Burma (Miến Điện) và Siam (TháiLan) tôn thờ Phật như đấng tối cao của nhân loại, đấng tối thượng đầy ḷng từ bi hỉ xả.

-   Mahayana Buddhism (Phật giáo Đại thừa) th́ trái lại ; mong cầu ở ‘Đấng Giải Thoát’ như vị cứu tinh, một hóa thân toàn năng của vũ trụ đưa tới một nguyên lư cho sự giải thoát.

Bồ Tát là yếu nhân là trụ điểm của nhà Phật, phù hợp cái nh́n của giáo phái Đại Thừa, một tương xứng sẽ trở nên Phật cho kẻ kế tục đời sau được đầu thai ; cái nh́n đó phù hợp cho Phật giáo Đại thừa, đấng cứu chuộc thế gian, người đại diện cho một t́nh thương vô lượng. Chữ Bồ Tát trong Phạn ngữ (Sanskrit) nghĩa là : « Đấng hiện hữu hoặc bản thể là sự giải thoát » ( Whose being or essence is enlightenment).

Phật Giáo Đại Thừa đă được triển khai kinh điển như cái chốt của Phật với vũ trụ, mọi điều rơ ràng minh bạch của các bậc Bồ Tát có trước và sau Phật. Tất cả sự minh bạch đó là toàn lực của siêu nhiên, là đấng biểu thị toàn trí, toàn năng và tối hậu của mọi sự hiện hữu từ khi có Phật ra đời cho đến nay qua kinh kệ cũng như Phật sử để lại.

 

Tóm lại ; Bồ Tát không phải là cuộc đời bỏ quên sau lưng đạo hữu, ngài trở lại bằng những mầu nhiệm tôn kính từ những phạm trù của một sự thật vượt thoát, đó là vượt thoát để đi tới giải thoát chúng sinh Sambhogikakàya ! ./.

 

VƠ CÔNG LIÊM

( sửa đổi và hoàn chỉnh ở Huế.Vn. 31/5/2012)

 

_________________

 

SÁCH ĐỌC :

-          Mahàyàna Buddhism by Paul Williams. Routledge. London&New York 1989.USA.

-          Buddhist Thought in India by E. Conze. London. George Allen&London 1962.UK.

          

trang vơ công liêm

art2all.net