vơ công liêm

 

MATSUO  BASHƠ

NƯỚC NON NGÀN DẶM

                                   I was born to other things.*

                                           (Tennyson-In Memoriam)

 

    Design by Loyal Ronin

                                                   Kanji hieroglyphs calligraphy of 1686 haiku Frog Poem

                                      "furu ike ya / kawazu tobikomu / mizu no oto"

                                                      ("an ancient pond / a frog jumps in / the splash of water")

by Matsuo Basho. 

 

Hơn 300 năm qua, trên bước đường dấn thân của Bashơ, Oku-no-Hosomichi (1), có nghĩa là “Con Đường Hẹp dẫn đến Miền Xa” Narrow Road to a Far Province. Đó là tựa đề tập thơ của Bashơ; tức Ba Tiêu, kẻ rong ruỗi, phiêu bồng để t́m nguồn thi hứng mới cho văn chương nước Nhật ngày nay. Những lời lẽ in sâu vào tâm tưởng, từng bước đi của Ba Tiêu là từng lời thơ tương ngộ, những con đường ṃn, thấp thỏm dài hơn 1200 dặm mà Bashơ đă lê gót khắp các nẻo đường trên đất nước Phù Tang.

Bashơ khởi hành vào năm 1689. Ông đi như để nhận biết, ấy là ông đang sống với tư duy của chính ḿnh, để từ đó Bashơ làm nên những vần thơ tuyệt mỹ, vẽ lại một cảnh trí hài hoà giữa người với thiên nhiên, giữa t́nh người với người. Thơ ông giản dị, giản dị như chính bản thân ông, buông thả để t́m kiếm con đường tự do; đó chính là ḷng chân như của thân tâm vô lượng. Sau 3 thế kỷ “Con Đường Hẹp” đó như lời hứa hẹn với thế gian mà Bashơ đă để lại, đồng thời là người khai sáng thể loại thơ Haiku và tự nó biến dạng như haiku-thiền, mặc dù Bashơ không phải là thiền giả nhưng vô thủy vô chung ông trở thành thiền sư v́ lời thơ của Bashơ là công án (koan) thiền. Haiku là một thứ ngôn ngữ mới mà thế giới ngày nay c̣n nhắc đến như một bộ môn khoa-học-văn-chương-thực-nghiệm của chiều sâu nội tại.

Bashơ sống qua một thời kỳ huyên náo của một xă hội đấu tranh về quyền sống cũng như quyền làm chủ, một trạng huống nhiễu nhương trong sự thay đổi vận mệnh đất nước Nhật thời ấy. Chính cái xáo trộn ngoại tại đă đưa ông đến nỗi buồn cho thân phận mà ông gánh chịu phần nào trong đời; từ đó ông trút hết tâm trạng bi thương vào thơ cũng như thúc bách ông bước  đi để xa lánh trần gian đầy tục lụy nầy…

Có một vài chi tiết về cuộc đời của Matsuo Bashơ : Người ta dự ước Bashơ sinh vào năm 1644 trong một gia đ́nh nông dân thuộc thị xă Ueno về hướng đông nam Tokyo. Cha Ba Tiêu là một kiếm khách Samurai hạng thấp, tên là Matsuo Yozaemon, nhưng hết ḷng chăm sóc, dạy dỗ con cái nhất là khoa ngữ thuật calligraphy. Nhưng bên cạnh đó có nhiều hướng quan hệ khác có thể đưa Bashơ trở thành nông nghiệp. Tuy nhiên Bashơ lại có năng khiếu về văn chương hơn những điều khác. Có lẽ; sự kết thân với bạn đồng môn, con trai của vị lănh chuá ḍng dơi Tơdơ, vin vào đó Bashơ bước lần vào con đường thi văn. Bashơ học hỏi về kỷ năng của thi tứ Kigin và của những nhà thơ lừng danh ở Kyoto, từ đó Bashơ phát tiết sớm trong cuộc đời thi văn của ông. Bashơ chịu ảnh hưởng 2 ḍng tư tưởng lâu đời: thi văn Trung Quốc và học thuyết Lăo Tử qua thuyết vô-vi.

Sau khi sư phụ qua đời, Ba Tiêu quay về Edo (tứcTokyo bây giờ) cư ngụ ở đó để tu luyện về thi tứ, lúc đó ông học về thể loại thơ Haikai ở chùa Kinpukuji.

Những vần thơ đầu tiên trong thể loại Haikai là những gịng thơ phát tiết cực kỳ trong sáng phản ảnh một cách đích thực và cụ thể, nói lên được tính nghệ thuật của thi ca, rồi từ đó biến thành thể loại riêng biệt đó là -Haiku- toàn bài thơ xây dựng qua những câu thơ không vần điệu unrhymed với cách gieo vần: 5 chữ câu đầu, 7 chữ câu giữa và 5 chữ câu cuối; cái loại thơ nầy có tính cách “chớp” được điều ǵ xẩy ra trong hiện trường hay bất luận hoàn cảnh nào, nếu sự việc xẩy đến đúng lúc và xuất thần hay cảm hứng mà thành thơ trong đối tượng của thiên nhiên và con người. Haiku không cần cùng vận, miễn sao trong bài thơ có chữ tượng trưng cho 4 mùa xuân, hạ, thu, đông là một bài thơ đúng nghĩa và hài hoà giữa người với thiên nhiên.

Bashơ cho xuất bản tập thơ đầu tay bằng thể haiku dưới nhiều tên gọi khác nhau và mỗi bài thơ có một dáng dấp riêng biệt và một ư nghiă quan trọng khác. Bashơ làm thơ từ thuở đi học cho đến khi giă từ cuộc đời, ông có 5 tập thơ nổi tiếng ghi lại những chặng đường ông đă đi qua: Du Kư Nắm Xương Phong Trần (1684-1685), Thăm Chùa Kashima, Kư Sự Cái Đẫy, Kư Sự Thăm Làng Sarashima(1687) và kư sự Con Đường Hẹp Dẫn Đến Miền Xa(1689).

Bashơ say đắm với thiên nhiên; núi đồi, sông hồ, cây cỏ và muôn thú, ông đă hoà nhập hồn ông qua sự sống thường ngày, tiếp cận những biến đổi của thời tiết và rung động như bản năng tự có của một nhà thơ, ngay cả sự tha thiết với đời, ông dâng tặng những án thơ hay đến thi bá Lư Bạch như tỏ ḷng mến mộ.

Năm 20 tuổi là những năm Bashơ gặp khủng hoảng về mọi mặt, vật chất lẫn tinh thần, bởi Edo là thành phố vật lộn, tranh chấp. Ấy là điều khó cho một nhà thơ như Bashơ, cuộc sống đó trái ngược với tinh thần của ông. Cái hào nhoáng của đô thị cũng như cái phồn vinh giả tạo, đó là nguyên cớ để Bashơ phải xa lánh, hầu phát huy lănh vực văn chương, nhất là thơ. Ông thành lập được phong trào yêu thơ, đi từ nhóm sinh viên và những thương doanh đỡ đầu cho trường phái thơ của Bashơ. Từ đó thành h́nh một nhóm thơ ở ven sông Sumida vào năm 1680. Với bút danh mới Bashơ. Bởi cái sự yêu chuộng cây chuối (ba-tiêu) mà bạn đồng môn cũng như các đệ tử dựng cho ông một căn lều tranh với những cây chuối xanh um mọc quanh lều, đó cũng là điều tạo nguồn thi hứng cho Bashơ.

 

“Cây chuối trong mùa thu

Gió băo-ta nghe mưa nhỏ giọt

Xuống vũng nước đêm đen”

(Basho nowaki shite/ Tarai ni ame o/ Kiku yo kana)

 

1682 lều chuối của Bashơ cháy để lại đống tro tàn. Ngọn lửa vô t́nh xoá bỏ hết những ǵ trước đây mà ông để dành cho Edo. Ông năo ḷng, sống lất phất như kẻ không nhà. Năm sau đám đệ tử và đồng môn dựng lại một cái lều khác. Ông cảm thấy cuộc đời này không có ǵ là tồn tại, kể cả cuộc đời ông đang sống, nhờ có nghị lực ông vịn vào thơ để đứng dậy những khi cô độc và tuyệt vọng. Điều đó có thể xem như tin được; v́ Bashơ đối đầu với bao t́nh huống xẩy ra trong đời, để rồi đưa ông vào con đường rối loạn tâm thần; Bashơ trở nên nghi ngờ cho chính ḿnh. Cuối cùng ông t́m con đường giải thoát, ông dốc tâm học hỏi,nghiêng cứu Thiền Phật Giáo (Zen Buddhism). Đứng trước thiên nhiên ông cảm nhận được cái lư sự vô biên của vũ trụ. Ông nhận ra được điều đó và thấy ḿnh như cảnh vật giữa tại thế. Đạo Phật đă mở cho ông con đường sáng để t́m thấy được chân như hiện hữu. Đọc thử bài thơ nầy của Bashơ xem ông nhận thức như thế nào giữa vũ trụ quan với nhân sinh quan có tương hợp như ḷng ḿnh :

 

“Hoa anh đào ủ rũ

Thế gian  nầy ủ rũ

Tôi ngồi đối mặt với bùn non trong tay rượu

Và; hạt gạo đen

(Tired of cherry/ Tired of this whole world/ I sit facing muddy sake/ And black rice).

 

Năm 1684, từ hướng tây Edo, Bashơ bắt đầu cuộc hành tŕnh, ṛng ră cả tháng dài, chịu đựng nắng mưa trên những chặng đường gian khổ và mệt nhọc. Nhưng Bashơ không nao núng, tiến bước như thách đố với chính ḿnh, một nghị lực khó ḷng khuất phục kể cả những hiểm nguy. Đó là cơ hội đầu đời trong bước đi để t́m thấy nước non ngàn dặm cho một cuộc viễn hành trên đất quê hương. Bashơ tự măn điều nầy, v́ chính sự chọn lựa như một giải pháp giữa đời và người, vừa thoát tục vừa thoát xác! Bước “giang hồ” của Bashơ thể hiện bằng đôi “chân trần”, thể hiện bằng tấm thân tàn tạ là thể hiện cả một sự chịu đựng vô bờ bến của kẻ phong trần để đi tới chân lư tánh không, bởi chấp nhận của Bashơ có nghĩa là chối bỏ mọi tham dục của trần thế bằng một tâm hồn giản đơn và b́nh dị như thơ ông diễn tả. Đọc những vần thơ cuối đời của Bashơ cho ta nhớ đến Huệ Khả (đệ tử của Phật Bồ-Đề-Đạt-Ma) cũng như Lục tổ Huệ Năng “Bản lai vô nhất vật/ Hà xứ nhạ trần ai” đều có tâm chất giống nhau, nghĩa là phủi sạch bụi trần để đạt tới chân như. Sự dấn thân của Bashơ, nếu nh́n kỷ ta sẽ thấy cái mà Bashơ thực hiện được là Tính Không và Chân Như của Phật giáo. Đó là lối sống của người nghệ sĩ, nhà thơ là một người nghệ sĩ, một đời sống đầy sáng tạo, nếu không có những yếu tố đó chắc chắn Matsuo Bashơ không thể có những vần thơ siêu thoát như vậy. Bashơ chôn giấu cái bí mật hiện hữu đó, chính là cái vô tận tính không nó nằm trong từng bước du hành của Ba Tiêu.

                                               

“Hoa cúc trắng ngần

Nở ngay trước mắt tôi

Không mảy may hạt bụi”

(Shiragiku no/ Me ni tatete miru/ Chiri mo nashi)

 

Bashơ xem những bước đường của ḿnh như một cuộc hành hương về những nơi của đất mẹ  mà mỗi nơi chứa đựng đầy đủ một nền văn minh cổ đại, một tôn giáo truyền thống lâu đời và cả một lịch sử trường kỳ chiến đấu của những anh hùng dân tộc samurai…

Như có điều ǵ báo cho Bashơ biết về số phận của ḿnh. Ông quyết đi lần nữa để được thấy trọn vẹn cái t́nh yêu đất nước trước khi lià đời. Có lẽ chuyến đi lần nầy là lần cuối mà chính ông cũng mong như vậy. Nhưng thời gian đâu có chiều ḷng người; ông phải già, phải yếu như vạn vật khác giữa vũ trụ nầy, ông không nh́n đó làm  tiếc nuối, hay chua xót khi chưa đạt tâm nguyện. Ông nhất định lên đường khởi hành vào mùa đông, nhưng sức khoẻ của ông quá bại hoại, qua lời khuyên môn đệ, ông đành khất lại và đợi tới mùa hè tháng 5/1689. Chuyến đi nầy cùng với đệ tử Sora. Thầy tṛ hành trang trong tay nải; bút nghiên và ít quần áo. Bashơ quyết định lên đường như  một hành trạng phiêu bồng -hyohakusha - Một hành giả không hướng đi “One who moves without direction”. Một hành tŕnh dài đằng đẳng 5 tháng trời, xuyên qua bao con đường, đèo cao, biển cả từ đồng bằng đến miền cao, trực chỉ hướng bắc Edo dọc theo bờ biển, không ngại khó, thực hiện như hành đạo, như dấn thân với đời để thấy được nỗi khổ từ ḿnh mà ra. Hành động nầy cũng hiếm thấy trên đời xưa và nay. Bashơ thành công con đường đi tới của ḿnh.

Những bài thơ Bashơ để lại là những tuyệt tác, trong đó kư sự ”Con Đường Hẹp dẫn đến Miền Xa” (Narrow Road to a Far Province) được coi là tập thơ được nhiều người biết đến và để lại một dấu ấn trong văn học Nhật và thế giới.

“Nếu được coi là linh hồn của người Nhật th́ đó là điều ông đă viết ra” Lời nhận định của Miyazawa Kenji (nhà thơ Phật giáo thế kỷ XX).

Bashơ một nhà thơ lang thang, phiêu bồng, nh́n hành sự đó người ta cho nhà thơ đầy năng động tính. Không! Ba Tiêu trầm ngâm trong bước đi lặng lẽ đó. Động nhưng mà tĩnh cái đó mới là siêu lư tư tưởng. Ông đă thổi vào không gian vũ trụ một sự tĩnh lặng vô biên giữa hai trạng thái hữu và vô để thức tỉnh giữa chủ thể và đối tượng. Đọc bài thơ nổi tiếng của Bashơ mà D.T.Suzuki cho là công án thiền, ngần ấy thôi mà chứa đựng cả vũ trụ vô-vi. Biết rằng giữa haiku và thiền không có dấu hiệu ǵ là dính liền nhau, nhưng trong haiku có sự tương hợp của thiền:

 

“Kià cái ao xưa!

Con cóc nhảy vào

Tiếng nước nghe động”

(The old pond; ah!/ A frog jumping/ The water sound)

 

Bashơ đột phá những thể thơ của ḿnh đến với văn chương, mỗi câu thơ được mài giũa bóng láng. Giọt nước rớt vào nước, tạo cho ta cảm giác của làn sóng vô cùng.

Bashơ raised the form to literature, each poem like a polished stone that. When dropped in water, creates an infinity of ripples. Đọc bài thơ dưới đây để nghe cái tĩnh lặng vô biên của Ba Tiêu diễn tả:

 

“Lắng nghe! con cóc

Nhảy vào trong cơi lặng

Của bờ ao thiên cổ”

(Ngày xuân 1686)

(Listen!a frog/ Jumping into the stillness/ Of an ancient pond!)

 

“Lắng nghe! con cóc nhảy vào trong cơi lặng của bờ ao thiên cổ”. Một câu văn ngắn gọn chứa toàn thể một không gian tỉnh lặng.Thấm nhuần tuệ giác của một chân tu, cao siêu vời vợi nhưng gần gủi vô cùng giữa cảnh giới và sắc giới.Thiền thi nó nằm ở cái chỗ đó! Tựu chung thi tứ của Bashơ đều vẽ lên cái sự huyền nhiệm giữa người và vật, quyện dưới một nhăn quang siêu thoát. Thơ Ba Tiêu hay ở cái giản dị, tầm thường mà đời không t́m thấy. Dù hiện tượng đó xẩy ra trước mắt ḿnh.

  

“Con Đường Hẹp dẫn đến Miền Xa” là tập kư sự mô tả cả dặm trường mà Bashơ đi qua với một tinh thần khí khái, tương như, tư tưởng của Bashơ là lần bước trên lối ṃn để nhận thấy và đi vào cơi như nhiên của thuyết nhà Phật. Bashơ đă t́m ra nơi an trú của ḿnh dù là “hành khất” trên đường đời. Bởi sự đi của Bashơ là nhập định (contemplation) trong trực giác (intuition); nhờ đó mà Bashơ chứng ngộ để đi tới minh mẫn và sáng suốt hơn. Nhưng ở đây; hành trạng của Bashơ có tính vật lư v́ nó đưa tới một hành động thực nghiệm,có nhĩa rằng Bashơ tạo được cuộc sống cho chính ḿnh như một sự chấp nhận của định mệnh. Xem Bashơ như một môn đồ vô thừa nhận, quẳng-đi-xa “far-flung”, nhờ cái nguyên lư,tự sự đó để Bashơ hoàn thành sứ mạng của kẻ du hành và sáng tạo những vần thơ tâm huyết của con người ưa phóng ngoại và thấy được cái vũ trụ ngoại giới trên một quê hương đích thực của ḿnh.

Năm 1694 Bashơ chết. Có một nhà thư pháp lừng danh đề tựa cho tập kư sự “Con Đường Hẹp” Narrow Road như sau: ”Mỗi lần tôi mặt áo mưa vào, ước làm sao dự một cuộc hành tŕnh trong mưa và một lần được ngắm nh́n cái h́nh ảnh đó một cách thoả măn mà mấy khi được nh́n thấy.Một cảm giác tràn ngập. Đúng là một hành tŕnh! Cho một con người”.

Once had my raincoat on,eager to go on a like journey and then content to sit imagining those rare sights what a hoard to feelings. Such a journey! Such a man.

Qua nhiều thế kỷ. Bashơ có nhiều điều làm cho nhiều người phải để ư tới –“bụi đời”, bohemian, nhà thơ điên hay ông thánh sống! Đó là những lư sự xưa nay đời nh́n Bashơ dưới nhiều con mắt khác nhau. Những khi tại thế hay đi về cơi tịnh. Bashơ

không nói, không cười, ông lặng câm để nhận thấy như luật điều im lặng được rao giảng, ngay cả Phật cũng đôi lần nói lên điều nầy, th́ việc ǵ phải nói giữa cái thời ngổn ngang, g̣ đống. Bashơ nhận ra được; đó là thời kỳ mạt pháp của thế gian. Ông một mực giữ được tâm b́nh thường để hành sự. Đó là tinh thần của Thiền tông mà Matsuo Bashơ đă lănh hội được.

 

*

 

Trên con đường hành du người ta thấy một Bashơ buông thả, bất cần đời, tóc tai, áo quần rối bời như một khất sĩ, ông không ngại những lời miệt thị. Không có ǵ là tối cần cho một thi sĩ du hoang như Bashơ. Ba Tiêu cho rằng: cuộc đời vốn là KHÔNG!

Lời dặn cuối cùng của Bashơ đến với đám môn đệ: ”Hướng tới cái đi trước mà đi”. Nói xong; ông nhắm mắt đi về miền miên viễn. Đó là cơ duyên dành cho những vần thơ mà Bashơ đă đi qua và để lại; khác ǵ bóng ma thiên cổ. Ghost-to-be!

 

VƠ CÔNG LIÊM  (mùa phụcsinh 4/2011)

* ”Tôi sanh ra để làm những việc khác” Tennyson- Trong Ghi nhớ.

(1) Oku-No-Hosomichi:Oku nghĩa: tận cùng ở một nơi, sâu hút xa xăm. No: là giới từ. Hosomichi: các tỉnh làng xa ở phương Bắc. Anh Ngữ dịch: Tỉnh thành. Có người dịch: Đường về nội tâm…

SÁCH THAM KHẢO:

-Basho’s Trail (On The Trail Of A Ghost) by:Howard Norman. The Bird Artist&Devotion  2007.USA

-Matsuo Basho by TH Chu Kim Hải.TGXB/PH 2007 USA.

                 

        

trang vơ công liêm

art2all.net